BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
TRẦN PHAN LONG
HOÀN THIỆN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ
LĨNH VỰC DU LỊCH BIỂN TẠI THỊ XÃ
CỬA LÒ
LUẬN VĂN THẠC SĨ Khánh Hòa – 2013
i
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
trên bất kỳ phương tiện thông tin nào. Mọi sự giúp đỡ để hoàn thành đề tài nghiên cứu
này đã được cảm ơn đầy đủ, các thông tin trích dẫn trong nghiên cứu này đều đã được
ghi rõ nguồn gốc.
Tác giả luận văn Trần Phan Long
ii
LỜI CẢM ƠN
Với tất cả sự chân thành, tôi xin bày tỏ lời cảm ơn đến PGS.TS. Nguyễn Thị
Kim Anh người cô hướng dẫn khoa học đã dành thời gian và tâm huyết hướng dẫn tôi
một cách nhiệt tình giúp tôi hoàn thành luận văn này một cách tốt nhất.
Trong quá trình nghiên cứu luận văn, tôi đã tham khảo, học tập kinh nghiệm từ
các kết quả nghiên cứu liên quan, các báo cáo, tạp chí chuyên ngành của nhiều tác giả
trường Đại học, các tổ chức nghiên cứu…
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu, Khoa Kinh tế, Khoa đào tạo sau đại
học, Trường Đại học Nha Trang, cùng toàn thể các thầy cô giáo đã tận tình truyền đạt
những kiến thức quý báu, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu.
Tuy đã có nhiều cố gắng và nghiêm túc trong quá trình nghiên cứu, nhưng chắc
chắn luận văn còn nhiều thiếu sót và hạn chế. Tôi kính mong Quý thầy cô, các chuyên
gia, bạn bè đồng nghiệp và tất cả những ai quan tâm đến đề tài tiếp tục góp ý, giúp đỡ
để luận văn ngày càng được hoàn thiện hơn.
Một lần nữa, xin trân trọng cảm ơn !
Tác giả luận văn
Trần Phan Long
2.1.1. Đặc điểm tự nhiên của Thị xã Cửa lò 30
2.1.2. Hoạt động du lịch biển tại Thị xã Cửa Lò 39
2.2. Thực trạng quản lý nhà nước về du lịch biển tại thị xã Cửa Lò 47
2.2.1 Quản lý nhà nước đối với hoạt động du lịch biển tại Thị xã Cửa Lò 47
2.2.2. Thực trạng ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản pháp luật về du lịch biển54
iv
2.2.3. Về sử dụng, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực du lịch - du lịch biển Thị xã
Cửa Lò 60
2.2.4. Về quy hoạch, xây dựng và thu hút đầu tư trong lĩnh vực du lịch biển 65
2.2.5. Về xúc tiến, tuyên truyền, quảng bá du lịch biển 68
2.2.6. Về công tác nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ trong lĩnh vực du lịch
biển 70
2.2.7. Công tác quản lý nhà nước về vệ sinh, môi trường, an toàn thực phẩm, đảm bảo
an ninh, an toàn cho du khách 70
2.2.8. Quản lý đối với thu phí, lệ phí, giá hàng hóa dịch vụ ven biển 72
2.3. Đánh giá công tác quản lý nhà nước đối với du lịch biển tại thị xã Cửa Lò 73
2.3.1. Những kết quả đạt được 73
2.3.2. Những tồn tại, bất cập 74
2.4. Thách thức đặt ra đối với du lịch biển và công tác quản lý nhà nước đối với du lịch biển
tại thị xã Cửa Lò 76
2.5. Nguyên nhân của những bất cập 77
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 79
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP CƠ BẢN NHẰM HOÀN THIỆN
