chức năng quản lý nhà nước về kinh tế bảo đảm cơ sở hạ tầng phát triển kinh tế - Pdf 22

Chức năng quản lý Nhà nước về kinh tế:
BẢO ĐẢM CƠ SỞ HẠ TẦNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ.
1. THẾ NÀO LÀ CHỨC NĂNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ KINH TẾ
Nhà nước thực hiện vai trò kinh tế của mình không chỉ bằng việc xây dựng và
quản lý khu vực kinh tế nhà nước mà quan trọng hơn là quản lý toàn bộ nền kinh tế quốc
dân bao gồm cả kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư bản tư nhân, kinh tế cá thể
tiểu chủ, kinh tế tư bản nhà nước và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Để quản lý được
nền kinh tế quốc dân. Nhà nước phải thực hiện rất nhiều loạ công việc khác nhau. Những
công việc này hình thành nên khái niệm chức năng quản lý nhà nước về kinh tế .
Chức năng quản lý nhà nước về kinh tế là hình thức biểu hiện phương hướng và
giai đoạn tác động có chủ đích của Nhà nước tới nền kinh tế quốc dân. Là tập hợp những
nhiệm vụ khác nhau mà Nhà nước phải tiến hành trong quá trình quản lý nền kinh tế quốc
dân.
Quản lý nhà nước về kinh tế là quản lý toàn bộ nền kinh tế quốc dân với tính cchs
là một hệ thống lớn phức tạp. Đó là tổng thể các nghành kinh tế, các vùng, các địa
phương cùng các sở kinh tế của chúng. Nhà nước quản lý nền kinh tế quốc dân trên quy
mô toàn xã hội việc thực hiện hàng loạt chức năng, có sự phân biệt với chức năng quản lý
sản xuất – kinh doanh của các sơ sở kinh tế.
2. BẢO ĐẢM CƠ SỞ HẠ TẦNG LÀ NHƯ THẾ NÀO?
2.1. Tính tất yếu khách quan Nhà nước bảo đảm cơ sở hạ tầng phát triển kinh tế.
Do tính chất quan trọng của cơ sở hạ tầng là nền móng cho sự phát triển của tất cả
các ngành, các lĩnh vực kinh tế xã hội nên việc phát triển cơ sở hạ tầng được coi là nhiệm
vụ hàng đầu của bất kỳ quốc gia nào trong bất cứ giai đoạn phát triển nào. Điều này xuất
phát từ các lý do chính sau:
- Việc phát triển và đảm bảo cơ sở hạ tầng không những thể hiện một xã hội phát
triển ổn định bền vững, văn minh mà còn thể hiện chiến lược quản lý kinh tế cụ
thể có hiệu quả của Chính phủ.
- Dịch vụ kết cấu hạ tầng có vai trò to lớn đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế.
cơ sở hạ tầng được xem như là điều kiện tiên quyết để phát triển kinh tế. Việc đảm
bảo cơ sở hạ tầng vừa là cầu nối kết nối sức mạnh các giữa ngành, các lĩnh vực
sản xuất với nhau cũng như bảo đảm kết nối giữa các trung tâm kinh tế với các

đã phải chết do bản thân vô cẩn tắc, do người khác gây ra, hoặc do sự thơ ơ của bộ máy
quản lý xã hội ở các cấp.
Nguyên nhân nào gây ra những tổn thất to lớn và không đáng có từ những
TNGT, chúng ta hãy nhìn lại bức tranh giao thông của xã hội Việt nam để phần nào hiểu
rõ nguyên do này:
* *THỰC TRẠNG GIAO THÔNG Ở VIỆT NAM
22
a, Nói về cơ quan lập pháp.
Hệ thống luật pháp: Phải nói Việt nam có một hệ thống luật pháp chưa phù hợp
với sự phát triển xã hội và hội nhập Quốc tế với một nền kinh tế thị trường đa phương,
nhưng rất may Luật về Giao thông và ATGT thì lại rất hoàn chỉnh. Luật được soạn thảo
ngắn gọn, rõ ràng, dể hiểu và rất dể áp dụng. Trong bộ luật đã có nhiều phần rất cụ thể
như luật đi lại, luật vận chuyển, luật vượt, luật nhường đường,….các phần viết rất rõ
ràng và đã được chuẩn hoá thành các câu hỏi và trả lời phục vụ cho công việc thi cử cho
các học viên dưới dạng thi trắc nghiệm
Mặt khác qua hệ thống thông tin đại chúng như Phát thanh, Truyền hình, Báo chí
hàng ngày truyền tải hướng dẫn, phổ cập luật đến người dân cũng rất chi tiết và rõ ràng
b, Nói về hệ thống các cơ quan hành pháp.
