Luận văn kiểm toán trong việc thực hiện chức năng quản lý nhà nước về ngoại thương - Pdf 33



BỘ GIÁO DỤC V À Đ À O TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI T H Ư Ơ N G
*************
-ị - '

' I

Ì

HOÀNG VĂN TUÊ

o

KIỂM T O Á N TRONG VIỆC THỰC HIỆN CHỨC N Ă N G
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ NGOẠI THƯƠNG

Chuyên ngành : Kinh tê thê giới và quan hệ kinh tế Quốc t
Mã số : 5.02.12

L U Ậ N V Ã N T H Ạ C sĩ K H O A H Ọ C KINH T Ế
Nguôi hướng dẫn khoa h
c:
Phó giáo sư: Vũ Hãn Tửu h

M

ữ VIÉ N
THI?


đẩu tay của tác giả, là kết quở của quá

trình phấn đấu và học tập không ngừng của tác giả, đổng thời cũng là kết quả
giúp đỡ tận tình của các thầy cô giáo trường Đợi học Ngoại thương Hà Nội,
khoa sau Đại học trường Đợi học Ngoại thương, sự động viên và giúp đỡ của
bạn bè lẫp cao học 4 trường Đợi học Ngoại thương. Tác giả xin chân thành
cảm ơn các thầy cô giáo trong trường Đợi học Ngoại thương, khoa sơn đợi
học trường Đại học Ngoại thương, các bạn cùng lẫp cao học 4 trường Đợi học
Ngoại thương trong quá trình học tập và hoàn thành đề tài.
Tác giả xin chân thành biết ơn PGS Vũ Hữu Tửu đã tận tình hưẫng dẫn,
giúp đỡ tác giả trong suốt quá trình viết và hoàn chỉnh luận văn. Để tỏ lòng
biết ơn đối vẫi PGS Vũ Hữu Tửu, tác giả xin chúc thầy giáo luôn mạnh khoe
để tiếp tục hưẫng dẫn, dìu dắt các thế hệ học trò tiếp theo.
Tác giả xin chân thành cảm ơn lãnh đạo Công ty Dược phẩm Hà Tây đã
tạo điều kiện về thời gian và vật chất để tác giả học tập nghiên CÍŨI đề tài.

Tác giả cũng xin chân thành cảm ơn các anh chị lãnh đạo Cơ quan kiểm
toán Nhà nưẫc, Vụ kiểm toán ngân sách Nhà nưẫc đã giúp đỡ tài liệu và động
viên tác giả hoàn thành bản luận văn.
Tác giả xin chân thành cảm ơn gia đình nội ngoại và cá bạn bè đã động
viên giúp đỡ tác giả trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn. Xin chân
thành cảm ơn vợ và các con đã động viên và giành thời gian để tác giả học
tập nghiên cưu đê tài.

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Hoàng Văn Tuế


MỤC LỤC

vai trò của kiểm toán trong việc thực hiện chức năng quản
lý Nhà nưóc về ngoại thương.
1.1. Ngoại thương và quản lý Nhà nước về ngoại thương

4

1.1.1. Ngoại thương và đặc điểm của ngoại thương.

5

1.. 1.2. Tính tất yếu của quản lý Nhà nước đối với hoạt động ngoại thương

5

1.1.3. Các nguyên tởc quản lý Nhà nước đối với hoạt động ngoại thương

7

Ì. Ì .4. Nội dung công tác quản lý Nhà nước đối với ngoại thương

8

1.1.5. Các biện pháp chủ yếu trong quản lý Nhà nước đối với hoạt động

11

ngoại thương
1.2. Vai trò của kiểm toán trong việc thực hiện chức năng quản lý Nhà

13

24

2.1.3. Địa vị pháp lý của cơ quan kiểm toán Nhà nước trong cơ cấu bộ

32

máy quản lý Nhà nước về hoạt động ngoại thương
2.2. Những thành tựu kiểm toán đối với quản lý ngoại thương

