1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA KHOA HỌC QUẢN LÝ
___________________
LÊ THỊ THU HƯƠNG
CƠ CẤU HỆ THỐNG CHỨC NĂNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
VỀ HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
CỦA BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
Chuyên ngành: Quản lý Khoa học và Công nghệ
Mã số: 60.34.72
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS. Hồ Ngọc Luật
Hà nội – 2009 8
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU………………………………………………………………………….5
CHƯƠNG 1 – CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU………………… 9
1.1. Quản lý và Quản lý hành chính nhà nước 9
1.1.1.Quản lý và Quá trình quản lý 9
1.1.1.1. Quản lý…………………………………………………………………….9
1.1.1.2. Quá trình quản lý……………………………………………………… 10
1.1.1.3. Quản lý từ góc độ tiếp cận hệ thống…………………………………… 10
1.1.2.Hành chính nhà nước và Quản lý hành chính nhà nước 12
1.1.2.1. Hành chính và hành chính nhà nước…………………………………… 12
1.1.2.2. Quản lý hành chính nhà nước…………………………………………… 12
1.2. Chức năng quản lý hành chính Nhà nước 13
2.1. Quá trinh phát triển của Bộ KH&CN 33
2.1.1. Hệ thống quản lý quản lý KH&CN 33
2.1.1.1. Chính phủ…………………………………………………………………34
2.1.1.2. Bộ và cơ quan ngang bộ………………………………………………… 35
2.1.1.3. Cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương…………………………… 36
2.1.1.4. Bộ Khoa học và Công nghệ………………………………………………37
2.1.1.5. Sở Khoa học và Công nghệ ………………………………………………37
2.1.2. Quá trình phát triển của Bộ KH&CN 38
2.1.2.1. Về chức năng quản lý nhà nước………………………………………….38
2.1.2.2. Về cơ cấu tổ chức…………………………………………………………42
2.2. Hiện trạng quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học hiện nay 48 10
2.2.1. Hiện trạng của hoạt động nghiên cứu khoa học 48
2.2.2. Quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học từ góc độ các chức năng hành chính 55
2.2.2.1. Chức năng lập kế hoạch………………………………………………… 55
2.2.2.2. Lập kế hoạch trong lĩnh vực khoa học và công nghệ…………………….57
2.2.2.3. Nguyên tắc và căn cứ lập kế hoạch khoa học và công nghệ…………… 60
2.2.2.4. Nội dung của kế hoạch khoa học và công nghệ………………………… 61
2.2.2.5. Quá trình xây dựng, tổng hợp và xét duyệt kế hoạch KH&CN………… 63
2.2.2.6. Một số nhận xét về thực trạng cơ chế kế hoạch hoá KH&CN hiện nay….64
2.2.3. Quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học từ góc độ Tổ chức học 67
2.2.3.1. Thiết kế tổ chức các cơ quan hành chính nhà nước………………………67
2.2.3.2. Cơ cấu tổ chức quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học…………………71
2.2.3.2.1. Cơ cấu tổ chức quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của Bộ KH&CN
…………………………………………………………………………………… 71
2.2.3.2.2. Hiện trạng về quản lý hoạt động nghiên cứu KH từ góc độ tổ chức học
…………………………………………………………………………………… 74
2.2.4. Quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học từ góc độ Hệ thống đổi mới 80
3.3.2.1. Hon thin c ch xõy dng v t chc thc hin nhim v KH&CN 102
3.3.2.2. i mi c ch, chớnh sỏch u t ti chớnh cho hot ng KH&CN 106
3.3.2.3. Hon thin c ch hot ng ca b mỏy qun lý nh nc v KH&CN
109
KT LUN . 112
DANH MC TI LIU THAM KHO 114
12
Phần mở đầu Nội dung nghiên cứu của Luận văn được thực hiện trong bối cảnh Việt Nam
đang trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo quan điểm: Công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước phải bằng và dựa vào khoa học và công nghệ.
