TRƯỜNG ĐÀO TẠO CÁN BỘ LÊ HỒNG PHONG
LỚP BỒI DƯỠNG NGẠCH CHUYÊN VIÊN K3A - 2015
TIỂU LUẬN TỐT NGHIỆP
TÊN ĐỀ TÀI
“Quản lý nhà nước về lĩnh vực đê điều và bài học rút ra trong sự cố sạt lở bờ
tả sông Hồng thuộc xã Võng Xuyên, xã Hát Môn, huyện Phúc Thọ
thành phố Hà Nội”
Họ tên học viên:
Hoàng Thanh Sơn
Chức vụ:
Chuyên viên
Đơn vị công tác:
Phòng Kế hoạch và Đầu tư,
Sở Nông nghiệp và PTNT Hà Nội
Hà Nội tháng 11/2015
0
MỤC LỤC
MỤC LỤC ............................................................................................................. 1
LỜI NÓI ĐẦU ...................................................................................................... 2
I. NỘI DUNG CỦA TÌNH HUỐNG .................................................................... 5
Gia Lâm – Hà Nội mà hậu quả của nó phải khắc phục lâu dài; đặc biệt gần đây
nhất cơn bão cuối năm 2005 đã gây ra vỡ đê ở Xuân Trường – Nam Định; cơn
bão số 9 năm 2009 tàn phá rộng khắp các tỉnh Miền Trung gây hậu quả nghiêm
trọng. Mưa lớn úng ngập xẩy ra trên địa bàn Thành phố Hà Nội gây tê liệt hoạt
động kinh tế xã hội trong nhiều ngày ở khu vực nội thành ... trong khi đó công
tác dự báo đã kịp thời tuy nhiên vẫn xẩy ra các sự cố khó lường của thời tiết đã
gây ra các sự cố công trình nghiêm trọng đe dọa đến an ninh, tính mạng của dân
dân.
Đê điều là công trình đặc biệt quan trọng trong việc đảm bảo an ninh
Quốc gia, phòng chống thiên tai, bảo vệ môi trường sinh thái, bảo đảm đời sống
dân sinh, cũng như sự phát triển lâu dài và bền vững của đất nước.
Hầu hết các tuyến đê sông được hình thành từ rất xa xưa, khi mà trình độ
kỹ thuật và công cụ lao động còn thô sơ. Trải qua nhiều lần tôn cao, áp trúc mà
có qui mô như ngày nay. Có thể nói, con đê là hình ảnh gắn liền với quá trình
hàng ngàn năm lịch sử đấu tranh và phát triển; phản ánh sự lao động sáng tạo,
bền bỉ, quyết liệt chống lại hiểm hoạ diệt vong truyền kiếp “ lũ lụt” của đất nước
ta, dân tộc ta. Vì vậy, công tác quản lý đê điều và phòng chống lụt bão là công
tác được Đảng và Nhà nước hết sức quan tâm và chú trọng.
Trong điều kiện kinh tế đất nước ta nói chung và thủ đô Hà Nội nói riêng
đang trên con đường hội nhập và phát triển công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước cùng với một số ngành kinh tế mũi nhọn khác. Ngành Nông nghiệp và phát
2
triển nông thôn cũng đang trên đà phát triển hiện đại hoá nông nghiệp, đảm bảo
công tác phòng chống lụt bão, bảo vệ an toàn cho tính mạng và tài sản của nhân
dân. Chi cục Đê điều và phòng chống lụt bão Hà Nội đóng góp một phần rất lớn
trong sự phát triển của Ngành Nông nghiệp và phát triển nông thôn Hà Nội, đảm
bảo công tác phòng chống lụt bão, bảo vệ an toàn cho tính mạng và tài sản của
nhân dân .
hình sạt lở bờ tả sông Hồng trên địa bàn xã Võng Xuyên và xã Hát Môn huyện
Phúc Thọ, thành phố Hà Nội. Thông qua sự cố này các đơn vị quản lý nhà nước
nói chung và Sở Nông nghiệp, Chi cục Đê điều và PCLB nói riêng cũng có thêm
bài học sâu sắc về công tác quản lý đê điều chính vì vậy tôi chọn chuyên đề “Xử
lý tình huống và bài học quản lý trong sự cố sạt lở bờ tả sông Hồng trên địa
bàn xã Võng Xuyên và xã Hát Môn huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội” để
làm tiểu luận. Tuy nhiên, do giới hạn về thời gian cũng như năng lực cá nhân,
trong tiểu luận tôi không tránh khỏi sai sót và nhận định mang tính chủ quan.