38

2.2.1. Đ ố i với việc phát triển sản xuất kinh doanh ngoại thương

38

2.2.2. Kiểm toán đối với việc thực hiện các quy chế ngoại thương

42


2.2.3. K i ể m toán thực hiện quản lý Nhà nước về ngoại thương thông qua

51

k i ể m toán việc thu thuế và nộp ngân sách Nhà nước
2.3. Những khó khăn trong hoạt động của k i ể m toán ở V i ệ t N a m

54

2.3.1. Địa vị pháp lý của k i ể m toán Nhà nước và nền tảng pháp luật k i n h


64

quản lý Nhà nước - Đ ặ c biệt là k i ể m toán Nhà nước
3.2. Giải pháp vĩ m ô

66

3.2.1. Sớm hình thành bộ phận k i ể m toán Hải quan

66

3.2.2. Hoàn thiện hệ thống k i ể m toán theo hướng k i ể m toán Nhà nước

71

thực hiện quản lý Nhà nước về hoạt động k i ể m toán
3.2.3. Ban hành và hoàn thiện hệ thống chuỗn mực k i ể m toán V i ệ t N a m

73

3.3. Các giải pháp v i m ô

77

3.3.1. Thường xuyên k i ể m toán các tài liệu chứng từ của hàng hoa xuất

77

nhập khỗu

phải có và thông qua hệ thống các biện pháp như H ả i quan và K i ể m

toán. Thông

qua biện pháp H ả i quan nhằm thực hiện việc giám sát - quản lý đ ố i v ớ i việc chấp
hành luật lệ quy định về xuất nhập khẩu và tổ chức thực hiện việc thu các loại t h u ế phí có liên quan đến hàng hoa dịch vồ trong hoạt động ngoại thương. Sử dồng biện
pháp kiểm toán nhằm đảm bảo cho các doanh nghiệp tham g i a hoạt động ngoại
thương, trong đó có cơ quan H ả i quan các cấp, thực hiện đúng đắn các quy định của
N h à nước. T u y nhiên việc sử dồng biện pháp k i ể m toán vào quản lý hoạt động ngoại
thương vẫ=i chưa được nhận thức đúng đắn.
Ngày nay trong xu thế hội nhập khu vực theo chương trình cắt giảm thuế quan
và tạo điều kiện thuận l ợ i cho hoạt động k i n h doanh xuất nhập khẩu, t ự do hoa
thương mại, hoạt động quản lý N h à nước đối v ớ i ngoại thương bằng công cồ k i ể m
toán càng trở nên cần thiết và cấp bách. Quản lý N h à nước bằng k i ể m toán nhằm
k i ể m tra sau đối vói hoạt động ngoại thương của các doanh nghiệp và cơ quan quản
lý hoạt động ngoại thương như cơ quan H ả i quan trong việc chấp hành chính sách
ngoại thương, chính sách thuế. Do vậy đề tài k i ể m toán trong việc thực hiện chức
Hăng quản lý N h à nước về ngoại thương là cần thiết và cấp bách.

Đây là lần đầu tiên ở cấp cao học, đề tài về vai trò quản lý Nhà nước đối với
hoạt động ngoại thương bằng biện pháp k i ể m toán được đề cập, qua đó nâng cao
nhận thức vai trò của biện pháp k i ể m toán và sử dồng có hiệu quả biện pháp này
trong quản lý N h à nước về ngoại thương.