Bộ máy hành pháp bao gồm Chính phủ và nhiều cơ quan có những nhiệm vụ khác nhau,
nhưng trong đó tập trung chủ yếu vào một số cơ quan chính sau:
* Bộ công an: Cục cảnh sát giao thông thuộc Tổng cục cảnh sát - Bộ công an là Cơ quan
quản lý trực tiếp mọi vấn đề thuộc về giao thông, từ khâu phổ cập hướng dẫn thi hành
luật giao thông đến dân chúng, rồi đến khâu xử phạt hành chính đối với người vi phạm
luật giao thông khi tham gia giao thông như vậy, phải nói rằng Cục cảnh sát giao thông có
4 nhiệm vụ cơ bản đó là
- Phổ cập, hướng dẫn luật giao thông đến các tổ chức xã hội và dân chúng để mọi người
chấp hành tốt luật giao thông khi tham gia GT nhằm đảm bảo trật tự và ATGT của người
và phương tiện tham gia GT, giảm thiểu tối đa tình trang ách tắc GT và TNGT.
- Xây dựng, quản lý, điều hành mạng giao thông nhằm chỉ dẫn, chỉ báo cho người tham
gia giao thông chấp hành tôt luật GT khi tham gia GT

thi khắp cả nước ngày một qua tải trước nhu cầu sử dụng nhiều phương tiện giao thông
đặc biệt la xe ôtô, hầu hết các thành phố lớn trong cả nước đều ùn tắc giao thông. Đường
sá ít, không được xây mới và mở rộng.
Ngành Giao thông chưa thực hiện được vai trò quy hoạch và tham gia tư vấn cho
Chinh phủ trong việc quy hoạch mang giao thông đô thị.
* Cục đăng kiểm:
Cục đăng kiểm là nơi kiểm tra và cấp phép lưu hành phương tiện chủ yếu là xe cơ
giới, nhưng trong nhiều năm qua họ đã không làm tốt điều này Mặt khác xe cộ tham gia
GT ở nước ta thuộc loại cũ nhất, chủ yếu có xuất xứ từ các bải rác khắp các nước trên
Thế giới. Chính vì vậy mỗi khi tai nạn xảy ra có rất nhiều nguyên nhân, từ điểm yếu này
nên Cục đăng kiểm đa bán giấy phép lưu hành nhiều hơn là kiểm tra cấp phép đúng theo
luật.
Chính từ sự thiếu minh bạch này cũng đã góp phần gia tăng tai nạn GT vì xe cộ
không bảo đảm an toàn trước khi được phép lưu hành theo luật định.
44
c, Sự đa dạng hoá trong giao thông và mưu cầu cuộc sống của người dân.
Không nơi nào trên Thế giới lại có nhiều loại phương tiện cùng tham gia GT trên
cùng một tuyến đường như ơ VN ta, nào là ôtô, xe công nông, xe máy, xe bò, xe ngựa, xe
đạp và kể cả tàu hoả…rồi đến người đi bộ và thẩm chí là cả súc vật… tất cả chi trên một
con đường chật hẹp, đường không ra đường, lối khổng ra lối… tất cả chen chúc nhau
thật là kinh khủng…
Các đô thị lớn trong cả nước thường là nơi tập trung nhiều cơ sở đào tạo, là nơi có
nhiều khu CN thu hút nhiều lao động từ các nơi đến và học sinh sinh viên sau khi tốt
nghiệp, vì thế mà các nơi này hàng năm được bổ sung thêm một số lượng lớn người tham
gia GT. Con em ở các tỉnh, sau khi tốt nghiệp ra trường không mấy ai chịu về tỉnh nhà để
công tác, để góp phần xây dựng địa phương mình ngày một giàu có, tất cả và tất cả chỉ
tập trung ở các thành phố lớn. Đây cũng là một trong những nguyên nhân làm gia tăng
mật độ GT ở các thành phố và đô thị.
