BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH
…………/………… …………/………… LỜI CAM ĐOAN
“Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi. Các số liệu, kết quả
nêu trong luận văn này là xác thực và có nguồn gốc rõ ràng” Phạm Lâm Chính Văn LỜI CẢM ƠN
Lời cam đoan. Lời cảm ơn Mục lục Bảng các chữ cái viết tắt Danh mục các bảng Danh mục các sơ đồ
MỞ ĐẦU
1.
Tính cấp thiết của đề tài 1
2.
Tình hình nghiên cứu 3
3.
1.1.2.
Nội dung về an toàn vệ sinh, dịch bệnh động, thực vật 10
1.1.3.
Nguyên tắc về an toàn vệ sinh, dịch bệnh động, thực vật 14
1.2. Hệ thống văn bản quản lý nhà nước về lĩnh vực an
toàn vệ sinh, dịch bệnh động, thực vật
17
1.2.1.
Khái niệm hệ thống văn bản quản lý nhà nước 17
1.2.2.
Hệ thống văn bản quản lý nhà nước về lĩnh vực an toàn
vệ sinh, dịch bệnh động, thực vật
22
1.3. Sự cần thiết của việc xây dựng hệ thống văn bản quản
lý nhà nước về lĩnh vực an toàn vệ sinh, dịch bệnh
động, thực vật
30
1.3.1.
2.1. Kết quả xây dựng và hoàn thiện hệ thống văn bản
quản lý nhà nước về lĩnh vực an toàn vệ sinh, dịch
bệnh động, thực vật
37
2.1.1.
Hình thành hệ thống quy phạm để quản lý nhà nước về
lĩnh vực an toàn vệ sinh, dịch bệnh động, thực vật
37
2.1.2.
Hiệu quả quản lý nhà nước của hệ thống văn bản quản lý
nhà nước về lĩnh vực an toàn vệ sinh, dịch bệnh động,
thực vật
57
2.2. Những hạn chế, bất cập của hệ thống văn bản quản lý
nhà nước về lĩnh vực an toàn vệ sinh, dịch bệnh động,
thực vật
64
2.2.1
Xây dựng hệ thống công cụ pháp lý phục vụ yệu cầu
quản lý nhà nước về an toàn vệ sinh, dịch bệnh động
thực vật
64
85
Chương 3 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN HỆ THỐNG VĂN BẢN
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ LĨNH VỰC AN TOÀN
VỆ SINH, DỊCH BỆNH ĐỘNG, THỰC VẬT
87
3.1. Quan điểm của Đảng và Nhà nước
87
3.2. Giải pháp hoàn thiện hệ thống văn bản quản lý nhà
nước về lĩnh vực an toàn vệ sinh, dịch bệnh động,
thực vật
90
3.2.1.
Thống nhất thẩm quyền quản lý nhà nước về lĩnh vực an
toàn vệ sinh, dịch bệnh động, thực vật
903.2.2.
Hệ thống hóa văn bản quản lý nhà nước về lĩnh vực an
toàn vệ sinh, dịch bệnh động, thực vật
95
3.2.3.
BẢNG CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT ATTP
A
n toàn th
ực phẩm
ATVSDBĐT
V
A
n toàn v
ệ sinh, dịch bệnh động, thực vật
NĐTP
Ng
ộ độc thực phẩm
NNPTNT
V
ăn b
ản quy phạm pháp luật
WTO
(World Trade
Organizaton)
T
ổ chức th
ương m
ại thế giới
ệ
thống cấu trúc ngang (theo đối tượng quản lý) giai đoạn
2006-2011
41
2.3. các cơ quan, đơn vị thuộc các Bộ và Sở thực hiện chức năng
QLNN và hoạt động sự nghiệp trong lĩnh vực
ATVSDBĐTV
51
2.4.
T
ổng hợp số l
ư
ợng v
à năng l
ự
c các phòng ki
ểm nghiệm
v
ề
lĩnh vực ATVSDBĐTV tại các địa phương
55
2.5.
T
ỉ lệ h
ài hòa gi
ữa Ti
v
ề lĩnh vực
an toàn vệ sinh, dịch bệnh động thực vật hiện nay (theo
Luật An toàn thực phẩm và các văn bản có liên quan)
49
3.1.