Kính mong các thầy cô giáo nhiệt tình giúp đỡ và hướng dẫn tôi thêm nữa, để tôi
có thể có tích luỹ kiến thức, kinh nghiệm phục vụ cho công tác sau này.
2. Phương pháp nghiên cứu
Bài tiểu luận chủ yếu sử dụng phương pháp đánh giá, phân tích, so sánh,
lập luận. Trong bài tiểu luận có sử dụng trích dẫn và căn cứ vào pháp luật hiện
hành nên cá nhân tôi nhận thấy sự chọn lọc và tìm thông tin để quyết định xử lý
tình huống đóng góp khá quan trọng trong quá trình xây dựng và xử lý tình
huống.
3. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của Tiểu luận chỉ tập trung xử lý tình huống sạt lở đê
sông Hồng trên địa bàn huyện Phúc Thọ và đề cập đến công tác phối hợp triển
khai giữa các cơ quan, đơn vị liên quan. Các giải pháp đề xuất cũng nằm trogn
khuôn khổ nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài.
4. Bố cục của tiểu luận
Bài tiểu luận gồm có 05 phần chính gồm:
- Nội dung của tình huống
- Phân tích tình huống
- Xử lý tình huống
- Kế hoạch tổ chức thực hiện
- Kết luận và kiến nghị, đề xuất
4
13/8/2014 trong đó có đoạn “ đánh giá sơ bộ tại hiện trường cho thấy tại khu
5
mái sông do mái sông nền đất yêu khi mưa lớn, nước lên to dòng chảy với vận
tốc lớn do lưu lượng tiêu thoát từ phía thượng lưu dồn về đã gây ra sạt lở mái
nghiệm trong gây uy hiếp đến an toàn tính mạng và tài sản của nhân dân sống
dọc bên bờ tả sông Hồng thuộc địa bàn hai xã Võng Xuyên và Hát Môn huyện
Phúc Thọ, ảnh hưởng trực tiếp đến an toàn của đoạn đê, có nguy cơ tiếp tục lan
rộng và xuất hiện trên đoạn đê kế tiếp, và đặc biệt là việc vi phạm hành lang
bảo vệ công trình của các hộ dân đang sinh sống do lấn chiếm trong phạm vị
bảo vệ đê”
- UBND Thành phố có Công điện khẩn số 14/CĐ-UBND ngày 13/8/2014;
và các văn bản chỉ đạo: số 8466/UBND-NN ngày 15/8/2014, số 8625/UBNDNN ngày 19/8/2014, số 8764/UBND-NN ngày 25/8/2014.
- Sở Nông nghiệp và PTNT có các báo cáo số 186/BC-SNN ngày
13/8/2014, số 188/BC-SNN ngày 14/8/2014, số 191/BC-SNN ngày 18/8/2014.
Giao Chi cục Đê điều và PCLB thành lập Tổ công tác, thường trực 24h/24h tại
hiện trường để phối hợp với UBND huyện Phúc Thọ chỉ đạo khắc phục, giải
quyết công việc xử lý sự cố. Hàng ngày có các báo cáo nhanh về tình hình lún
sụt và tiến độ khắc phục sự cố về Sở.
Từ đêm 13/8/2014 công việc giải tỏa được tiến hành. Theo kiểm kê bước
đầu khối lượng cát vàng được tập kết về khu vực khoảng 138.000m3.
Ngày 14/8/2014 ba chiếc máy xúc đã được lấy khỏi hố sụt, cây cối thuộc
khu vực lún sụt đã được giải tỏa, ngày 16/8/2014 hai nhà tạm đã cơ bản giải tỏa
xong.
Ngày 21/8/2014 số lượng cát vàng đã giải tỏa được 125.150m3/
138.150m3 đạt 91%, việc giải tỏa cát vàng đã cơ bản hoàn thành theo yêu cầu.