Đường thì ít lại chật hẹp đặc biệt là các tuyến đường nội thi, ý thức của người
tham gia GT lại kém, mật độ GT cao, đa phương tiện tham gia GT cùng với sự phân

giải toả đền bù nên chi phí thấp, mà chi phí thấp thì dể đội giá lên và như vậy mới có cơ
hội để chia chác, còn nếu như làm đường trong nội thị thì phải giải toả đền bù vốn lớn rất
khó khăn và kéo dài thời gian thi công, chậm thu hồi vốn vả lại chi phí cao, khó nâng giá,
kho có cái để mà chia chác.
Chính sách chuyển đất đai thành hàng hoá của Chính phủ, đã gây khó khăn không
ít cho việc giải phóng mặt bằng và xẩy ra nhiều tiêu cực trong việc đền bù giải toả, kéo
dài thời gian, tăng chi phí xây dựng cũng là một nguyên nhân làm giảm chất lượng công
trình.
Việc buôn bán chính sách của Chính phủ cũng làm cho tình trang GT ngày càng
tồi tệ cụ thể:
- Việc bổ sung luật bắt buộc người khi tham gia GT bằng xe máy phải đội mủ bảo hiểm,
đó là một điều cần thiết, bởi nó sẽ làm giảm thương vong một cách đáng kể khi TNGT
xảy ra. Tuy nhiên mặt trái của nó khi đội mủ nó cũng làm anh hưởng đến sự quan sát và
nghe nhìn, dó cũng là một trong những nguyên nhân gây ra tai nạn, thực tế đã có rất
nhiều người đội mủ bảo hiểm chết khi TNGT xảy ra.
- Về việc nhập khẩu phương tiện cũ, ai cũng biết ở các nước tiên tiến phương tiện GT đã
hết hạn sử dụng hoặc không đảm bảo an toàn và độ tiêu hao nhiên liệu đã quá mức cho
phép bắt buộc phương tiện đó không được cấp phép lưu hành. Như vậy, phải nói phương
tiện cũ đa phần là không đảm bảo an toàn khi tham gia GT đây cũng là nguyên nhân làm
gia tăng TNGT
- Việc Chính phủ cho nhập tràn lan xe máy TQ rồi bây giờ cả xe ôtô TQ, với phương
châm để kéo giá xe trong nước xuống theo đúng giá tri thực của nó và gây áp lực để mở
thêm đường sá. Vì vậy, thời gian qua với nhiều loại XM TQ đã tràn ngập đường sá Việt
nam, nhiều loại xe kém chất lượng nhân cô hội đã tràn vảo không thể kiểm soát được, và
chính chất lượng kém đã dẫn đến nhiều vu TNGT đáng tiếc xẩy ra. Và bây giờ lại cho
nhập xe ôtô TQ và cũng nói như vậy…nhưng đường sá đâu Chính phủ có cho mở nhiều?
66
Tai sao Chính phủ không bắt nhập xe mới tinh, hoặc bộ linh kiện từ các nước phát triển
mà giá ơ đó đâu có cao. Nhiều nước trên Thế giới, giá ôtô con cung cấp cho thi trường
tiêu dùng cũng chỉ có giá từ 2.000 USD cho đến 10.000 USD, nếu tính thuế 200% thì giá

cơ chế chính sách bất cập, từ bộ máy quản lý các cấp đến từng người dân. Để giải quyết
được Quốc nạn này đòi hỏi chúng ta phải có một giải pháp đồng bộ và phải được nghiên
77
cứu thật kỹ. Phải có một chường trình lâu dài, cần phải giải quyết từng khâu, khâu nào
trước, khâu nào sau…chứ không thể nói chung chung mà được…
* MỘT SỐ GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC TÌNH TRẠNG TRÊN
Rất ít nước có tình trạng GT đa phương tiện và hổn độn như ở Việt nam, để đưa ra một
giải pháp hợp lý quả là một việc làm khó, theo tôi có mấy ý kiến nhỏ như sau
- Chấn chỉnh lại tổ chức, đội ngủ CSGT, cần thiết phải kiểm tra kiến thức và sát hạch lại
trình độ nghiệp vụ, nâng cao ý thức giác ngộ chính trị của đội ngủ này. Bố trí lại nhân lực
một cách hợp lý. nâng cao trách nhiệm giảm số lượng nhằm nâng cao thu nhập cho lực
lượng này.