Mô hình
đ
ề xuất tổ chức bộ máy QLNN về ATVSDBĐTV
94
3.2.
Mô hình hóa s
ơ đ
ồ
h
ệ thống cấu trúc ngang các VBQLNN
về lĩnh vực an toàn vệ sinh dịch bệnh động thực vật
99MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
An toàn thực phẩm (từ đây viết tắt là ATTP) là vấn đề mang tính toàn
đó, hiệu lực, hiệu quả QLNN về lĩnh vực ATVSDBĐTV ngày được nâng cao.
Hoàn thiện thể chế pháp luật nói chung là vấn đề bức thiết đáp ứng yêu
cầu đổi mới và hội nhập quốc tế ở nước ta trong giai đoạn hiện nay. Theo đó,
việc xây dựng mới cũng như việc sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm
pháp luật (sau đây viết tắt là VBQPPL) diễn ra khá phổ biến.
Đối với lĩnh vực ATVSDBĐTV cũng không là ngoại lệ. Các quy tắc
quản lý chứa đựng trong nhiều văn bản quản lý được sửa đổi, bổ sung, cá biệt
có những văn bản được sửa đổi, bổ sung nhiều lần với mục đích hoàn thiện
các quy tắc để quản lý. Tuy vậy, thực tiễn thi hành pháp luật cho thấy các quy
định quản lý về lĩnh vực ATVSDBĐTV rất phức tạp, khó tiếp cận một cách
đầy đủ và chính xác, việc tra cứu văn bản pháp luật gặp nhiều khó khăn để
xác định văn bản nào còn hoặc hết hiệu lực. Mặt khác, hệ thống VBQLNN về
lĩnh vực ATVSDBĐTV do các cơ quan QLNN ở Trung ương ban hành vẫn
chưa đầy đủ, còn nhiều kẽ hở, bất cập, chồng chéo, thậm chí mâu thuẫn lẫn
nhau. Đặc biệt là hệ thống các tiêu chuẩn về ATTP chưa phù với Hiệp định
An toàn vệ sinh, dịch bệnh động thực vật (Agreement on Sanitary and
Phytosanitary Meansures - SPS) của Tổ chức thương mại thế giới (World
Trade Organization - WTO) và một số điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết.
Với ý nghĩa nêu trên, việc nghiên cứu chi tiết và đánh giá hệ thống
VBQLNN về lĩnh vực ATVSDBĐTV nhằm phát hiện những bất hợp lý, từ đó
đưa ra các giải pháp để hoàn thiện hệ thống văn bản nêu trên, góp phần nâng
3
cao hiệu lực, hiệu quả QLNN về lĩnh vực ATVSDBĐTV là yêu cầu rất cấp
thiết trong giai đoạn hiện nay.
2. Tình hình nghiên cứu
Nghiên cứu hệ thống văn bản nói chung và hệ thống VBQLNN nói
riêng được sự quan tâm của nhiều nhà khoa học ở các chuyên ngành khác
nhau như: luật học, văn bản học, hành chính học. Chi tiết các nghiên cứu này
gồm có:
Để đạt được mục đích trên, luận văn thực hiện những nhiệm vụ cụ thể
dưới đây:
- Phân tích, hệ thống hóa cơ sở lý luận và pháp lý của hệ thống
VBQLNN về lĩnh vực ATVSDBĐTV.
- Đánh giá thực trạng hệ thống VBQLNN về lĩnh vực ATVSDBĐTV
nhằm làm rõ những ưu điểm, khuyết điểm của hệ thống văn bản này.
- Xây dựng và đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống
VBQLNN về lĩnh vực ATVSDBĐTV.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu hệ thống VBQLNN về lĩnh vực
ATVSDBĐTV.