Riêng cảng Sơn Tây (đơn vị có phép) còn khoảng 10.000 m3 đã san giạt hạ thấp
chiều cao chất tải (còn cao khoảng 2m-3m).
Ngày 25/8/2014 UBND huyện Phúc Thọ đã họp kiểm điểm việc chỉ đạo
bến bãi tập kết, kinh doanh vật liệu không phép, sai phép đặc biệt là tình trạng
tập kết cát vàng với khối lượng và chiều cao chất tải lớn, ảnh hưởng đến thoát
lũ, tiềm ẩn nguy cơ gây lún sụt, sạt lở bờ, bãi sông, đe dọa đến an toàn công
trình đê điều để từ đó có phương hướng, biện pháp xử lý thoả đáng, quy trách
7
nhiệm cụ thể cho các cá nhân có liên quan và điều đặc biệt là lấy đó làm bài học
kinh nghiệm chung cho việc xử lý các tình huống liên quan đến công tác quản lý
đê điều.
Hai là: Đề xuất những biện pháp, giải pháp khả thi mang tính tổng thể
nhằm khắc phục những hạn chế tương tự trong công tác quản lý đê điều.
2. Cơ sở lý luận và pháp lý:
- Luật đê điều ngày 29 tháng 11 năm 2006;
- Nghị định số 113/2007/NĐ-CP ngày 28 tháng 6 năm 2007 của Chính
phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật đê điều;
- Pháp lệnh phòng, chống lụt, bão đã được sửa đổi, bổ sung ngày
24/8/2000;
- Nghị định số 08/2008/NĐ-CP ngày 16/01/2006 quy định chi tiết một số
điều của Pháp lệnh phòng, chống lụt, bão;
- Nghị định số 129/2007/NĐ-CP ngày 02/8/2007 của Chính phủ quy định
xử phạt vi phạm hành chính về đê điều;
- Quyết định số 20/2008/QĐ-UBND ngày 29/9/2008 của UBND Thành
phố Hà Nội về việc quy định chức năng nhiệm vụ quyền hạn và cơ cấu tổ chức
của Sở Nông nghiệp và PTNT Hà Nội.
- Quyết định số 2028/QĐ-UBND ngày 12/11/2008 của UBND Thành phố
Hà Nội về việc quy định Chức năng, nhiệm vụ của Chi cục Đê điều và PCLB Hà
Nội;
- Luật Cán bộ, Công chức số 22/2008/QH12 ngày 13/11/2008;
nhiều biên bản vi phạm và công văn gửi UBND huyện Phúc Thọ, UBND xã
Võng Xuyên, Hát Môn có biện pháp ngăn chặn và giải tỏa những điểm vi phạm
bốc xếp tập kết trung chuyển vật liệu xây dựng trên tuyến đê tả Hồng thuộc địa
bàn hai xã Võng Xuyên và Hát Môn.
Từ năm 2008 đến năm 2011 Hạt Quản lý đê Đan Phượng - Phúc Thọ đã
lập nhiều biên bản vi phạm (16 biên bản) và nhiều báo cáo gửi UBND UBND
huyện Phúc Thọ, UBND xã Võng Xuyên, Hát Môn đề nghị cho di dời và có
biện pháp ngăn chặn giải tỏa vi phạm.
Năm 2012 đã tiến hành lập 14 biên bản vi phạm ở khu vực kè sông Hồng.
9
Năm 2013 đã tiến hành 3 đợt lập biên bản vi phạm vào các ngày 4/3, 27/7,
12/10 với 21 biên bản vi phạm tại khu vực kè sông Hồng - UBND xã Võng
Xuyên, Hát Môn. Hạt đã có 4 báo cáo số 07/BC-HQLĐ ngày 12/3/2013, số
22/BC-HQLĐ ngày 20/4/2013; số 40/BC-HQLĐ ngày 23/7/2013 và số 46/BCHQLĐ ngày 03/8/2013 gửi UBND huyện Phúc Thọ đề nghị xử lý vi phạm.
+ Công tác quản lý nhà nước về đê điều Đối với Chi cục Đê điều và
PCLB:
- Trong năm 2013 Chi cục đã ban hành 25 văn bản liên quan đến vi phạm
và xử lý vi phạm Luật Đê điều và Pháp lệnh Phòng chống lụt bão.