2

2. M ú c đích nghiên cáu;
Qua quá trình nghiên cứu đề tài nhằm nêu lên vai trò của biện pháp kiểm toán
ương việc thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về ngoại thương. Kiểm toán thực

hoạt động ngoại thương trong mối liên hệ mật thiết với biện pháp kiểm toán. Kết
cấu và nội dung bao gồm 3 phần chính: Lời nói đầu, nôi dung, kết luận.
Phần nội dung bao gồm 3 chương:
Chương 1: Khái quát chung về quản lý Nhà nước đối với ngoại thương và vai
trò của biện pháp kiểm toán trong việc thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về
ngoại thương.
Chuông 2: Thực trạng quản lý Nhà nưóc đối với ngoại thương bỉng biện pháp
kiểm toán.
Chương 3: Giải pháp nâng cao vai trò kiểm toán trong việc thực hiện chức
năng quản lý Nhà nước về ngoại thương ở nước ta.
Đề tài nghiên cứu về vai trò kiểm toán trong hệ thống cơ chế quản lý nền kinh
tế của Nhà nước ta đối vói hoạt động ngoại thương là một vấn đề mới mẻ, phạm trù
kiểm toán mời chỉ xuất hiện và vận dụng ở nước ta cùng với quá trình đổi mới nền
kinh tế. Bản thân hoạt động nghiên cứu và áp dụng thực tiễn ngành kiểm toán là quá
trình hoàn thiện dần. Do vậy đề tài không thể tránh khỏi thiếu sót và và tác giả
mong muốn nhận được những ý kiến đóng góp để hoàn thiện hơn nữa.
Qua đây tácgiả cũng xin chân thành biết ơn Phó Giáo sư Vũ Hữu Tửu và các
thầy cô giáo Truông Đại học ngoại thương đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tác giả
trong quá trình nghiên cứu đề tài. Đồng thòi xin chân thành biết ơn các anh chị lãnh
đạo cơ quan Kiểm toán Nhà nước, Vụ kiểm toán ngân sách Nhà nước đã tạo điều
kiện giúp đỡ tác giả nghiên cứu đề tài.


C H Ư Ơ N G 1.
Khái quát chung về quản lý Nhà nước đôi với ngoại thương
và vai trò của kiểm toán trong việc thục hiện chức năng
quản lý Nhà nước về ngoại thương.
1.1. Ngoai thương và quản lý Nhà nuởc về ngoai thương:
Ị.Ị.Ị. Ngoai thưone và dặc điểm của neoaỉ thương.
Ngoại thương là sự trao đổi hàng hoa giữa các nước. Sự trao đổi đó là m ộ t hình

5

Đ ặ c điểm 2: Giữa các nước có sự khác nhau về nguồn lực và điều kiện sản
xuất, nên hao phí lao động và giá thành sản phẩm khác nhau. V i ệ c trao đổi hàng hoa dịch vụ giữa các nước phải dựa trên cơ sở giá cả quốc tế [9].
Đặc điểm 3: T u y hướng ra thị trưủng nước ngoài để hoạt động nhưng ngoại
thương là một bộ phận của quá trình tái sản xuất trong nước, nên m ọ i hoạt đông của
nó phải xuất phát từ mục tiêu của nền kinh tế.
Ngoại thương thực hiện chức năng lưu thông hàng hoa giữa trong nước v ớ i
nước ngoài. V ớ i tư cách là m ộ t khâu của quá trình tái sản xuất xã hội, ngoại thương
tham gia quá trình tạo vốn cho m ở rộng v ố n đáu tư trong nước, chuyển hoa giá trị sử
đụng làm thay đổi cơ cấu vật chất của tổng sản phẩm xã h ộ i và thu nhập quốc dân
được sản xuất trong nước thích ứng với nhu cầu của tiêu dùng và tích Iuỹ, góp phần
nâng cao hiệu quả của nền k i n h tế bằng việc tạo môi trưủng thuận l ợ i cho sản xuất kinh doanh phát triển. V ớ i tư cách là một ngành k i n h tế đảm nhận khâu lưu thông
hàng hoa giữa trong nước và nước ngoài, thông qua mua bán để nối liền hữu cơ giữa
thị trưủng trong nước v ớ i thị trưủng nước ngoài. K h i thực hiện chức năng của mình,
ngoại thương luôn coi giá trị sử dụng là mục đích và giá trị chỉ là phương tiện để đạt
mục đích.
Trong nền kinh tế thị trưủng theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta, v ớ i
sự Tham gia của các thành phần kinh tế vào hoạt động ngoại thương phải đảm bảo
dưới sự quản lý thống nhất của Nhà nước, vì quyền lợi của quốc gia và quyền l ợ i của
chính các doanh nghiệp kinh doanh ngoại thương. Sự quản lý thống nhất đó thể hiện
trên các mặt sau:
- Nhà nước là ngưủi duy nhất ban hành các chính sách và giải thích các chính
sách ngoại thương. Các chính sách này bắt nguồn từ các bộ luật đã được Quốc h ộ i
thông qua hoặc bắt nguồn từ các hiệp định m à Chính phủ V i ệ t N a m đã ký kết vói các
nước hay tổ chức quốc tế
- Chính phủ thông qua các cơ quan chức năng của mình k i ể m soát hoạt động
ngoại thương của các doanh nghiệp nhằm đảm bảo cho các hoạt động của họ phù hợp
với mục tiêu đề ra.