Phạm vi nghiên cứu: Xuất phát từ tính chất đặc thù của đối tượng
nghiên cứu là hệ thống VBQLNN chuyên ngành, do đó phạm vi nghiên cứu
của luận văn được xác định là hệ thống VBQLNN về lĩnh vực ATVSDBĐTV
do các cơ quan QLNN có thẩm quyền ở Trung ương ban hành từ năm 2006
tới nay.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn tiếp cận đối tượng nghiên cứu bằng phương pháp luận của
phép duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, lấy học thuyết Mác - Lênin, tư
5
tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng về hoàn thiện nhà nước và
pháp luật làm cơ sở lý luận.
Để triển khai nội dung cụ thể của luận văn, những phương pháp:
phương pháp so sánh; phương pháp phân tích, tổng hợp; phương pháp thống
kê; phương pháp thu thập và phân tích tài liệu và một số phương pháp khác
đều được đã được áp dụng.
5. Đóng góp của luận văn
- Luận văn phân tích, làm rõ cơ sở pháp lý và giá trị thực tiễn của hệ
thống văn bản QLNN về lĩnh vực ATVSDBĐTV góp phần hướng tới thực
7
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN HỆ THỐNG VĂN BẢN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
VỀ LĨNH VỰC AN TOÀN VỆ SINH, DỊCH BỆNH ĐỘNG,
THỰC VẬT
1.1. Những vấn đề chung về an toàn vệ sinh, dịch bệnh động, thực vật
1.1.1. Khái niệm về an toàn vệ sinh, dịch bệnh động, thực vật
Phần lớn thực phẩm được xã hội loài người sử dụng đều có nguồn gốc
từ động vật, thực vật, vi sinh vật hay các các sản phẩm chế biến từ phương
pháp lên men. Thực phẩm được thu nhận thông qua việc gieo trồng, chăn
nuôi, hái lượm, đánh bắt hay các phương pháp khác, có thể diễn giải: “Sản
xuất thực phẩm là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các hoạt động trồng
trọt, chăn nuôi, thu hái, đánh bắt, khai thác, sơ chế, chế biến, bao gói, bảo
phóng xạ; [19,tr.4]
Nhiều nghiên cứu khoa học đã chỉ ra rằng nguyên nhân NĐTP cấp tính
hay mãn tính là do sự tác động trực tiếp hoặc tích lũy dư lượng các hóa chất,
kháng sinh, vi sinh vật trong cơ thể con người do quá trình lâu dài sử dụng
thực phẩm không an toàn.
Do vậy ngày nay, ATTP và sản xuất nông nghiệp được các quốc gia
trên thế giới xem xét và quản lý một cách có hệ thống xuyên suốt từ khâu
trồng trọt, chăn nuôi, thu hoạch, sơ chế cho đến khâu bảo quản, chế biến và
tiêu dùng thực phẩm. Thuật ngữ từ nông trại đến bàn ăn (tiếng anh: from farm
to folk) thường được sử dụng khi bàn đến ATTP. Cụ thể như việc sử dụng
thuốc bảo vệ thực vật trong trồng trọt hoặc sử dụng thuốc thú y trong chăn
nuôi không chỉ được xem xét với mục đích là diệt sâu bọ gây hại cây trồng,
hay điều trị bệnh cho vật nuôi, mà còn được xem xét dưới góc độ ATTP.
9
Để đảm bảo ATTP thì phải áp dụng các biện pháp để hạn chế, loại bỏ
toàn bộ các mối nguy trên trong quá trình sản xuất, chế biến, tiêu dùng thực
phẩm, cụ thể là:
- Để loại bỏ các mối nguy xuất hiện trong khâu chăn nuôi, trồng trọt, thì
phải thực hành sản xuất nông nghiệp an toàn thông qua việc sử dụng các loại
giống cây, con phù hợp, an toàn, chất lượng, năng suất cao; kiểm soát điều
kiện môi trường canh tác; sử dụng đúng, hợp lý các loại thức ăn chăn nuôi,
phân bón, khuyến khích sản xuất nông nghiệp hữu cơ; bảo đảm an toàn dịch
bệnh trong quá trình sản xuất, không lạm dụng các loại thuốc thú y, thuốc trừ
sâu, hóa chất trong phòng trừ dịch bệnh;
- Để loại bỏ các mối nguy xuất hiện trong công đoạn thu hoạch, giết mổ,
sơ chế, chế biến, bảo quản, kinh doanh thực phẩm, thì phải đảm bảo điều kiện
vệ sinh, điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị; bảo đảm quy trình chế biến,
bảo quản; sử dụng các loại chất bảo quản, phụ gia thực phẩm đúng quy định.