- Chi cục có các văn bản (số 29/CCĐĐ ngày 19/01/2014; số 173/CCĐĐQL ngày 08/4/2014; số 271/CCĐĐ-QL ngày 27/5/2014; số 374/CCĐĐ-QL ngày
30/6/2014) chỉ đạo các Hạt Quản lý đê tăng cường kiểm tra vi phạm và đôn đốc
giải tỏa vi phạm;
Văn bản số 155/CCĐĐ-TTr ngày 05/4/2014 gửi đồng chí Chủ tịch UBND
huyện Phúc Thọ đề nghị xử lý các trường hợp vi phạm về tập kết vật liệu, xây
nhà không phép trên tuyến đê tả Hồng thuộc địa bàn xã Võng Xuyên và xã Hát
Môn.
Văn bản số 419/CCĐĐ-QL ngày 20/7/2014 gửi các Hạt Quản lý đê; các
quận, huyện, thị xã đề nghị tổng hợp và xử lý các vi phạm về Luật Đê điều ngoài
bãi sông. Trong đó nêu rõ việc tập trung giải tỏa các bãi vật liệu không được cấp
- Việc UBND xã Võng Xuyên và xã Hát Môn ký hợp đồng cho thuê toàn
bộ đất bãi sông (bao gồm cả hành lang bảo vệ đê, bãi sông và hành lang bảo vệ
kè) đã tạo điều kiện cho các chủ bãi vi phạm, do đó những biên bản vi phạm và
báo cáo đề nghị chính quyền xã Võng Xuyên và xã Hát Môn giải tỏa của lực
lượng Quản lý đê trở thành không hiệu quả.
* Về chủ quan:
- Hạt Quản lý đê sau khi tiến hành lập biên bản vi phạm đã thiếu kiên
quyết và kịp thời trong việc đôn đốc chính quyền UBND huyện Phúc Thọ, xã
Võng Xuyên, xã Hát Môn trong việc dừng tập trung và chỉ đạo giải tỏa khối
lượng cát sỏi lớn tại khu vực lún sụt.
11
- Việc tập trung khối lượng lớn cát vàng trong khoảng thời gian từ cuối
tháng 7 đến đầu tháng 8/2014 Hạt Quản lý đê Đan Phượng – Phúc Thọ chậm
được phát hiện và khi đã phát hiện chưa kịp thời lập biên bản, báo cáo đôn đốc
chính quyền UBND huyện Phúc Thọ, xã Võng Xuyên, xã Hát Môn có biện pháp
ngăn chặn, giải tỏa và báo cáo Chi cục Đê điều và PCLB, Sở Nông nghiệp và
PTNT.
- Hiện tượng vi phạm Luật Đê điều và Pháp lệnh PCLB thường xảy ra nên
có tư tưởng chủ quan xem thường mà chưa nhận thức được sự nguy hiểm có thể
xảy ra do những hành vi vi phạm gây ra.
- Chi cục Đê điều và PCLB đã có sự phân công địa bàn phụ trách cho các
đồng chí Lãnh đạo Chi cục. Tuy nhiên, do Hạt Quản lý đê Đan Phượng - Phúc
Thọ chưa báo cáo kịp thời và thời gian giành cho việc kiểm tra của Lãnh đạo
Chi cục và phòng Quản lý chuyên môn còn hạn chế, do đó đã phát hiện chậm
việc tập kết quá lớn khối lượng cát vàng tại bãi sông.
- Cán bộ được giao phụ trách đoạn còn trẻ, chưa có kinh nghiệm làm việc
với chính quyền địa phương.
dân khai thác cát ở các đoạn đê khác có thể làm theo. Điều này sẽ rất nguy hiểm,
bởi việc khai thác cát trái phép tràn lan, chất tải không đúng quy định, không
đúng quy hoạch, đúng quy trình khai thác cát sẽ gây các hiện xói thực bờ sông,
gây sạt trượt.