QLNN VỀ DU LỊCH BIỂN TẠI THỊ XÃ CỬA LÒ 80
3.1. Phương hướng phát triển du lịch biển và công tác quản lý nhà nước đối với du lịch biển
tại thị xã Cửa Lò 80
3.1.1. Quan điểm phát triển du lịch biển Cửa Lò 80
3.1.2. Định hướng phát triển du lịch biển Cửa Lò 80
3.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước để phát triển du lịch biển tại Thị Xã Cửa
NỘI DUNG
1 BTC Ban tổ chức
2 BVHTT-DL Bộ văn hóa thể thao du lịch
3 CNH-HĐH Công nghiệp hóa hiện đại hóa
4 HĐND Hội đồng nhân dân
5 KDL Khu du lịch
6 KT-VH Kinh tế - Văn hóa
7 KT-XH Kinh tế xã hội
8 NĐCP Nghị định chính phủ
9 NH Ngân hàng
10 NHNN&PTNT Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn
11 PTTH Phát thanh truyền hình
12 QLNN Quản lý nhà nước
13 TNHH Trách nhiệm hữu hạn
14 TTLT-BCA Thông tư liên tịch Bộ công an
15 UBND Uỷ ban nhân dân
vii
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 : Một số chỉ tiêu kinh tế thị xã Cửa Lò giai đoạn 2010 – 2012 31
Bảng 2.2: Tỷ trọng GDP Dịch vụ - du lịch trong cơ cấu KT-XH của thị xã 39
Bảng 2.3: Doanh thu từ hoạt động du lịch 41
Bảng 2.4: Thống kê cơ sở lưu trú trên địa bàn từ năm 2006 – 2013 42
Bảng 2.5: Phân loại tiêu chuẩn lưu trú trên địa bàn năm 2013 43
Bảng 2.4: Quy trình nội dung cơ bản nâng cao chất lượng nguồn nhân lực 63
Bảng 3.1: Dự báo một số chỉ tiêu ngành du lịch đến 2020 81
cũng như nhiều điểm du lịch hấp dẫn. Cửa Lò là nơi thích hợp cho du lịch văn hóa và
du lịch phiêu lưu, cũng như du lịch sở thích đặc biệt.Về lâu dài Cửa Lò có thể là một
trong những điểm du lịch thu hút đông khách nhất khi đến thăm Việt Nam.
Ranh giới địa lý Thị xã được mở rộng, hình thành thêm một số xã, phường dẫn
đến có sự điều chỉnh địa giới, dân cư và phân cấp lại công tác quản lý đất đai, tài
nguyên trong đó có tài nguyên du lịch nên cần phải có sự điều chỉnh nhất định để phát
triển du lịch biển.
Trong những năm qua, du lịch biển Cửa Lò đã đạt được nhiều kết quả đáng
khích lệ. Lượng khách du lịch đến biển Cửa Lò ngày càng tăng, nhiều dự án đầu tư
phát triển du lịch được triển khai xây dựng. Cùng với sự phát triển chung của du lịch
Nghệ An, du lịch biển Cửa Lò đã chuyển biến ngày một mạnh mẽ với những bước
tiến quan trọng cả về lượng và chất.
Tuy nhiên trong quá trình phát triển, bên cạnh những thành quả đã đạt được, du
lịch biển Cửa Lò vẫn còn nhiều khiếm khuyết cần được khắc phục sớm. Đó là hệ
thống văn bản, cơ chế chính sách còn thiếu, cơ sở vật chất phục vụ du lịch biển còn
yếu và thiếu, sản phẩm du lịch còn nghèo nàn và đơn điệu, chất lượng phục vụ du lịch
chưa cao, số lượng khách quốc tế đến biển Cửa Lò chiếm tỷ trọng thấp, đội ngũ cán
bộ công nhân viên làm công tác du lịch biển chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển du
lịch trong tình hình mới. Một số yếu tố đã xuất hiện có ảnh hưởng đến sự phát triển
bền vững của du lịch biển Cửa Lò và qua đó tác động đến việc thực hiện quy hoạch
phát triển du lịch tỉnh Nghệ An.