dân, là đòi hỏi khách quan, là nhu cầu nội tại của nền k i n h tế thị trường theo định
hướng xã hội chủ nghĩa và m ở rộng quan hệ quốc tế - đi vào thị trường thế g i ớ i ,
không phân biệt chế độ chính trị và k i n h tế, thì càng đòi hỏi sự quản lý của N h à nước.
N g o ạ i thương là m ộ t ngành k i n h tế tổng hợp. C ó quản lý được nó m ớ i có
thể tác động đến các ngành k i n h tế khác về phát triển nông nghiệp, công nghiệp,
giao thông vận tải. T h ậ m chí ngoại thương lại là chan tay, anh em v ớ i ngành ngoại
giao. C ó quản lý ngoại thương m ớ i có thể có tác động đến chính sách đ ố i ngoại,
đến bộ mặt quốc gia. Vì vậy quản lý ngoại thương là quan trọng đ ố i v ớ i toàn bộ
liền k i n h tế quốc dân, đến k i n h tế trong nước và k i n h tế ngoài nước.


7

1.1.3. Các nguyên tắc quản lý Nhà nước đôi vói hoạt đông ngoai thương:
Nguyên tắc quản lý Nhà nước là tư tưởng chỉ đạo hành động của tổ chức và
hoạt động quản lý Nhà nước xã hội chủ nghĩa, đó là các quy tắc chỉ đạo, những tiêu
chuẩn hành v i m à các cơ quan quản lý Nhà nước phải tuân thủ trong quá trình quản lý
kinh tế nói chung và quản lý ngoại thương nói riêng. Các nguyên tắc đó do con người
đặt ra trên cơ sở những yêu cầu khách quan về tính phù hợp với mốc tiêu quản lý,
phản ánh đúng tính chất và quan hệ quản lý, đảm bảo tính hệ thống - nhất quán và
bằng pháp luật.
Trong nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, Nhà nước quản
lý nền kinh tế nói chung và ngoại thương nói riêng bằng pháp luật, bằng chính sách và
các công cố khác - nhằm làm cho ngoại thương đi đúng hướng, phát huy vai trò tích
cực, hạn chế và ngăn ngừa những tiêu cực của thị trường trong và ngoài nước. Nguyên
tấc quản lý Nhà nước là nguyên tắc tập trung dân chủ, hình thức quản lý là phát huy
vai trò của hạch toán k i n h tế, phương thức quản lý bằng hệ thống các công cố vĩ m ô .
Theo quan điểm hiện nay của Đ ả n g ta có các nguyên tắc quản lý N h à nước về
kinh tế bao gồm :
- Thống nhất lãnh đạo chính trị và kinh tế

chung và đã được pháp luật hoa. Trong điều 3 - chương Ì của Nghị định 33/CP ngày
19/4/1994 của Chính phủ về quản lý Nhà nước đối với hoạt động xuặt khẩu, nhập
khẩu đã qui định rõ :
"Điều 3 : Việc quản lý Nhà nước đối v ớ i các hoạt động xuặt khẩu, nhập khẩu
được thực hiện theo các nguyên tắc :
Ì- Tuân thủ luật pháp và các chính sách có liên quan của Nhà nước về sản
xuặt, lưu thông và quản lý thị trường.
2- Tôn trọng các cam kết với nước ngoài và tập quán thương mại quốc tế.
3- Đ ả m bào quyền tự chủ kinh doanh của các doanh nghiệp và đảm bảo sự
quản lý của Nhà nước." [14]