- Niềm tin của nhân dân địa phương đối với chính sách pháp luật có thể bị
ảnh hưởng, cho rằng các cơ quan nhà nước đã cấp phép khai thác cát cho các hộ,
và cơ quản quản lý nhà nước về đê điều và chính quyền địa phương làm ngơ,
bao che dung túng không triệt để xử lý sai phạm dẫn đên hậu qủa nghiêm trọng.
Tóm lại, có thể thấy rằng sự việc khai thác cát của các hộ dân trên đoạn đê
xảy ra sự cố tuy đơn giản nhưng đó để lại những người tham gia trong công tác
quản lý nhà nước về đê điều nhiều suy nghĩ. Hiện tượng vi phạm Luật Đê điều
và Pháp lệnh PCLB thường xảy ra nên có tư tưởng chủ quan xem thường mà
chưa nhận thức được sự nguy hiểm có thể xảy ra do những hành vi vi phạm gây
ra. Các cơ quản Quản lý đê điều cấp trên thì quan liêu chưa thường xuyên kiểm
13
tra nắm bắt cụ thể tình hình vi phạm tại các địa bàn để đề nghị chính quyền cơ
sở và các cơ quan chức năng giải tỏa vi phạm.
III. XỬ LÝ TÌNH HUỐNG
1. Mục tiêu:
Một là: Giải quyết sự việc, khắc phục sự cố nhằm đảm bảo thực hiện
đúng các nguyên tắc, quy định hiện hành trong công tác quản lý đê điều tại khu
vực các xã Võng Xuyên xã Hát Môn huyện Phúc Thọ, xác định phương hướng,
biện pháp xử lý thoả đáng, quy trách nhiệm cụ thể cho các cá nhân có liên quan
và điều đặc biệt là lấy đó làm bài học kinh nghiệm chung cho việc xử lý các tình
huống liên quan đến công tác quản lý đê điều, có biện pháp dự phòng các tình
huống tương tự.
Hai là: Đề xuất những biện pháp, giải pháp khả thi mang tính tổng thể
nhằm hạn chế những tình huống tương tự trong công tác quản lý đê điều trên địa
Xuyên và Hát Môn là đúng và cần thiết nhưng phải căn cứ vào nguyên nhân sạt
lở bãi sông là do việc tập kết chất tải quá lớn, máy móc phương tiện thi công hút
cát của các hộ khai thác hoạt động đã gây nên chấn động mạnh dẫn đến sạt lở
khu vực, do đó trong quá trình di dời toàn bộ số cát tập kết ra khỏi bãi sông phải
triệt để sử dụng thiết bị thi công thủ công, thiết bị nhẹ di chuyển số cát ra khỏi
khu vực, tránh chất tải và rung động trong khu vực;
Việc đình chỉ việc khai thác cát đối với các hộ khai thác cát là cần thiết.
Tuy nhiên việc tịch thu phương tiện vi phạm cần phải xem xét lại tình huống
thực tế tại địa phương. Việc khai thác cát của các hộ được UBND xã Võng
Xuyên và Hát Môn ký hợp đồng cho thuê toàn bộ đất bãi sông (bao gồm cả
hành lang bảo vệ đê, bãi sông và hành lang bảo vệ kè) và các hộ khai thác vẫn
thực hiện đúng hợp đồng với UBND xã Thượng Cốc; và đúng với tinh thần của
Quyết định số 63/1999/QĐ-UBND ngày 22/01/1999 của UBND Tỉnh Hà Tây.
Đồng thời với địa phương thuần nông, các hộ khai thác cát đó đầu tư thiết bị xe
đào rất tốn kém, bản thân các hộ không sai chỉ chưa nhận thức được pháp luật về
an toàn đê điều (mà trách nhiệm thuộc về UBND xã Võng Xuyên và Hát Môn),
nếu xử lý vi phạm hành chính và tịch thu thiết bị vi phạm là chưa hợp lý, đánh
giá nguyên nhân và buộc các hộ dân phải đền bù khắc phục thiệt hại là chưa thấu
15
tình đạt lý và không khả thi. Mặt khác công tác phòng chống lụt bão và khắc
phục sự cố là cần thiết và phải làm ngay nên việc chờ đợi sự phân xử đúng sai
rồi mới có biện pháp công trình khắc phục sự cố là không hợp lý và không khả
thi. Trách nhiệm để xảy ra sự cố lỗi phần nhiều là từ khâu quản lý, việc đổ lỗi
cho các hộ dân để tránh trách nhiệm là không phù hợp với quy định cũng như
chức năng nhiệm vụ về quản lý nhà nước của các cơ quan có liên quan, cụ thể:
- Chức năng, nhiệm vụ của Chi cục Đê điều và PCLB Hà Nội được quy
định tại Quyết định số 2028/QĐ-UBND ngày 12/11/2008 của UBND Thành
phố, cụ thể:
đê điều trong phạm vi địa phương theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo.
+ Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm: Ngăn chặn các hành vi vi phạm
pháp luật về đê điều; Xử lý hành vi vi phạm pháp luật về đê điều theo thẩm
quyền, trường hợp vượt quá thẩm quyền phải báo cáo với cơ quan nhà nước có
thẩm quyền để xử lý.
- Về quản lý hoạt động khoáng sản trên địa bàn Thành phố được quy định
tại Quyết định số 115/2009/QĐ-UBND ngày 16/11/2009 của UBND thành phố
Hà Nội.
Vậy phương án 1 là không có tính khả thi cao và thiếu tính răn đe với các
đối tượng vi phạm;
+ Với phương án 2: Phương án 2 đã khắc phục được những nhược điểm
của phương án 1, chỉ định rõ ràng biện pháp khắc phục, xử lý sự cố công trình,
di dời toàn bộ cát tập kết trên bãi sông khu vực sạt lở và dọc bãi sông bằng các
phương tiện thủ công, tránh rung động đê đảm bảo an toàn cho đê không tiếp tục
bị sạt lở. Triển khai công tác khảo sát (thuê đơn vị tư vấn có đủ điều kiện năng
lực) thiết kế đề xuất biện pháp xử lý sự cố không cho bãi sông tiếp tục sạt lở, có
phương án phòng chống sạt trượt cho đoạn đê khi mực nước sông còn diễn biến
rất phức tạp, đề xuất với UBND Thành phố bố trí được nguồn vốn và cho phép
thực hiện cơ chế xử lý khẩn cấp đối với đoạn đê xảy ra sự cố.
Nghiêm túc kiểm điểm các tổ chức kiểm điểm làm rõ trách nhiệm của Sở,
của UBND Thị xã Sơn Tây, của các cơ quan đơn vị trực thuộc, của cá nhân được
17
giao nhiệm vụ phụ trách và của các tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm dẫn đến
sự cố sạt lở nghiêm trọng bờ bãi sông thuộc xã Võng Xuyên và Hát Môn huyện
Phúc Thọ, đề xuất hình thức xử lý theo đúng quy định của pháp luật nhằm mang
tính chất răn đe và nâng cao năng lực, nhận thức, trách nhiệm cho cán bộ quản lý
làm việc tại các cơ quan quản lý nhà nước. Qua sự việc này cho thấy, cán bộ của
115/2009/QĐ-UBND ngày 16/11/2009 của UBND thành phố Hà Nội.
+ Đẩy mạnh công tác tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức của cán bộ
các xã, phường và người dân sống ven đê về công tác bảo vệ đê điều, hiểu và tự
giác chấp hành.
Như vậy phương án thứ 2 này là phương án tối ưu.
IV. KẾ HOẠCH TỔ CHỨC THỰC HIỆN
1. Mục tiêu:
Một là: Giải quyết sự việc, khắc phục sự cố nhằm đảm bảo thực hiện
đúng các nguyên tắc, quy định hiện hành trong công tác quản lý đê điều tại khu
vực kè Sơn Tây, xác định phương hướng, biện pháp xử lý thoả đáng, quy trách
nhiệm cụ thể cho các cá nhân có liên quan và điều đặc biệt là lấy đó làm bài học
kinh nghiệm chung cho việc xử lý các tình huống liên quan đến công tác quản lý
đê điều, có biện pháp dự phòng các tình huống tương tự.
Hai là: Đề xuất những biện pháp, giải pháp khả thi mang tính tổng thể
nhằm hạn chế những tình huống tương tự trong công tác quản lý đê điều trên địa
bàn toàn Thành phố.