Hơn nữa, công cuộc cải cách nền hành chính Nhà nước đang được tiến hành
hiện nay là một chủ trương mang tính chiến lược - trọng tâm của quá trình xây dựng
và hoàn thiện Nhà nước CHXHCN Việt Nam - để đáp ứng yêu cầu phát triển trong
thời kỳ mới của đất nước thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Theo đó, nghiên
cứu về cải cách hành chính trong QLNN nói chung và QLNN về KH&CN là những
chủ đề được quan tâm trong nhiều giới nghiên cứu trong giai đoạn phát triển hiện
nay.
Hệ thống quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ (KH&CN), trong đó có
cơ quan quản lý nhà nước cấp trung ương - Bộ Khoa học và Công nghệ - được hình
thành và phát triển qua nhiều giai đoạn, gắn liền với những biến động trong hệ
thống kinh tế xã hội, bắt đầu từ năm 1959, và đã qua nhiều thay đổi, bổ sung về
chức năng và cơ cấu tổ chức.
Hiện nay tình hình kinh tế và xã hội nước ta đã có nhiều thay đổi, với đặc
trưng cơ bản là hình thành một nền kinh tế thị trường, theo định hướng xã hội chủ
đất nước theo quan điểm phải bằng và dựa vào khoa học và công nghệ.
3) Phương pháp tổng kết kinh nghiệm, dựa trên việc tổng kết những bài học
kinh nghiệm của lịch sử 40 năm QLNN về KH&CN, khởi đầu từ Uỷ ban Khoa học
Nhà nước năm 1959.
Theo quan điểm như vậy, nội dung cơ bản của Luận văn được nghiên cứu xây
dựng trên cơ sở kế thừa cao nhất những kết quả nghiên cứu hiện có (cả ở trung
ương, địa phương và quốc tế), bởi tôi luôn ý thức rằng, những gì được trình bầy tại
đây là trí tuệ tập thể của nhiều tập thể nghiên cứu đã từng quan tâm tới chuyên đề 14
nghiên cứu, của nhiều cán bộ chỉ đạo và hoạt động thực tiến ở địa phương và trung
ương. Phần đóng góp khiêm tốn của Luận văn chỉ là tập hợp, hệ thống hoá, xử lý,
lựa chọn và nâng cấp những nội dung liên quan tới chuyên đề nghiên cứu.
Do thời gian và trình độ còn nhiều hạn chế, chắc chắn rằng nội dung nghiên
cứu của Luận văn không tránh khỏi những mặt khiếm khuyết. Rất mong nhận được
sự góp ý, nhận xét, và rất mong sự giúp đỡ, hợp tác chân thành, cởi mở của các đồng
nghiệp, các cơ sở, các tổ chức quản lý, nghiên cứu và đào tạo, các chuyên gia, trong
quá trình hoàn thiện nội dung nghiên cứu của Luận văn trong thời gian tới./ 15
CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN
Phần mở đầu
Chƣơng 1:
Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu
1856 - 1915), Quản lý là biết đƣợc chính xác điều bạn muốn ngƣời khác làm,
và sau đó, hiểu đƣợc rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ
nhất.
- Theo Thuyết quản lý hành chính (Henry Fayol, 1841 - 1925), Quản lý
hành chính là dự đoán và lập kế hoạch, tổ chức điều khiển, phối hợp với kiểm
tra.
- Theo Thuyết quản lý tổ chức (Chester Irwing Barnard, 1886 - 1961),
Quản lý bao giờ cũng là việc quản lý một hệ thống tổ chức nhất định; nó có
tính hệ thống và mục đích của nó là làm tăng sức mạnh hệ thống của một tổ
chức.
- Theo các thuyết văn hoá quản lý (từ cuối những năm 70), quản lý
không những là việc tạo ra cơ cấu và công nghệ, mà còn là việc sáng tạo ra 17
những biểu tƣợng, hệ tƣ tƣởng, ngôn ngữ, tín ngƣỡng, nghi lễ và những huyền
thoại.
Và nhƣ vậy - để có thể trả lời câu hỏi Quản lý là gì? - từ các điểm chung
nhất của các cách tìm hiểu khác nhau về quản lý nhƣ đã nêu trên, có thể hiểu:
Quản lý là sự tác động của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm
đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến động của môi trường
Với cách hiểu nhƣ vậy, quản lý phải bao gồm các yếu tố (các điều kiện)
sau:
- Phải hƣớng tới một mục tiêu;
- Thông qua con ngƣời;
- Với kỹ thuật, công nghệ;
- Hoạt động bên trong của một tổ chức.