1.1.4. Nôi dung công tác quản lý Nhà nước đôi vói ngoai thương.
N ộ i dung quản lý Nhà nước đối v ớ i hoạt động ngoại thương chính là việc N h à
nước và các cơ quan quản lý của Nhà nước thực hiện các chức năng quản lý của mình.
V ớ i các chức năng chủ yếu sau đây :
- Tạo môi trường pháp lý, môi trường kinh tế, điều kiện trong và ngoài nước
một cách thuận lợi cho hoạt động k i n h doanh ngoại thương thông suốt giữa trong và
ngoài nước, khai thông các quan hệ bang giao, làm chỗ dựa cho các tổ chức và cá
nhan kinh doanh ngoại thướng, xây dựng cơ sở hạ tầng cần thiết cho k i n h tế ngoại
thương phát triển.


9

- Xác định hành lang pháp lý cho các hoạt động ngoại thương, trong phạm v i
đó các tổ chức k i n h doanh ngoại thương được quyền tự do hoạt động trên nguyên tắc
được làm những gì pháp luật không cấm và những gì không trái với pháp luật.
- Nhà nước thực hiện quản lý ngoại thương bằng quyền lực của mình, bằng hệ
thọng pháp luật, thiết lập cơ chế kiểm tra, kiểm soát hoạt động ngoại thương, định ra
những c h ế tài hữu hiệu đảm bảo trật tự - kỷ cương trong k i n h doanh ngoại thương

giám sát, tận dụng các thời cơ có lợi để phát triển ngoại thương và kinh tế đất nước. Việc
điều chỉnh này thông qua các công cụ và chính sách quồn lý của Nhà nước.
Chức năng quồn lý Nhà nước về ngoại thương đã được cụ (hể hoa trong Luật
Thương mại đã được Quốc hội thông qua ngày 10/5/97 như sau: [10]
"Theo Điều 244 - Quồn lý Nhà nước về thương mại :
Nhà nước thống nhất quồn lý về thương mại bằng pháp luật, chính sách, chiến
lược, qui hoạch và k ế hoạch phát triển thương mại.
Nhà nước điều tiết hoạt động thương mại chủ yếu bằng biện pháp k i n h tế và
các công cụ giá cồ, tài chính, tín dụng.
Theo Điều 245 - N ộ i dung quồn lý Nhà nước về thương m ạ i :
N ộ i dung quồn lý Nhà nước về thương mại gồm :
Ì- Ban hành các văn bồn pháp luật về thương mại, xồy đựng chính sách, chiến
lược, quy hoạch, k ế hoạch phát triển thương mại.
2- T ổ chức đăng ký kinh doanh thương mại.
3- T ổ chức thu nhập, x ử lý, cung cấp thông t i n , d ự báo và định hướng về thị
trường trong nước và ngoài nước.
4- H ư ớ n g dẫn tiêu đùng hợp lý, tiết kiệm.
5- Điều tiết lưu thông hàng hoa theo định hướng phát triển k i n h tế - xã h ộ i của
Nhà nước và theo q u i định của pháp luật.
6- Quồn lý chất lượng hàng hoa lưu thông trong nước và hàng hoa xuất nhập khẩu.
7- T ổ chức, hướng dẫn các hoạt động xúc tiến thương mại.
8- Tổ chức và quồn lý công tác nghiên cứu khoa học thương mại.
9- Đào tạo và xây đựng đội ngũ cán bộ hoạt động thương mại.
10- K ý kết hoặc tham gia các điều ước quốc tế về thương mại.
11 - Đ ạ i diện và quồn lý hoạt động thương mại của V i ệ t N a m ở nước ngoài.
12- Hưóng dẫn, thanh tra, kiểm tra việc thực hiện chính sách, qui hoạch, k ế
hoạch phát triển thương mại và việc chấp hành pháp luật vế thương mại; xử lý v i phạm
pháp luật về thương mại, tổ chức việc đấu tranh chống buôn lậu, buôn bán hàng cấm