Hệ thống các quy định mang tính chất quốc tế, cùng các quy định
ATVSDBĐTV là một lĩnh vực cụ thể, trực tiếp, rất rộng lớn, phức tạp,
và đan xen với nhau bởi nhiều hoạt động. Tuy nhiên, có thể chia làm các nội
dung chính như sau:
1.1.2.1. Sản xuất nông nghiệp an toàn
Sản xuất nông nghiệp là hoạt động sử dụng các nguồn tài nguyên thiên
nhiên như đất đai, nguồn nước, tài nguyên sinh vật (giống cây trồng, giống
vật nuôi), sử dụng các loại vật tư nông nghiệp (phân bón, thức ăn chăn nuôi,
thuốc bảo vệ thực vật, thuốc thú y, hóc – môn chăn nuôi) thông qua quá trình
biến đổi sinh học nhằm tạo nguồn nguyên liệu chủ yếu làm thực phẩm cho
con người và các mục đích khác.
11
Để đáp ứng nhu cầu lương thực, thực phẩm toàn cầu ngày càng gia tăng,
từ thập niên 50 của thế kỷ XX, các quốc gia trên thế giới phải thay thế nền
nông nghiệp truyền thống chủ yếu dựa vào các nguồn tài nguyên thiên nhiên
sẳn có để phục vụ sản xuất bằng cách tạo ra giống mới cho năng suất cao, sử
dụng tổ hợp các biện pháp kỹ thuật như cải tiến quy trình canh tác, rút ngắn
thời gian sản xuất, sử dụng phân bón hóa học, thuốc bảo vệ thực vật, thuốc
thú y, hóc- môn tăng trưởng…để phòng trừ dịch bệnh, tăng năng suất, sản
lượng cây trồng, vật nuôi. Tuy nhiên, bên cạnh những thành quả đạt được,
nguy cơ sản phẩm nông nghiệp không an toàn lại gia tăng do dịch bệnh, dư
lượng hóa chất, kháng sinh, kim loại nặng để lại trên sản phẩm sau thu hoạch.
Do vậy, sản xuất nông nghiệp an toàn là xu thế chung của cả thế giới
trong giai đoạn hiện nay với nội dung chính là sử dụng hợp lý các nguồn tài
nguyên để sản xuất nhằm tạo ra nguồn thực phẩm an toàn cho con người trên
cơ sở bảo vệ môi trường sinh thái. Sản xuất nông nghiệp an toàn được dựa
trên các quy phạm, tiêu chuẩn được quy định từ việc chọn lựa giống, địa điểm
sản xuất, phương pháp canh tác, sử dụng hợp lý các loại vật tư nông nghiệp
nhằm loại bỏ các mối nguy gây mất ATTP xuất hiện trong công đoạn sản xuất
nông nghiệp với mục tiêu không chỉ đảm bảo năng suất, sản lượng, mà còn
Dịch bệnh động, thực vật là mối nguy xuyên suốt trong quá trình trồng
trọt hoặc chăn nuôi. Tác động của dịch bệnh không chỉ làm mất mùa, giảm
năng suất sản xuất nông nghiệp, gây thiệt hại cho nông dân và nền kinh tế
quốc gia. Bên cạnh đó, một số mầm bệnh từ động, thực vật có thể gây bệnh
đối với con người khi sử dụng các sản phẩm có nguồn gốc từ động, thực vật
nhiễm bệnh. Hoặc khi dịch bệnh xảy ra, con người phải sử dụng các loại hóa
chất, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật để phòng, chống dịch bệnh làm cho
13
nguy cơ dư lượng hóa chất, kháng sinh tồn lưu trên sản phẩm trồng trọt, chăn
nuôi gây ô nhiễm thực phẩm gia tăng.