Đất nước đang chuyển mình để hội nhập với thế giới, sự đòi hỏi và phát triển
không ngừng của xu thế hợp tác, hữu nghị tạo ra cơ hội lớn để các quốc gia, vùng lãnh
2
thổ cùng người dân xích lại gần nhau, tăng cường giao lưu, học hỏi. Cùng với đời
sống vật chất và nhu cầu nghỉ ngơi ngày càng tăng cao, sự phát triển khoa học kỹ
thuật và công nghệ thông tin, du lịch có điều kiện thuận lợi cho sự phát triển. Không
những thế, sự phát triển của du lịch giờ đây đã trở thành một đòi hỏi, một tất yếu trong
quá trình chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng của ngành dịch vụ, công nghiệp, giảm
* Mục tiêu chung:
- Nghiên cứu hoàn thiện quản lý nhà nước về lĩnh vực du lịch biển tại Thị xã
Cửa Lò.
* Mục tiêu cụ thể:
- Phân tích những kết quả, những tồn tại bất cập và những thách thức đặt ra đối
với du lịch biển và công tác quản lý nhà nước đối với du lịch biển tại Thị xã Cửa Lò.
- Đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước
nhằm phát triển hơn nữa ngành du lịch biển của thị xã và đưa biển Cửa Lò trở thành
một điểm du lịch lớn của cả nước.
4. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp quan sát - Phương pháp phân tích.
- Phương pháp tổng hợp. - Phương pháp thống kê và khái quát
5. Đóng góp của luận văn
Luận văn cung cấp cơ sở lý luận về loại hình du lịch biển. Đồng thời, xem xét,
phân tích và đánh giá đúng thực trạng của du lịch biển Cửa Lò những năm qua và vai
trò QLNN cho sự phát triển du lịch của Cửa Lò. Trên cơ sở đó đề xuất một số định
hướng và giải pháp chủ yếu về QLNN nhằm phát triển hơn nữa ngành du lịch biển của
thị xã trong những năm tới.
6. Bố cục của luận văn
- Với mục tiêu nghiên cứu đã đề ra, luận văn ngoài phần mở đầu và phần kết
luận, nội dung luận văn được cấu trúc thành 3 chương như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận về du lịch biển và quản lý nhà nước về du lịch biển
Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước về lĩnh vực du lịch biển tại Thị xã Cửa
Lò.
Chương 3: Phương hướng và giải pháp cơ bản nhằm hoàn thiện quản lý nhà
nước về lĩnh vực du lịch biển tại Thị xã Cửa Lò
4
ngành du lịch, là hoạt động liên quan đến chuyến đi của con người nhằm tận hưởng
5
khí hậu mát mẻ, dễ chịu của cảnh quan biển, ngoài ra còn đáp ứng được nhu cầu giải trí,
thể thao, nghỉ dưỡng và tham quan du lịch nơi con người đến hưởng thụ ở biển. [3].
Du lịch biển là ngành dịch vụ tổng hợp, cùng với du lịch có chung mục đích là
phục vụ nhu cầu của du khách, hoạt động kinh doanh với mục đích là thu lợi nhuận.
1.1.1.3. Khách du lịch
Đây là khái niệm có nhiều quan niệm đưa ra, khách du lịch là đối tượng trực
tiếp tham gia vào quá trình hướng dẫn du lịch của hướng dẫn viên, là đối tượng của
các đơn vị phục vụ và kinh doanh du lịch.
Nhà kinh tế học người ÁO Lozep Stander định nghĩa:“ Khách Du lịch là hành
khách xa hoa, ở lại theo ý thích ngoài nơi cư trú thường xuyên nhằm thỏa mãn những
nhu cầu cao cấp mà không theo đuổi mục đích kinh tế”.[23].
Theo Kripendort đưa ra cách nhìn nhận chủ quan phiến diện của mình về khách du lịch
như sau: “là những kẻ nực cười, ngốc ngếch ít học, những nhà giàu có quen thói bóc
lột và vô cảm với môi trường” [23].
Khách du lịch là đối tượng cung ứng của ngành du lịch. Khách du lịch có thể là
một tổ chức, một nhóm người, một cá nhân tham gia vào hoạt động du lịch với mục
đích thỏa mãn nhu cầu vui chơi, tham gia, khám phá và giải trí của mình. Khách du
lịch gồm khách du lịch nội địa và khách du lịch quốc tế.