- Nâng lương và phụ cấp cho lực lượng CSGT, bằng cách nâng cao trách nhiệm giao phó
cho cá nhân hoặc tổ nhóm quản lý các cung đường ( theo dạng khoán vậy ), trên cơ sở đó
để quản lý và đánh giá năng lực công tác của CSGT, nếu đoạn đường được giao mình
quản lý không xảy ra tai nạn ách tắc GT thì được thưởng hoặc bị phạt nếu để xảy ra tai
nạn và ùn tắc GT hoặc bị sa thải nếu không làm tốt vai trò trách nhiệm của mình.
- Nhà nước nên tập trung nguồn kinh phí phục vụ cho đầu tư, quản lý GT thu và quản lý
tiền bảo hiểm nhân mạng và phương tiện tham gia GT vào một đầu mối, không để tình
trang mua bán thẻ bảo hiểm tràn lan như hiện nay vì đây là một nguồn thu khá lớn.
- Nhà nước cần sớm ra quy định bắt các phương tiện tham gia GT phải nộp một khoản lệ
hàng năm.
- Quản lý thật tốt các nguồn vốn vay ODA, vay tín dung…nâng cao chất lượng đường sá,
bố trí đồng bộ các trang thiết bị tín hiệu, chỉ giới, hệ thống đèn xanh đèn đỏ sử dụng điện,
pin mặt trời…để lắp đặt cho tất cả các chổ giao nhau trên toàn tuyến đường hoặc những
chổ giao nhau nguy hiểm…giúp cho người điều khiển phương tiện khi tham gia GT biết
để điều khiển tốt phương tiện đúng phần đường của mình và kịp thời xử lý phòng tránh
các sự cố có thể xẩy ra TNGT.
- Quy hoạch lại mạng lưới các Công ty vận chuyển hành khách, sáp nhập các cơ sở nhỏ
thành các cơ sở lớn, có đủ số lượng đầu xe và bộ máy quản lý đủ nămg lực để diều hành

Qua theo dõi có thể nhận ra một trong những vấn đề lớn nhất về giáo dục Đại học
ở Việt Nam hiện nay là vấn đề chất lượng: chất lượng đội ngũ giảng dạy, chất lượng đào
tạo và chất lượng Sinh viên.
Hiện nay trên toàn quốc có khoảng 22.500 giảng viên trong 146 trường Đại học
công và dân lập, trong số này chỉ có 3300 (hay 15%) có trình độ Tiến sĩ hay Phó Tiến sĩ
cũ và 2240 (hay 10%) có trình độ Thạc sĩ. Như vậy, 75% đội ngũ giảng dạy Đại học chỉ
có trình độ cử nhân thật ra tình trạng này còn đáng quan ngại hơn nếu ta nhìn con số
giảng viên có học hàm Giáo sư hay Phó Giáo sư chỉ 7% và phần đông họ đang ở trong độ
tuổi 60 - 65. Nói một cách khác, đội ngũ giảng dạy Đại học ta không những ít, có trình độ
thấp mà còn lâm vào trình trạng lão hóa. Ở các nước kỹ nghệ hóa người ta sẽ cho đây là
một khủng hoảng, tuy nhiên, trong tình hình hiện nay ở Việt Nam nơi mà 75% đội ngũ
giảng dạy chỉ có bằng cử nhân tôi thấy điều kiện này không thực tế và có lẽ không cần
thiết. Thật vậy ở ngay tại các nước có nền giáo dục tiên tiến như Mỹ, Anh, Úc, Âu Châu
và Nhật, một Giáo sư không nhất thiết phải có học vị Tiến sĩ. Tiêu chuẩn được đề bạt
được căn cứ vào những cống hiến của thí sinh trong giảng dạy, nghiên cứu khoa học, hoạt
99
động xã hội, cộng đồng, quản lý hành chính. Và đặc biệt là số lượng và chất lượng các
bài báo đã được công bố trên các tạp chí khoa học quốc tế.