1.1.1.2. Quá trình quản lý
Quản lý là quá trình thực hiện những hoạt động (chức năng) riêng biệt
sắc hơn các yếu tố tƣơng tác khác nhau có ảnh hƣởng tới lý thuyết và thực
hành quản lý. Tuy vậy, cũng có quan điểm cho rằng, khó có thể xem tiếp cận
hệ thống là một cách tiếp cận mới đối với tƣ tƣởng quản lý, bởi trong thực tế,
các nhà quản lý thực hành thông minh và có kinh nghiệm vẫn có thói quen xem
xét các vấn đề nhƣ một mạng lƣới các phần tử có liên hệ lẫn nhau với sự tƣơng
tác thƣờng xuyên giữa các môi trƣờng bên trong và bên ngoài tổ chức.
Hình 1. Sơ đồ khái quát về quá trình quản lý
Những việc
khởi đầu
Những việc
trù bị
Những việc
thực hiện
Những việc
định lượng
LẬP
KẾ HOẠCH
(Phải làm gì?)
TỔ CHỨC
Hành chính Nhà nước là một dạng hoạt động tổ chức và điều hành để
thực hiện quyền lực Nhà nước. Đó là hoạt động hành chính của các
cơ quan thực thi quyền lực Nhà nước (quyền hành pháp) để quản lý,
điều hành các lĩnh vực của đời sống xã hội theo luật pháp.
Điều chú ý ở đây là, nếu xét về mặt nhà nƣớc, Hành chính không bao
hàm toàn bộ nội dung của quản lý nhà nƣớc. Nếu nội dung toàn diện của quản
lý nhà nƣớc bao gồm tất cả các quyền lập pháp, hành pháp và tƣ pháp, thì hành
chính chỉ là quyền hành pháp trong hành động, là hoạt động cụ thể của bộ máy
hành pháp.
Vấn đề quan trọng ở đây là, tổ chức và quy chế hoạt động của Nhà nƣớc
ta đƣợc nghiên cứu và thiết kế theo thuyết quyền lực Nhà nƣớc là thống nhất,
không phân chia, nhƣng có sự phân công và phối hợp chặt chẽ giữa các cơ
quan Nhà nƣớc trong việc thực hiện ba quyền (lập pháp, tƣ pháp và hành
pháp). Và ở đây, các cơ quan hành chính Nhà nƣớc thực hiện quyền hành pháp,
(Khâu hoạch định)
(Khâu kiểm định) 20
không có quyền lập pháp và tƣ pháp, nhƣng góp phần quan trọng vào các quy
trình lập pháp và tƣ pháp.
1.1.2.2. Quản lý hành chính Nhà nƣớc
Nhƣ vậy, khi nói đến Hành chính nhà nƣớc là nói đến Quản lý hành
chính nhà nƣớc.
Quản lý hành chính Nhà nước là sự thực thi quyền hành pháp của
Nhà nước. Đó là sự tác động có tổ chức(*) và điều chỉnh(**) bằng
quyền lực pháp luật của Nhà nước đối với các quá trình xã hội và
hành vi hoạt động của con người để duy trì và phát triển mối quan
phƣơng thức giáo dục, vận động quần chúng trong việc điều chỉnh các quan hệ quản lý. Chức năng quản lý hành chính nhà nƣớc phản ánh vai trò hoạt động của
các cơ quan thực thi quyền hành pháp đối với các lĩnh vực đời sống xã hội. Đó
là sản phẩm của quá trình phân công, chuyên môn hóa, tổng hợp hóa lao động
trên lĩnh vực thực thi quyền hành pháp; là một trong những căn cứ quan trọng
nhất để thiết lập hệ thống các cơ quan hành chính nhà nƣớc và cũng là lý do
chính đáng cho sự tồn tại của một chủ thể hành chính nào đó. Chính vì vậy,
trong thực tế, chức năng quản lý hành chính nhà nƣớc đƣợc cụ thể hóa cho các
khâu, các cấp, các nhiệm vụ và các chức danh hành chính, là một phƣơng tiện
quan trọng để góp phần thực hiện đƣờng lối tổ chức và đƣờcg lối cán bộ của
Đảng và Nhà nƣớc.