hiện Chương trình thuế quan ưu đãi có hiệu lực chung CEPT, cũng như các Hiệp định
thương mại song phương với các nước khác, việc cắt giảm thuế quan là một xu thế tất
yếu. Do vậy, đối với hàng hoa nhập khẩu ngoài biểu thuế nhập khẩu còn có thuế tiêu
thụ đởc biệt và thuế giá trị gia tăng. [8]
T h u ế tiêu thụ đởc biệt là loại thuế gián thu đánh vào một số loại hàng hoa, địch
vụ thuộc đối tượng chịu thuế m à Nhà nước không khuyến khích tiêu dùng. Đ ố i với
hàng nhập khẩu thì đối tượng nộp thuế là nhà nhập khẩu, đối tượng chịu thuế là hàng
nhập khẩu và giá tính thuế : "2. Đ ố i với hàng hoa nhập khẩu là giá tính thuế nhập
khẩu cộng thuế nhập khẩu" (Điều 6 chương l i Luật T h u ế tiêu thụ đởc biệt, ngày
20/5/1998). [12]
"Thuế giá trị gia tăng là thuế tính trên khoản giá trị tăng thêm của hàng hoa,
dịch vụ phát sinh trong quá trình tái sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng" (Luật T h u ế
giá trị gia tăng, điều Ì chương ì). Đ ố i tượng chịu thuế là toàn b ộ hàng hoa dùng cho
sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng ở V i ệ t Nam. V à giá tính thuế "2. Đ ố i với hàng hoa
nhập khẩu là giá nhập tại cửa khẩu cộng với thuế nhập k h ẩ u " (Điều 7 chương l i Luật
Thuế giá trị gia tăng). Hàng hoa diên chịu thuế tiêu thụ đởc biệt không phải nộp thuế
giá trị gia tăng ở khâu đã chịu thuế tiêu thụ đởc biệt. [ l i ]
- Công cụ phi thuế quan: bao g ồ m các công cụ như là hạn ngạch, những qui
định về tiêu chuẩn kỹ thuật, trợ cấp xuất khẩu, hạn chế xuất khẩu tự nguyên.


13

Hạn ngạch là công cụ phổ biến trong hàng rào phi thuế quan. Hạn ngạch là q u i
định của Nhà nước về số lượng hoặc trị giá của mặt hàng hay m ộ t nhóm hàng được
phép xuất hay nhập khẩu từ một thị trường trong một thời gian nhất định, thông qua
hình thức cấp giấy phép.
Đ ả thực hiện các công cụ của chính sách quản lý ngoại thương và các phương
pháp quản lý Nhà nước về ngoại thương, cần thiết phải sử dụng các biện pháp tương
ứng, trong đó biện pháp hải quan là chủ yếu đả trực tiếp giám sát, quản lý hàng hoa d i

mội doanh nghiệp, một bộ phận doanh nghiệp, thậm chí m ộ t cá nhân, có thể là m ộ t
ngành hay một bộ phận trong ngành.
- Báo cáo kết quả : khâu cuối cùng của quá trình k i ể m toán là báo cáo kết quả
kiểm toán. T u y thuộc vào loại k i ể m toán m à báo cáo k i ể m toán có thể khác nhau,
nhưng trong m ọ i trường hợp chúng đòi phải thông tin cho người đọc về mức độ tương