Luật du lịch quy định: “Khách du lịch là người đi du lịch hoặc kết hợp đi du
lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập ở nơi
đến”.[22]
1.1.1.4. Sản phẩm du lịch
Sản phẩm du lịch bao gồm các dịch vụ, hàng hóa cung cấp cho du khách. Cũng
như các ngành kinh doanh dịch vụ khác, sản phẩm của du lịch là sản phẩm đặc biệt,
vừa bao gồm các sản phẩm có tính chất vô hình, không định lượng được (chiếm 80-
90% giá trị sản phẩm du lịch), vừa bao gồm các sản phẩm hiện vật, hữu hình như các
sản phẩm thông thường khác.
xuất và tiêu dùng các dịch vụ du lịch là gần như trùng nhau về không gian và thời
gian. Một khách sạn nếu mỗi đêm có những buồng không có khách thuê có nghĩa là
khách sạn đã bị ế số lượng buồng trống đó. Người ta không thể bán bù trong đêm khác
được. Đặc điểm này của sản phẩm du lịch đòi hỏi các doanh nghiệp luôn tìm mọi biện
pháp để làm tăng tối đa sản phẩm dịch vụ được bán ra mỗi ngày.
- Sản phẩm du lịch có tính cao cấp: Khách du lịch là những người có khả năng
thanh toán và khả năng chi trả cao hơn mức tiêu dùng thông thường. Vì thế yêu cầu
đòi hỏi của họ về chất lượng sản phẩm mà họ bỏ tiền ra mua trong thời gian đi du lịch
là rất cao. Các doanh nghiệp du lịch không có sự lụa chọn nào khác ngoài phải việc
7
cung cấp những sản phẩm dịch vụ có chất lượng cao nếu muốn bán sản phẩm của
mình cho đối tượng khách hàng khó tính này. Hay nói cách khác, các doanh nghiệp du
lịch muốn tồn tại và phát triển thì chỉ có thể dựa trên cơ sở luôn đảm bảo cung cấp
những sản phẩm có chất lượng cao mà thôi.
- Sản phẩm du lịch có tính tổng hợp cao: Tính tổng hợp này xuất phát từ đặc
điểm nhu cầu của khách du lịch. Vì thế, trong cơ cấu của sản phẩm du lịch có nhiều
chủng loại dịch vụ khác nhau. Các doanh nghiệp muốn tăng tính hấp dẫn của sản
phẩm của mình đối với khách hàng mục tiêu và tăng khả năng cạnh tranh của mình
trên thị trường phải tìm mọi cách để tăng tính khác biệt cho sản phẩm của mình thông
qua các dịch vụ bổ sung không bắt buộc.
- Sản phẩm dịch vụ của doanh nghiệp du lịch chỉ được thực hiện với sự tham
gia trực tiếp của khách hàng: Sự hiện diện trực tiếp của khách hàng trong thời gian
cung cấp dịch vụ đã buộc các doanh nghiệp du lịch phải tìm mọi cách để kéo khách
hàng (từ nhiều nơi khác nhau) đến với doanh nghiệp nhằm đạt được mục tiêu kinh
doanh. Ngoài ra những người làm công tác marketing còn phải đứng trên quan điểm
của người sử dụng dịch vụ từ khi thiết kế, xây dựng bố trí cũng như mua sắm các
trang thiết bị và lựa chọn hình thức cung cấp dịch vụ tới khách hàng.
- Sản phẩm dịch vụ du lịch chỉ được thực hiện trong những điều kiện cơ sở vật
chất kỹ thuật nhất định: Để có đủ điều kiện kinh doanh, các doanh nghiệp du lịch phải
- An ninh chính trị, an toàn xã hội:
Để du lịch không ngừng phát triển và trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của đất
nước, sự phối hợp chặt chẽ giữa quốc phòng và an ninh với các hoạt động du lịch cùng
với các ngành kinh tế khác có ý nghĩa cực kỳ quan trọng. Sự đảm bảo vững chắc về
quốc phòng, an ninh tạo môi trường ổn định cho đất nước và khách tới tham quan. Một
thế giới bất ổn về chính trị và xung đột về sắc tộc, tôn giáo làm ảnh hưởng đến sự phát
triển du lịch gây nên tâm lý hoài nghi, sợ hãi cho du khách. Bên cạnh đó những cuộc
nội chiến, những cuộc chiến tranh xâm lược với trang thiết bị lợi hại phá hoại tài
nguyên du lịch, các công trình kiến trúc do loài người sáng tạo nên. Năm 2000 tại hòn
đảo BaLi (Indonexia) nơi hấp dẫn khách du lịch nhiều nước trên thế giới bị đánh bom
khủng bố gây nên nỗi kinh hoàng cho du khách. Năm 2003 bệnh SAT ở Trung Quốc,
dịch cúm gà ở Việt Nam gây nên những tổn thất lớn cho du lịch Trung Quốc và Việt
Nam và gián tiếp ảnh hưởng đến du lịch Thế giới.