1.2.2. Chức năng quản lý hành chính nhà nước và Chức năng hoạt
động quản lý của cơ quan hành chính nhà nước
Mỗi một chức năng quản lý hành chính nhà nƣớc bao gồm nhiều vấn đề,
và mỗi một cơ quan hành chính nhà nƣớc chỉ thực hiện một số vấn đề nhất
định. Do vậy, không thể có một chức năng quản lý hành chính nào lại do một
cơ quan hành chính nào đó thực hiện một cách biệt lập. Hay nói cách khác, các
chức năng quản lý hành chính nhà nƣớc đều đƣợc thực hiện với sự tham gia
của nhiều cơ quan khác nhau.
Vấn đề đặt ra ở đây, là sự phân biệt giữa Chức năng quản lý hành chính
nhà nƣớc (hay chức năng của toàn bộ hệ thống quản lý hành chính nhà nƣớc)
và Chức năng hoạt động quản lý của cơ quan hành chính nhà nƣớc. Cụ thể:
- Chức năng quản lý hành chính nhà nước: 22
1) Được bắt nguồn từ bản chất của Nhà nước và mang tính khách
23
- Từ góc độ tác dụng của sự quản lý hành chính trong toàn bộ cuộc sống
xã hội, có thể đƣợc chia thành: chức năng chính trị, chức năng kinh tế, chức
năng xã hội, chức năng văn hóa Những chức năng này còn đƣợc gọi là chức
năng tổng thể của hành chính, hay chức năng cơ bản của quản lý hành chính.
- Từ quá trình và phương thức quản lý, thể đƣợc chia thành: chức năng
kế hoạch; chức năng tổ chức; chức năng quản lý, phát triển nguồn nhân lực;
chức năng ra các quyết định hành chính; chức năng điều hành, hƣớng dẫn thi
hành; chức năng phối hợp; và chức năng giám sát. Đây là những chức năng chủ
yếu của quá trình quản lý hành chính, và còn đƣợc gọi là những chức năng vận
hành của hành chính.
- Từ góc độ của các lĩnh vực và các mặt hoạt động, có thể đƣợc phân
chia thành các chức năng quản lý hành chính nhà nƣớc về: kinh tế, văn hóa, xã
hội, ngoại giao, an ninh quốc phòng, tài chính, khoa học và công nghệ, môi
trƣờng
- Từ góc độ của các ngành kinh tế, kỹ thuật, dịch vụ, có thể đƣợc phân
chia thành các chức năng quản lý hành chính nhà nƣớc về: xây dựng cơ bản,
giao thông vận tải, bƣu chính viễn thông, nông nghiệp, lâm nghiệp, thƣơng
mại, du lịch
- Từ góc độ của phạm vi điều phối, có thể đƣợc phân chia thành: chức
năng hành chính bậc cao, chức năng hành chính bậc trung và chức năng hành
chính bậc thấp.
- Từ góc độ của phạm vi thực hiện chức năng, có thể đƣợc phân chia
thành: chức năng đối nội và chức năng đối ngoại.
- Từ góc độ của đối tượng tác động, thể đƣợc phân chia thành: chức
năng đối với dân, chức năng đối với nền kinh tế thị trƣờng, chức năng đối với
xã hội và chức năng đối với bên ngoài.
1.2.2.2. Chức năng hoạt động quản lý của cơ quan hành chính nhà nƣớc
Hiệu lực hành chính nhà nƣớc - nói một cách đơn giản - chính là việc
hoàn thành đúng chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền quy định, đạt kết quả dự
kiến của Bộ máy quản lý hành chính nhà nƣớc
Hiệu quả hành chính nhà nƣớc là mối tƣơng quan giữa kết quả thu đƣợc
với chi phí thực hiện kết quả đó. ở đây, các chi phí thực hiện kết quả có thể 25
đƣợc biểu hiện bằng chi phí về các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực, tin
lực) và thời gian thực hiện.