15

quan và phù hợp giữa các thông tin có thể định lượng của m ộ t đơn vị và các chuẩn
mực đã được xây dựng.
Theo chức năng, k i ể m toán bao gồm 3 loại : k i ể m toán hoạt động, k i ể m toán
tuân (hủ và k i ể m toán báo cáo tài chính.
- K i ể m toán hoạt động (Operational A u d i t ) : là việc k i ể m toán để đánh giá tính
hữu hiệu và tính hiệu quả trong hoạt động của bộ phận hay (oàn bộ m ộ t tổ chức, m ộ t
đơn vị.
- K i ể m toán tuân thủ (Compliance A u d i t ) : M ụ c đích là xem xét bên được k i ể m
toán có tuân thủ các thủ tục, nguyên tớc, quy chế m à cơ quan có thẩm quyền cấp trên
hoặc cơ quan chức năng của Nhà nước đã đề ra. Loại k i ể m toán này còn g ọ i là k i ể m
toán tính quy tớc (Regularity A u d i t ) : như là k i ể m toán thuế về việc tuân thủ các luật
thuế ở các đơn vị, k i ể m toán của cơ quan chức năng của Nhà nước đ ố i với các doanh
nghiệp Nhà nước về việc chấp hành chính sách, chế độ, quy định về mặt pháp lý.
- K i ể m toán báo cáo tài chính ( A u d i t o f íinanciãl statements) : là việc k i ể m tra
và xác nhận tính trung thực, hợp lý của báo cáo tài chính cũng như báo cáo tài chính
có phù hợp với các nguyên tớc, chuẩn mực k ế toán được thừa nhộn.
Theo chủ thể kiểm toán có k i ể m toán nội bộ, k i ể m toán độc lập và K i ể m toán
Nhà nước.
- K i ể m toán nội bộ (Internal A u d i t ) : là loại k i ể m toán do các k i ể m toán viên
nội bộ của đơn vị tiến hành, nhằm k i ể m tra - đánh giá tính hiệu lực và hiệu quả của hệ
thống k ế toán và hệ thống k i ể m soát nội bộ, cũng như chất lượng thực thi những trách


liệu,

số liệu

kế toán và báo cáo quyết toán của các đơn vị k ế toán là căn cứ cho việc điều hành,
quản lý hoạt động ở đơn vị, cho các cơ quan quản lý cụp trên và các cơ quan tài chính
Nhà nước xét duyệt quyết toán hàng năm của các đơn vị k ế toán , cho các cơ quan
thuế tính toán số thuế và các khoản nộp khác của đơn vị đối với ngân sách Nhà nước,
cho các cổ đông, các nhà đầu tư, các bên tham gia liên doanh, các khách hàng và các
tổ chức, cá nhân xử lý các m ố i quan hệ về quyền l ợ i và nghĩa vụ của các bên có liên
quan trong quá trình hoạt động của đơn vị".
"Hoạt động K i ể m toán độc lập còn giúp các đơn vị k ế toán phát hiện và chụn
chỉnh kịp thời các sai sót do vô tình hay c ố ý, phòng ngừa các v i phạm và thiệt hại có
thể xảy ra trong kinh doanh và sử đụng kinh phí " (Điều Ì - Quy c h ế k i ể m toán độc
lập (rong nền kinh tế quốc dân) [16].
- K i ể m toán nội bộ là tổ chúc kiểm toán được thành lập trong từng ngành, từng
Bộ, từng đơn vị. Đ ó là công việc do những nhân viên chuyên trách và có trình độ nhụt
định về kế toán, kiểm toán tiến hành trong các doanh nghiệp hoặc các đơn vị nhằm
kiểm tra tình hình thực hiện các quy chế nội bộ, tiến hành thực thi công tác k ế toán tài
chính, cung cụp các thông tin cần thiết cho lãnh đạo đơn vị. K i ể m toán n ộ i bộ góp
phần làm lành mạnh hóa tình hình tài chính đơn vị và là cơ s ở đáng t i n cậy của K i ể m
toán Nhà nước k h i tiến hành kiểm toán đơn vị.
N h ư vậy k i ể m toán là công cụ không thể thiếu trong quản lý N h à nước đối v ớ i
nền kinh tế quốc dân phát triển theo cơ chế thị trường có định hướng của nhà nước.
Hoạt động ngoại thương là một lĩnh vục quan trọng, tiếp tục quá trình lưu thông hàng
hóa giữa trong nước v ớ i thị trường nước ngoài là quá trình tiếp tục và là m ộ t khâu
quan trọng của tái sản xuụt xã hội, cũng chịu sự quản lý của N h à nước và trong đó có
sự tham gia của ngành k i ể m toán. Vơi trò kiểm toán trong quàn lý Nhà nước đối với
hoạt dộng ngoại thương thể hiện cụ thể qua quá trình kiểm toán tuân thít luật phái? và