Do vậy, bảo đảm an toàn dịch bệnh động, thực vật là một nội dung quan
trọng trong hoạt động ATVSDBĐTV bao gồm các hoạt động phòng dịch,
kiểm dịch, kiểm soát, khống chế, thanh toán dịch bệnh, thiết lập các vùng an
toàn dịch bệnh để phục vụ sản xuất nông nghiệp an toàn.
1.1.2.4. Bảo đảm điều kiện an toàn vệ sinh thực phẩm trong thu hoạch,
giết mổ, sơ chế, chế biến, bảo quản, kinh doanh thực phẩm
Điều kiện an toàn vệ sinh thực phẩm trong công đoạn thu hoạch, giết
mổ, sơ chế, chế biến, bảo quản, kinh doanh thực phẩm là tập hợp các điều
kiện, biện pháp về cơ sở vật chất, vị trí, nhà xưởng, trang thiết bị, lao động,
quy trình công nghệ, môi trường sản xuất nhằm đảm bảo loại bỏ các mối nguy
gây mất ATTP trong công đoạn thu hoạch, giết mổ, sơ chế, chế biến, bảo
quản, kinh doanh thực phẩm. Đảm bảo điều kiện an toàn vệ sinh thực phẩm
trong công đoạn thu hoạch, giết mổ, sơ chế, chế biến, bảo quản, kinh doanh là
đáp ứng các tiêu chuẩn, quy chuẩn, biện pháp về cơ sở vật chất, vị trí, nhà
xưởng, trang thiết bị, lao động, quy trình công nghệ, môi trường sản xuất.
1.1.3.5. Sản xuất, sử dụng phụ gia, chất hỗ trợ chế biến, bảo quản thực
phẩm an toàn
Theo Ủy ban tiêu chuẩn hóa thực phẩm quốc tế (Codex Alimentarius
Commission) thì phụ gia thực phẩm (food additives) là:
bệnh động, thực vật, chế biến thực phẩm nhằm cung cấp nguồn thực phẩm an
toàn cho con người. Trong các lĩnh vực hoạt động này có sự tham gia của
nhiều chủ thể (cá nhân, tổ chức). Do vậy, các hoạt động về lĩnh vực
ATVSDBĐTV phải dựa trên nguyên tắc khoa học
15
- Nguyên tắc tuân thủ các tiêu chuẩn quốc tế và quốc gia: Theo Luật
Tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật (2006), tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật là:
+ Tiêu chuẩn là quy định về đặc tính kỹ thuật và yêu cầu quản lý dùng
làm chuẩn để phân loại, đánh giá sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ, quá trình, môi
trường và các đối tượng khác trong hoạt động kinh tế - xã hội nhằm nâng cao
chất lượng và hiệu quả của các đối tượng này.
Tiêu chuẩn do một tổ chức công bố dưới dạng văn bản để tự nguyện áp
dụng.
+ Quy chuẩn kỹ thuật là quy định về mức giới hạn của đặc tính kỹ
thuật và yêu cầu quản lý mà sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ, quá trình, môi
trường và các đối tượng khác trong hoạt động kinh tế - xã hội phải tuân thủ để
bảo đảm an toàn, vệ sinh, sức khoẻ con người; bảo vệ động vật, thực vật, môi
trường; bảo vệ lợi ích và an ninh quốc gia, quyền lợi của người tiêu dùng và
các yêu cầu thiết yếu khác.
Quy chuẩn kỹ thuật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành dưới
dạng văn bản để bắt buộc áp dụng.
Vậy, tiêu chuẩn là tập hợp những quy tắc, hướng dẫn hoặc đặc tính cho
các hoạt động (bao gồm các quá trình, dịch vụ) hoặc kết quả hoạt động (sản
phẩm, hàng hóa) để sử dụng chung và lặp đi lặp lại nhằm đạt được mức độ
trật tự tối ưu trong một khung cảnh nhất định.
ATVSDBĐTV bao gồm nhiều hoạt động, kết quả hoạt động đan xen
như: các quá trình sản xuất nông nghiệp, chế biến thực phẩm, sản xuất cung
cấp vật tư nông nghiệp, giống cây trồng vật nuôi; hoặc kết quả hoạt động là
sản phẩm, hàng hóa vật tư nông nghiệp, giống cây trồng, vật nuôi, nông sản,