Trong công cuộc cải cách hành chính của Nhà nƣớc ta hiện nay - theo
tinh thần của Nghị quyết trung ƣơng Đảng lần thứ VIII (Khoá X) - nền hành
chính nhà nƣớc phải đƣợc hƣớng theo các mục tiêu:
- Gần dân, gần cấp dƣới, gần cơ sở.
- Tập trung, thống nhất, trật tự, kỷ cƣơng.
- Trong sạch và sử dụng có hiệu quả tài sản công.
- Cơ cấu bộ máy gọn, nhẹ, vận hành thông suốt.
- Đội ngũ cán bộ, công chức có kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo và có phẩm
chất đạo đức.
1.3. CHỨC NĂNG VẬN HÀNH CỦA QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH NHÀ NƢỚC
1.3.1. Chức năng kế hoạch
Nếu xét nội dung của quản lý hành chính nhà nƣớc với tƣ cách nhƣ một
quá trình, thì chức năng kế hoạch là chức năng hàng đầu. Việc thực hiện chức
năng này là căn cứ vào những dữ liệu thực tế, khách quan để đƣa ra mục tiêu
tối ƣu, cùng những bƣớc đi, những phƣơng pháp tối ƣu để thực hiện mục tiêu
đã đề ra. Cụ thể hơn, nó đƣợc dùng để chỉ sự lựa chọn các phƣơng án hành
động, sắp xếp các bƣớc đi, các phƣơng pháp, các khâu nhằm đạt tới mục tiêu
và mục đích hành chính nhất định.
Cũng xét từ góc độ vận hành, chức năng kế hoạch có thể đƣợc cấu thành
Chức năng tổ chức bộ máy hành chính có thể đƣợc cấu thành bởi những
chức năng nhỏ hơn và chế ƣớc lẫn nhau:
- Chức năng xây dựng một thể chế tổ chức hành chính hợp lý: Là việc
xây dựng một bộ máy quản lý hành chính có hiệu quả trên cơ sở: 1) Phân chia
các nhiệm vụ chung để thực hiện mục tiêu thành những nhiệm vụ cụ thể, theo
thứ bậc, làm cơ sở cho việc xác định các bộ phận chức năng tƣơng ứng; 2) Căn
cứ theo yêu cầu của nhiệm vụ để xác lập các chức vị, quyền lực, trách nhiệm
và nghĩa vụ của những ngƣời thực hiện trong các tổ chức hành chính các cấp.
- Chức năng chỉ đạo: Là chức năng không thể thiếu để đảm bảo sự ổn
định và trật tự của hệ thống quản lý hành chính. Đó là việc xây dựng một hệ 27
thống chỉ đạo mạnh, có thể xử lý đúng đắn mọi quan hệ giữa tập quyền và phân
quyền. Đống thời, có thể huy động đƣợc tính tích cực và tính sáng tạo của cấp
dƣới.
- Chức năng hiệp đồng: Là việc xây dựng một mối quan hệ hài hòa, thúc
đẩy lẫn nhau giữa các nhân tố trong nội bộ tổ chức hành chính, và giữa các tổ
chức hành chính với nhau. Các phƣơng pháp để thực hiện chức năng này rất
phong phú và đa dạng, trong đó, chủ yếu là thống nhất mục tiêu, thống nhất
chính sách, thống nhất lãnh đạo, tăng cƣờng sự đoàn kết trong tổ chức, sự giám
sát chặt chẽ và sự liên kết đầy đủ.
- Chức năng liên kết: Là sự truyền đạt và trao đổi thông tin, ý kiến, quan
điểm, tƣ tƣởng, tình cảm mà hệ thống quản lý hành chính tiến hành để đạt tới
sự hiểu biết và tin cậy lẫn nhau giữa cấp trên và cấp dƣới, giữa các tổ chức
trong nội bộ hệ thống, hình thành mối quan hệ tốt đẹp giữa con ngƣời và con
ngƣời, tạo sức mạnh liên kết trong quá trình thực hiện mục tiêu.
Trong thực tế, các phƣơng thức liên kết cũng hết sức phong phú và đa
dạng: liên kết chính thức và phi chính thức, liên kết song phƣơng và đa
phƣơng, liên kết cấp trên và cấp dƣới, liên kết ngang cấp Việc sử dụng các
tạo, bồi dƣỡng, phân bổ, sử dụng và đánh giá công chức không những chỉ đƣợc
tiến hành chỉ trong nội bộ của một cơ quan hành chính mà còn phải đƣợc thực
hiện trong toàn bộ hệ thống hành chính nhà nƣớc.
