MỞ ĐẦU
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Từ cuối thập niên 70 của thế kỷ XX, nhân loại đã bước sang kỷ nguyên
mới - kỷ nguyên của cách mạng khoa học và công nghệ (KH & CN) hiện đại.
Đến nay, KH & CN đã trở thành động lực phát triển hàng đầu và đóng góp
phần rất lớn vào tăng trưởng kinh tế ở nhiều quốc gia. KH & CN tác động
mạnh mẽ và sâu rộng đến mọi mặt đời sống của con người, sản xuất, xã hội,
chính trị, văn hoá, khả năng an ninh quốc gia và quan hệ quốc tế của các quốc
gia trên thế giới. Nhiều nước coi phát triển KH & CN là "đầu tư cho tương
lai". Nhận rõ vai trò to lớn của KH & CN, Đảng và Nhà nước ta đã sớm đưa
ra những định hướng và biện pháp nhằm thúc đẩy phát triển KH & CN trong
cả nước. Nhờ đó, hoạt động KH & CN trong cả nước có bước chuyển biến
đáng kể, trình độ công nghệ của nền kinh tế được nâng cao.
Tuy vậy, so với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong điều kiện mới
cũng như so với các nước trong khu vực thì trình độ KH & CN của nước ta
còn thấp. Đến nay, Việt Nam vẫn là nước có thu nhập thấp, KH & CN kém
phát triển, thuộc nhóm 80 nước tụt hậu về KH & CN với chỉ số năng lực KH
& CN xếp thứ 94/ 150 nước.
Là một tỉnh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam (KTTĐPN),
Đồng Nai có nhiều tiềm năng và lợi thế để phát triển KT-XH. Tỉnh đã tích
cực và chủ động trong việc phát triển KH & CN như thu hút công nghệ tiên
tiến thông qua đầu tư nước ngoài, hình thành các KCN để hỗ trợ cho các
doanh nghiệp, thực hiện chính sách đào tạo nhân lực Những nỗ lực đó đã
mang lại những kết quả không nhỏ trong phát triển KH & CN trên địa bàn, đã
góp phần không nhỏ vào việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, giải quyết những
1
vấn đề xã hội, môi trường, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân
dân. Tăng trưởng GDP bình quân giai đoạn 2001 - 2004 trên 12% năm, thu
nhập bình quân đầu người năm 2004 khoảng 700 USD - gấp hơn 1,5 lần so
với mức trung bình cả nước.
Bên cạnh những thành tựu đạt được, hoạt động KH & CN và quản lý
Ở Việt Nam, quản lý KH & CN đã được nghiên cứu nhiều ở dạng
phương pháp luận chung nhất để dạy ở các trường đại học, các học viện hoặc
được nghiên cứu ở tầm quốc gia do Bộ Khoa học và Công nghệ, Ủy ban Khoa
học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội thực hiện dưới dạng đề tài cấp
Nhà nước, một vài tỉnh miền Bắc cũng có đề tài về KH & CN.
Ở Đồng Nai, Tỉnh ủy, UBND Tỉnh đã tổ chức tổng kết hoạt động KH &
CN và môi trường giai đoạn 1996-2000. Năm 2003, Tỉnh đã ban hành quy
hoạch phát triển KH & CN và bảo vệ môi trường tỉnh Đồng Nai đến năm 2010,
có tầm nhìn đến năm 2020. Tuy nhiên, đến nay chưa có công trình nào nghiên
cứu vấn đề QLNN về KH & CN trên địa bàn Tỉnh. Vì vậy, những mặt hạn chế
của QLNN cũng như việc đề xuất các giải pháp để tăng cường QLNN về KH &
CN trên địa bàn Tỉnh trong tình hình hiện nay- đổi mới để hội nhập kinh tế
quốc tế chưa được làm rõ.
3. MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
Mục đích nghiên cứu đề tài là trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận
chung và phân tích thực trạng QLNN về KH & CN trên địa bàn tỉnh Đồng
3
Nai để đề xuất những giải pháp có căn cứ khoa học, phù hợp, khả thi tiếp tục
đổi mới QLNN về KH & CN ở địa phương nhằm góp phần đẩy mạnh CNH,
HĐH, góp phần phát triển KT-XH của Tỉnh.
Nhiệm vụ nghiên cứu luận văn:
- Làm rõ cơ sở lý luận về KH & CN và QLNN về KH & CN đối với
phát triển KH & CN trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế
hiện nay.
- Phân tích và đánh giá thực trạng hoạt động KH & CN và QLNN về
KH & CN ở tỉnh Đồng Nai, rút ra những thành tựu, hạn chế để từ đó làm rõ
hơn các vấn đề cần giải quyết.