Thiên tai cũng có tác động xấu đến hoạt động du lịch. Nhật Bản là một đất nước
giàu và đẹp nhưng thường xuyên phải hứng chịu những trận động đất gây khó khăn
cho sự phát triển du lịch, có chăng chỉ phát triển du lịch bị động. Vào những ngày cuối
năm 2004, một trận sóng thần lớn nhất từ trước đến nay xảy ra ở Đông Nam Á, Nam Á
9
gây thiệt hại lớn về người và của ảnh hưởng đến sự phát triển du lịch. Điều đáng nói là
sóng thần làm nhiều người thiệt mạng, cơ sở vật chất phục vụ khách du lịch bị phá hủy
nặng nề.
Từ những ví dụ trên cho chúng ta thấy được tầm quan trọng của an ninh chính
trị, an toàn xã hội cho khách du lịch, và là nhân tố quan trọng tạo nên sự thành bại của
du lịch nói chung và du lịch biển nói riêng
- Kinh tế
Một trong những yếu tố quan trọng có ảnh hưởng đến sự phát sinh phát triển
của du lịch là điều kiện kinh tế chung. Nền kinh tế đang phát triển là tiền đề cho sự ra
đời và phát triển của ngành kinh tế du lịch.
Sự phát triển của du lịch phụ thuộc vào các thành quả của các ngành kinh tế
xin, cướp giật, ép khách mua hàng.
Việc phát triển du lịch phải mang dấu ấn của con người, tức là con người thông
qua trí tuệ cua mình đưa ra những biện pháp và cách thức để phát triển du lịch. Một
quốc gia giàu có về tài nguyên du lịch nhưng nếu không biết sử dụng trí óc của con
người để phát huy hết giá trị tài nguyên thì coi như “muối bỏ bể”
- Tiến bộ khoa học công nghệ và cơ sở vật chất kỹ thuật:
Tiến bộ khoa học kỹ thuật, đặc biệt là giao thông vận tải, thông tin liên lạc, có
ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của du lịch biển, nhất là du lịch biển quốc tế.
Trong những năm gần đây, giao thông vận tải ngày càng phát triển về số lượng và chất
lượng theo hướng: tốc độ vận chuyển nhanh hơn, an toàn hơn, đa dạng hơn, mức giá
thanh toán linh hoạt hơn, đặc biệt là sự phối hợp giữa các tuyến, giữa các hình thức
vận tải khác nhau. Chính những tiến bộ đó đã thúc đẩy du lịch biển phát triển thông
qua việc tiết kiệm thời gian và chi phí.
- Đường lối chính sách phát triển du lịch
Chính sách phát triển du lịch là chìa khóa dẫn tới sự thành công trong việc phát
triển du lịch. Nó kìm hãm nếu như đường lối sai với thực tế. Chính sách phát triển du
lịch được 2 mặt: Thứ nhất là chính sách phát triển của tổ chức du lịch thế giới, chính
sách thứ 2 là chính sách của cơ quan quyền lực địa phương đó. Mặt thứ 2 có ý ghĩa
quan trọng hơn cả vì nó huy động được sức người, căn cứ vào thực tế của từng vùng
để đưa ra những chính sách phù hợp với vùng đó.