2. Kế hoạch thực hiện:
STT
Nội dung
Thời gian
thực hiện
Tổ chức, cá nhân tham gia
1
Kiểm tra thực tế hiện
trường, thị sát tình
Địa điểm
Kè Tả Hồng
khu vực xã
Võng Xuyên,
Hát Môn,
huyện Phúc
Thọ
Kè Tả Hồng
khu vực xã
Võng Xuyên,
Hát Môn,
huyện Phúc
Thọ
Sở Nông
khảo sát, lập phương
án xử lý sự cố.
14/8/2014
- Sở NN và PTNT Hà Nội và
các đơn vị quản lý đê điều.
Cán bộ có sai phạm nhận
thức được mức độ vi phạm,
hậu quả, trách nhiệm cá nhân
và tự nhận hình thức, mức độ
kỷ luật phù hợp
Cán bộ, nhân viên và cơ
quan quản lý biết.
Chủ đầu tư và các đơn vị có
liên quan
8
Họp tổng kết, công bố
quyết định xử lý vi
phạm của cơ quan cấp
trên và rút ra bài học
kinh nghiệm trong
công tác quản lý về đê
điều
27/8/2014
Sở Nông nghiệp và PTNT Hà
Nội và các đơn vị quản lý đê
điều
15/8 đến
Đơn vị thi công và chủ đầu tư
21/8/2014
nghiệp và
PTNT Hà Nội
Sở NN và
PTNT Hà Nội
UBND Thành
nguyên nhân sai phạm, mà ở đây sai phạm mang tính chất hệ thống, tính chủ
quan của các cấp, ngành quản lý nhà nước, cụ thể là từ cơ quan quản lý về đê
điều, cơ quan chính quyền ở địa phương, các cán bộ, cá nhân được giao nhiệm
vụ phụ trách dẫn đến hậu quả về mặt kinh tế và niềm tin trong nhân dân.
Các quận, huyện và các ngành chức năng chưa thực sự vào cuộc, thiếu sâu
sát, quyết liệt trong xử lý; còn tình trạng đẩy đưa né tránh trách nhiệm trong
kiểm tra xử lý. Chưa có sự kết hợp chặt chẽ giữa cơ quan quản lý và chính
quyền các cấp dẫn đến tình trạng xử lý còn nhiều hạn chế, kết quả thấp, tính răn
đe giáo dục không cao.
Chưa có quy hoạch bến bãi tập kết, trung chuyển, khai thác vật liệu trên
địa bàn Thành phố. Còn có sự chồng chéo trong công tác quản lý: ngành Tài
nguyên môi trường cấp phép khai thác, mở bãi tập kết, trung chuyển vật liệu;
ngành Giao thông cấp phép mở bến thủy, trục vớt, nạo vét luồng lạch; ngành
Nông nghiệp và PTNT quản lý về thoát lũ và an toàn công trình đê điều….
Xử phát hành chính trong lĩnh vực đê điều chưa có chế tài đủ mạnh buộc
các chủ hộ vi phạm phải chấp hành, vì vậy tính răn đê không cao; trong khi đó
rất khó để lập hồ sơ truy cứu trách nhiệm hình sự về lĩnh vực đê điều. Chưa có
sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan liên quan: Nông nghiệp và PTNT, Giao
thông, Công an, Tư pháp…
2. Kiến nghị- đề xuất:
- Đẩy mạnh công tác tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức của cán bộ các
xã, phường và người dân sống ven đê về công tác bảo vệ đê điều, hiểu và tự giác
chấp hành.
- Tăng cường kiểm tra, phát hiện và xử lý kịp thời các vụ vi phạm.
- Gắn trách nhiệm của cơ quan quản lý và chính quyền địa phương trong
việc để xảy ra tình trạng vi phạm.
- Kiên quyết trong xử lý và thực hiện theo đúng quy định của pháp luật.
Đặc biệt các trường hợp cố tình vi phạm, tái lấn chiếm; tập trung xử lý ở những
vị trí trọng điểm, xung yếu, ảnh hưởng đến an toàn đê điều.
về xử lý kỷ luật đối với công chức;
10. Nghị định số 35/2005/NĐ-CP ngày 17/3/2005 về việc xử lý kỷ luật
cán bộ, công chức;
23