- Kiến nghị, đề xuất các giải pháp khả thi để đổi mới QLNN về KH &
CN, góp phần tích cực trong việc thúc đẩy phát triển KH & CN trên địa bàn
Tỉnh.
bộ để có hiệu quả cao hơn.
7. KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo,
nội dung chính của luận văn được kết cấu thành 3 chương, 8 tiết.
5
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ
KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
1.1. KHÁI NIỆM, VAI TRÒ CỦA KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
1.1.1. Một số khái niệm cơ bản về khoa học và công nghệ
1.1.1.1. Khái niệm và phân loại khoa học
Khoa học (science) ra đời bắt nguồn từ cuộc đấu tranh của con người
với tự nhiên nhằm làm chủ cuộc sống. Nó lý giải, tìm kiếm nguyên nhân của
các sự vật, hiện tượng, quá trình trong tự nhiên, xã hội và tư duy để trả lời câu
hỏi “Tại sao?” của con người.
Khoa học là một loại hình hoạt động xã hội đặc biệt nhằm đạt tới
những hiểu biết mới và vận dụng những hiểu biết đó vào sản xuất và đời sống
trong những điều kiện KT-XH nhất định. Khoa học là một dạng hoạt động
đặc biệt của con người với những đặc điểm riêng về nội dung, về phương thức
hoạt động, về quy luật phát triển và chức năng xã hội.
Luật khoa học và công nghệ (2000) của Việt Nam nêu rõ: “Khoa học là
hệ thống tri thức về các hiện tượng, sự vật, quy luật của tự nhiên, xã hội và tư
duy”.[37, tr 2]
Có rất nhiều cách phân loại khoa học. Theo Luật KH & CN thì có
nhiều cách để tiếp cận việc phân chia khoa học, phổ biến nhất là hai cách sau
đây:
Một là, tiếp cận đối tượng. Theo cách này, khoa học gồm 2 loại:
6
- Khoa học tự nhiên: Nghiên cứu các sự vật, hiện tượng, quá trình trong
tự nhiên, phát hiện các quy luật, xác định các phương thức chinh phục và cải
+ Công cụ hay còn gọi là phần cứng (kỹ thuật), gồm: trang thiết bị, khí
cụ, nhà xưởng.
+ Con người: gồm kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo, tay nghề, kinh nghiệm,
thói quen…
+ Thông tin (các bí quyết, quy trình, quy tắc), phương pháp, dữ liệu,
bản thiết kế…
+ Tổ chức, quản lý: thể hiện trong bố trí sắp xếp, điều động, quản lý
các yếu tố trên.
1.1.1.3. Mối quan hệ giữa khoa học và công nghệ
Khoa học và công nghệ có mối quan hệ biện chứng với nhau. Mối quan
hệ này là biểu hiện của quan hệ giữa lý luận và thực tiễn, trong đó:
- Khoa học tạo cơ sở lý thuyết và phương pháp cho ứng dụng, triển khai
công nghệ mới vào sản xuất và đời sống. Nếu khoa học cơ bản vạch ra những
nội dung cơ bản, chủ yếu của công nghệ thì khoa học ứng dụng có vai trò cụ
thể hóa lý luận của khoa học cơ bản vào phát triển công nghệ, đưa lại hiệu
8
quả KT-XH trực tiếp.
- Khoa học càng gần với hoạt động sản xuất và đời sống thì việc ứng
dụng triển khai công nghệ càng mang tính trực tiếp nhiều hơn.
- Công nghệ là cơ sở để khái quát hóa thành những nguyên lý khoa học.
Công nghệ còn tạo ra phương tiện làm cho khoa học có bước tiến dài. Khoa
học không chỉ thụ động mô tả, khái quát công nghệ mà còn tác động trở lại
mở đường cho sự phát triển của công nghệ.
Mối quan hệ giữa khoa học và công nghệ được thể hiện qua các giai
đoạn phát triển lịch sử như sau:
- Trước thế kỷ XIX, khoa học thường đi sau và giải thích cho sự phát
triển của công nghệ
Sản xuất ↔ Công nghệ ↔ Khoa học
- Cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX: Khoa học mới tiếp cận kỹ thuật,
công nghệ. Mỗi khó khăn của công nghệ là sự gợi ý cho nghiên cứu khoa học.
tế-xã hội nước ta hiện nay
KH & CN có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển của nhân loại
cũng như của mỗi quốc gia dân tộc. KH & CN là một nguồn lực không thể
10
thiếu được đối với quá trình CNH, HĐH để phát triển KT-XH trong điều kiện
kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế ở nước ta hiện nay.