Các cơ quan quản lý Nhà nước đối v ớ i hoạt động ngoại thương như là Bộ
thương mại và các tổ chức xúc tiến thương mại ở trong và ngoài nước, Bộ k ếhoạch và
đầu tư, Bộ Tài chính, Tổng cục H ả i quan .... thường có bộ phận k i ể m toán n ộ i bộ và
được kiểm toán bởi K i ể m toán Nhà nước. Trong đó chủ yếu là ngành H ả i quan và có
liên quan đến việc chặp hành pháp luật về thuế xuặt nhập khẩu, luật thuế giá trị g i a
tăng và luật thuế tiêu thụ đặc biệt đối với hàng hóa xuặt nhập khẩu. Các doanh nghiệp
tham gia hoạt động ngoại thương thường có bộ phận k i ể m toán n ộ i bộ và thực hiện
kiểm toán bởi cơ quan K i ể m toán Nhà nước và hoặc tổ chức k i ể m toán độc lập liên
quan đến báo cáo quyết toán của các doanh nghiệp hoạt động ngoại thương, đến việc
tuân thủ chính sách ngoại thương và các luật thuế có liên quan hoạt động ngoại
thương, đến tính hiệu quả trong kinh doanh ngoại thương.
T ó m lại K i ể m toán là một công cụ thực hiện chức năng k i ể m tra giám sát của
Nhà nước đối với hoạt động ngoại thương nhằm đánh giá những hiệu quả trong hoạt
động ngoại thương, kiểm tra việc chặp hành các nguyên tắc, quy c h ếvà pháp luật
trong kinh doanh Ngoại thương, k i ể m tra và xác nhận tính trung thực hợp lý của các
tài liệu chứng từ và báo cáo tài chính của các doanh nghiệp k i n h doanh Ngoại thương,
của cơ quan H ả i quan và cơ quan thuế các cặp. Thực hiện chức năng k i ể m tra giám
sát của mình kiểm toán thực hiện k i ể m tra và xác minh tính chặt hợp lý, hợp lệ của
các chứng từ trong kinh doanh Ngoại thương và của các báo cáo tài chính. Các công
việc kiểm tra và giám sát của k i ể m toán đối với ngoại thương chủ yếu được thực hiện
bởi cơ quan kiểm toán Nhà nước.

1.2.3. Kinh nghiêm mót sô nước trong quản lý Nhà nước vé Ngoai thương
bằng biên pháp kiểm toán.
K i ể m toán N h à nước của Cộng hoa Liên bang Đ ứ c ra đời cách đây 280 n ă m
với tư cách là một thể chếđộc lập về k i ể m tra tài chính, là cơ quan k i ể m toán t ố i cao
độc lập với cả Quốc hội và Chính phủ. K i ể m toán N h à nước Liên Bang và k i ể m toán
Nhà nước các Bang đều có vị trí pháp lý rặt cao, được hiến pháp, Luật Ngân sách N h à
nước, luật cơ quan K i ể m toán Nhà nước Liên bang quy định. ở các doanh nghiệp ngoại
thương, trong nội bộ có kiểm toán nội bộ, đồi k h i có kiểm toán độc láp hoặc kiểm toán


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status