1.3.4. Chức năng ra các quyết định hành chính
Trong quản lý hành chính nhà nƣớc, Quyết định hành chính nhà nƣớc là
phƣơng tiện đặc quyền, bởi nó là sản phẩm biểu thị ý chí của nhà nƣớc, thể
hiện tính mệnh lệnh đơn phƣơng của quyền hành pháp mà mọi đối tƣợng thuộc
phạm vi điều chỉnh phải tuân theo. Chính vì vậy, việc ra các quyết định quản lý
hành chính là chức năng quan trọng nhất trong quản lý hành chính nhà nƣớc,
và là hành vi quan trọng nhất của công chức lãnh đạo, quản lý hành chính nhà
nƣớc.
Mục tiêu của quyết định hành chính là định ra chính sách; đặt ra, sửa đổi
hoặc bãi bỏ các quy phạm pháp luật hành chính; làm phát sinh, thay đổi hoặc
chấm dứt các quan hệ pháp luật hành chính cụ thể để thực hiện các nhiệm vụ,
quyền hạn của quyền hành pháp nhà nƣớc. Hay nói cách khác, việc ra các 29
quyết định hành chính là hành vi của các cơ quan hành chính nhà nƣớc nhằm
đƣa ra các quy định chung hoặc tình trạng pháp lý cụ thể, cá biệt cho công dân
hoặc tập thể công dân.
Việc thực hiện chức năng ra quyết định quản lý hành chính nhà nƣớc là
quá trình tập hợp thông tin, xử lý thông tin, nghiên cứu để đề xuất các phƣơng
án, thẩm định các phƣơng án và ban hành quyết định quản lý hành chính nhà
nƣớc trên cơ sở phƣơng án đã đƣợc lựa chọn. Quá trình này, bao gồm các
bƣớc:
1) Xác định cơ sở để ra quyết định (các căn cứ, nguồn thông tin);
2) Xác định việc đảm bảo yêu cầu của việc ra quyết định:
điều phối. Bởi việc xác lập đƣợc một tiêu chuẩn điều phối cụ thể, hoàn chỉnh,
sẽ có thể định lƣợng và kiểm tra đƣợc những kết quả, những sai lệch của quá
trình thực hiện, để từ đó, có đƣợc những biện pháp điều chỉnh phù hợp.
Tiêu chuẩn điều phối là sự quy định cụ thể của kế hoạch, là những điểm
mấu chốt mà toàn bộ quá trình kế hoạch cần phải chọn ra để đánh giá các kết
quả công việc. Trong thực tế, tiêu chuẩn điều phối hết sức đa dạng, hay nói
cách khác, có những tiêu chuẩn khác nhau ở các lĩnh vực hành chính khác
nhau.
- Lấy được thông tin về những sai sót: Đây chính là việc dựa trên những
tiêu chuẩn điều phối để kiểm tra và dự báo những sai sót trong hành vi quản lý
nhằm có đƣợc thông tin về những sai lệch giữa kết quả của quá trình thực hiện
so với tiêu chuẩn đã đƣợc đặt ra.
Trình tự của quá trình này bao gồm các bƣớc: 1) Phân tích dự báo để
đƣa ra những dự báo nhất định trƣớc khi xuất hiện các sai lệch; 2) Điều tra
hiện trạng, tìm hiểu các hành vi của đối tƣợng bị điều phối và hiệu quả của
công việc; 3) So sánh giữa kết quả điều tra với các tiêu chuẩn điều phối tƣơng
ứng để phát hiện các sai lệch; và 4) Đƣa ra các căn cứ để sử dụng các biện
pháp điều chỉnh.
- Tiến hành các biện pháp điều phối: Đây là quá trình điều chỉnh các
hành vi và quá trình hành chính thông qua các nhiệm vụ cụ thể:
+ Phân định tính chất, thức bậc, mức độ và phạm vi của các sai lệch . +
Xác định các nguyên nhân gây ra sai lệch và sắp xếp theo thứ tự lớn, nhỏ.