Chất lượng đào tạo và nghiên cứu cũng là một vấn đề lớn. Ở hầu hết các trường
Đại học lớn ở Việt Nam tình trạng thiếu sách Giáo khoa, thiếu phương tiện giảng dạy và
nghiên cứu gần như triền miên. Phần lớn các sách giáo khoa, tạp chí do nước ngoài viện
trợ đều đã quá cũ. Ở bệnh viện Chợ Rẫy, một nơi giảng dạy cho sinh viên y khoa, nhiều
trang thiết bị cơ bản cho thí nghiệm đã quá cũ kỹ. Ở các trường xa thành phố còn xảy ra
tình trạng thiếu sách giáo khoa hay dụng cụ thí nghiệm đến nỗi sinh viên phải học "chay"
tức là học mà không có sách giáo khoa, không làm thí nghiệm. Nếu Sinh viên tốt nghiệp
mà vẫn chưa làm qua nghiên cứu, chưa viết luận văn khoa học thì khác gì học trung học!
Với sự thiếu thốn trầm trọng về đội ngũ giảng viên và phương tiện giảng dạy, ta
không ngạc nhiên thấy sinh viên ra trường còn kém về chất lượng. Ở hệ hậu Đại học tình
trạng chất lượng còn nghiêm trọng hơn nữa. Cái tâm lý hám danh sinh bằng cấp ngàn đời
ở Việt Nam đã đưa đến 10 năm từ khi Việt Nam quyết định chương trình đào tạo hậu Đại

ngoài: Hiện nay, số lượng người Việt đang định cư hay làm việc ở nước ngoài đã lên đến
con số hai triệu, trong số này, có ít nhất là 10% có trình độ Đại học trở lên. Trong số này
có nhiều người có khả năng khoa học kỹ thuật cao, có kinh nghiệm lâu năm trong nghiên
cứu khoa học, có uy tín đối với các cơ quan cung cấp tài chính cho nghiên cứu và quan
trọng hơn nữa, là họ có tâm huyết với nền giáo dục trong nước. Thế nhưng cho tới nay,
việc huy động và sử dụng nguồn nhân lực khoa học này phục vụ đất nước vẫn được tiến
hành một cách có hệ thống.
d. Đẩy mạnh đào tạo đội ngũ giảng dạy: Theo như một thống kê gần đây, trung bình
mỗi năm Việt Nam chỉ đào tạo khoảng 630 người, một con số rất là khiêm tốn, có khi còn
thấp hơn con số của một trường lớn ở các nước phương Tây. Theo Bộ GDĐT từ nay đến
2010, ta cần đào tạo hơn 2500 Tiến sĩ và 4700 Thạc sĩ. Rõ ràng, một số lớn này phải được
đào tạo từ nước ngoài. Do đó, Việt Nam cần mạnh dạn gửi học viên và giảng viên ra
nước ngoài học hậu Đại học nhiều hơn nữa, đồng thời đẩy mạnh hợp tác nghiên cứu với
các Đại học nước ngoài, để qua đó đào tạo được thêm chuyên viên nghiên cứu và giảng
viên với kinh phí vừa phải.
e. Ổn định đời sống các nhà khoa bọc và khoa bảng: Đại học là nơi tập trung những
thành phần trí thức ưu tú, là cái nôi phát triển và nuôi dưỡng nhân tài. Nhưng ở Việt Nam
ngày nay là đại học không có sức thu hút nhân tài, vì tình trạng lương bổng quá nghèo
nàn, không đủ nuôi sống những nhà khoa học có tài thực sự. Vì thế cần phải ổn định một
số nhỏ nhà nghiên cứu làm nghiên cứu cơ bản qua tăng lương một cách xứng đáng cho họ
có thể sinh sống trong một nền kinh tế thị trường, có chính sách cụ thể khuyến khích các
nhà khoa bảng làm nghiên cứu ứng dụng và qua đó tăng khả năng thu nhập riêng cho họ
và cho trường Đại học. Cần phải khuyến khích bằng các phần thưởng xứng đáng về vật
chất và danh dự cho các sinh viên tham gia thành công vào nghiên cứu khoa học.
f. Không thể nào có một nền giáo dục có chất lượng với một ngân sách nghèo nàn. Có thể
nói ngân sách quốc gia dành cho giáo dục ở nước ta còn quá thấp (chỉ 11%), so với các
nước trong vùng như Thái Lan (20%), Malaixia (19%), Hàn Quốc (22%), hay ngay cả
11
Trung Quốc (12%). Vì thế, Chính phủ cần phải tăng cường ngân sách giáo dục lên ít nhất
là 15%.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status