1.1.3.2. Nhóm yếu tố chủ quan
- Điều kiện tự nhiên và tài nguyên du lịch thiên nhiên
Tài nguyên du lịch có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc phát triển du lịch,
tài nguyên nghĩa là tất cả các giá trị vật chất và tinh thần được khai thác để phục vụ
cho mục đích phát triển nào đó của con người.
11
Điều kiện tự nhiên và tài nguyên du lịch thiên nhiên là yếu tố quan trọng trong
tiềm năng du lịch của 1 đất nước, một địa phương nó bao gồm các yếu tố địa hình, vị
trí địa lý., hệ động thực vật, nước, khí hậu…
rộng kết hợp với mạnh lưới sông ngòi dày đặc tao nên nguồn thủy hải sản phong phú
phục vụ cho du lịch. Trong tài nguyên nước thì cần phải kể đến tài nguyên nước
khoáng. Đây là nguồn tài nguyên du lịch có giá trị cho loại hình du lịch an dưỡng và
chữa bệnh tiêu biểu có nguồn nước khoáng Kim Bôi (Hòa Bình), Hội Vân (Bình
Định), Quang Hanh (Quảng Ninh)…
+ Hệ động thực vật: Đây là nguồn tài nguyên đã và đang khai thác có sức hấp
dẫn lớn đối với khách du lịch. Du khách đến với du lịch, tham quan thế giới động thực
vật, khu bảo tồn thiên nhiên. Hiện nay chúng ta có các vườn quốc gia phục vụ phát
triển du lịch như: Cúc Phương (Ninh Bình), Cát Bà (Hải Phòng), Ba Vì (Hà Tây)…
- Tài nguyên du lịch nhân văn
Tiềm năng du lịch nhân văn là đối tượng và hiện tượng văn hóa lịch sử do con
người sáng tạo ra trong đời sống. So với tiềm năng du lịch tự nhiên tiềm năng du lịch
nhân văn có tác dụng nhận thức nhiều hơn, giá trị giải trí là thứ yếu. Tiềm năng du lịch
nhân văn thường tập trung ở các thành phố lớn, là đầu mối giao thông và là nơi tập
trung cơ sở vật chất phục vụ du lịch. Đại tài nguyên du lịch nhân văn không phụ thuộc
tính mùa vụ, không phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên nên tần suất hoạt động của nó là
rất lớn.
Ngày nay việc phát huy các thế mạnh về tiềm năng du lịch nhân văn để phát
triển du lịch đang được nhà nước quan tâm. Việc phát triển du lịch nhân văn (Du lịch
văn hóa) là cách giáo dục lòng yêu nước, nhận thức trách nhiệm bảo vệ tài sản công
của quốc gia, quảng bá về hình ảnh đất nước ra thế giới.
+ Các bảo tàng: Là nơi bảo tồn tài sản văn hóa dân tộc, truyền thụ tri thức, chân
hưng vinh hoa truyền thống. Cùng với việc bảo vệ các di tích lịch sử văn hóa, việc xây
dựng các bảo tàng luôn đặt trong quốc sách về kinh tế, văn hóa, xã hội mỗi quốc gia.
+ Di tích lịch sử văn hóa: Là tài sản văn hóa của mỗi dịa phương, của đất nước
và của cả nhân loại.
+ Lễ hội: Lễ hội bất cứ thời đại nào,bất cư dân tộc nào, bất cứ mùa nào cũng có
những ngày lễ hội. Lễ hội là hoạt động văn hóa cộng đồng diễn ra trên địa bàn dân cư
trong thời gian và không gian xác định nhằm nhắc lại những sự kiện lịch sử, nhân vật 14
Sơ đồ 1.1: Những điều kiện cơ sở vật chất Cùng với tài nguyên du lịch, lao động du lịch, hệ thống cơ sở hạ tầng, cơ sở vật
chất kỹ thuật du lịch là nguồn lực quan trọng để phát triển nghành du lịch, nó tạo nên
thế đứng vững chắc, sự sẵn sàng đón khách của nước chủ nhà. Xét theo ngôn ngữ của
triết học, chúng ta có thể hiểu cở sở vật chất kỹ thuật cùng với con người tạo thành
một lực lượng sản xuất quan trọng của ngành du lịch.
Cơ sở vật chất kỹ thuật đóng vai trò hết sức quan trọng trong quá trình tạo ra và
thực hiện sản phẩm du lịch cũng như quyết định mức độ khai thác tiềm năng du lịch
nhằm thỏa mãn các nhu cầu của khách du lịch. Chính vì nó có vai trò quan trọng như
vậy nên sự phát triển du lịch bao giờ cũng gắn liền với việc xây dựng và hoàn thiện cơ
sở vật chất kỹ thuật.
Cơ sở vật chất có tác động đến mức độ sử dụng tài nguyên du lịch và việc bảo
vệ, giữ gìn chúng. Điểm du lịch, khu du lịch của một địa phương, một quốc gia chỉ
thực sự thu hút khách khi có hệ thống cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật hoàn
thiện. Đó là yếu tố quyết định tới thời gian lưu trú ở lại của khách, và làm tăng thêm
doanh thu cho cơ sở kinh doanh du lịch khi khách tiêu thụ thêm các sản phẩm du lịch
khác. Sự lưu lại của khách cũng đồng nghĩa với mức độ sử dụng, tác động vào tài
nguyên du lịch tăng. Điều này đặt ra vấn đề bảo vệ tài nguyên du lịch để tạo nên tính
liên tục trong quy trình phục vụ khách du lịch.
- Các sự kiện đặc biệt
Cơ sở hạ tầng xã hội:
- Giao thông vận tải
cả là thực hiện chính sách quảng bá cho du lịch vùng, địa phương đó.
1.1.4. Vai trò của du lịch biển
1.1.4.1. Vai trò đối với kinh tế:
Hội nghị du lịch thế giới họp tại Manila, Philipin năm 1980 đã ra tuyên bố về
du lịch, trong Điều 2 ghi rõ: “Trước ngưỡng cửa của thế kỷ XXI và trước triển vọng
những vấn đề đang đặt ra đối với nhân loại, đã đến lúc cần thiết và phân tích bản
chất của du lịch, chủ yếu là đi sâu vào bề rộng mà du lịch đã đạt được kể từ khi người
lao động được quyền nghỉ phép đã chuyển hướng du lịch từ phạm vi hẹp của thú vui
sang phạm vi lớn của cuộc sống kinh tế, xã hội. Phần đóng góp của du lịch vào nền
kinh tế quốc dân và thương mại quốc tế đang làm cho nó trở thành một luận cứ tốt
cho sự phát triển của thế giới. Vai trò thiết thực của du lịch trong hoạt động kinh tế
quốc dân, trong trao đổi quốc tế và trong sự cân bằng cán cân thanh toán, đang đặt
du lịch vào vị trí một trong số ngành hoạt động kinh tế thế giới quan trọng nhất”.
16
Ngày nay, du lịch biển đang trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của nhiều quốc
gia có tiềm năng về tài nguyên biển trên thế giới. Ở một số quốc gia, du lịch biển là
nguồn thu ngoại tệ quan trọng nhất trong ngành du lịch. Vai trò của du lịch biển đối
với kinh tế được thể hiện như sau:
Thứ nhất, du lịch biển góp phần tăng năng suất lao động thông qua việc củng
cố sức khỏe và tinh thần cho nhân dân lao động, từ đó góp phần nâng cao thu nhập
cho người dân.
Thứ hai, du lịch biển thúc đẩy ngành kinh tế phát triển theo tính chất đòi hỏi sự
hỗ trợ liên ngành.
Thứ ba, du lịch biển là hoạt động xuất khẩu có hiệu quả, đặc biệt là xuất khẩu
tại chỗ hàng hóa công nghiệp theo giá bán lẻ cao. Bên cạnh đó, hàng hóa xuất khẩu
theo con đường du lịch biển sẽ không chịu hàng rào thuế quan mậu dịch quốc tế.
Thứ tư, du lịch biển góp phần vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Vì thông
qua sự phát triển loại hình du lịch biển góp phần phát triển ngành du lịch dịch vụ theo
cơ cấu kinh tế quốc tế: tăng tỷ trọng ngành công nghiệp, dịch vụ, giảm tỷ trọng nông