Vai trò quan trọng của KH & CN được thể hiện ở những mặt sau:
a) Mở rộng khả năng sản xuất của nền kinh tế
- Dưới tác động của KH & CN, các nguồn lực của sản xuất được phát
hiện, khai thác và đưa vào sử dụng ngày càng nhiều và có hiệu quả hơn
- Nguồn lao động biến đổi theo hướng tiến bộ, nâng cao chất lượng, năng
suất và hiệu quả hơn gấp nhiếu lần
- Khả năng huy động và sử dụng tập trung các nguồn vốn có hiệu quả
hơn thông qua các quá trình hiện đại hóa các tổ chức tín dụng, ngân hàng, các
hệ thống thông tin liên lạc, giao thông vận tải…
b) Chuyển nền kinh tế từ phát triển theo chiều rộng sang phát triển theo
chiều sâu
Khoa học mở đường cho kinh tế phát triển, con người cùng với các
phương tiện kỹ thuật hiện đại đã cho ra đời nhiều công nghệ mới. Nhanh
chóng chuyển hướng nền kinh tế phát triển dựa vào trong thiên nhiên, sức lao
động sang nền kinh tế tri thức. KH & CN là phương tiện để chuyển dịch nền
kinh tế có đặc tính nông nghiệp, khai khoáng sang chế tạo, chế biến, tổng hợp,
tái sinh, trong đó, tốc độ phát triển nhanh lao động trí tuệ là những đặc tính
nổi bật
c) Thúc đẩy quá trình hình thành và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Sự phát triển mạnh mẽ của KH & CN không chỉ đẩy nhanh tốc độ phát
triển của các ngành mà còn làm cho phân công lao động xã hội ngày càng trở
11
nên sâu sắc, đưa đến sự phân chia các ngành; làm xuất hiện nhiều ngành,
nhiều lĩnh vực kinh tế mới có liên hệ gắn bó hữu cơ với nhau.
những phương pháp sản xuất mới, mở ra những khả năng mới về kết quả sản
xuất và tăng năng suất lao động, làm tăng nhanh khối lượng sản phẩm, và vì
thế, phần đóng góp của nó trong GNP, GDP ngày càng tăng lên.
Ngày nay, KH & CN đã trở thành thước đo đánh giá trình độ phát triển
kinh tế của mỗi nước.
f) Góp phần tích cực phục vụ tiến bộ, công bằng xã hội
KH & CN đã và đang trở thành công cụ mạnh mẽ làm biến đổi sâu sắc
bộ mặt văn hóa, giáo dục, y tế và bảo vệ môi trường, giúp con người có điều
kiện phát triển về mọi mặt, mở rộng khả năng đáp ứng nhu cầu tri thức,
nghiên cứu khoa học và lao động của con người…
Hay nói cách khác, KH & CN cũng góp phần thúc đẩy mạnh mẽ tiến bộ
xã hội. Nhờ có KH & CN mà kinh tế phát triển, tích lũy xã hội tăng lên tạo
điều kiện thuận lợi để xóa đói, giảm nghèo và giải quyết tốt các chính sách xã
hội, rút ngắn khoản cách giữa người giàu và người nghèo đem lại xã hội công
bằng, văn minh.
KH & CN ngày nay là biểu hiện sức mạnh của trí tuệ loài người, là cơ
sở và động lực quan trọng nhất cho sự phát triển KT-XH của các quốc gia.
13
Nó có khả năng tạo ra những ngành kinh tế mới, những cách thức sáng tạo ra
của cải mới, những đối tượng lao động mới cũng như các cơ hội mới cho sự
phát triển của mỗi con người và quốc gia.
1.2. QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ Ở VIỆT NAM
1.2.1. Khái niệm và nội dung quản lý nhà nước về khoa học và công
nghệ
1.2.1.1. Khái niệm quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ
Quản lý là hoạt động có chủ đích, được tiến hành bởi một chủ thể quản
lý nhằm tác động lên đối tượng quản lý để thực hiện các mục tiêu xác định
của công tác quản lý. Trong mỗi chu trình quản lý, chủ thể quản lý tiến hành
những hoạt động theo các chức năng quản lý như hoạch định mục tiêu, các
đường lối thực hiện mục tiêu, tổ chức, chỉ huy, điều hòa, phối hợp, kiểm tra
thể ở Đồng Nai.
1.2.1.2. Nội dung của quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ
QLNN về KH & CN là sự tác động của Nhà nước tới mọi hoạt động KH
& CN của đất nước. Như vậy, hoạt động KH & CN là đối tượng quản lý của
Nhà nước. Mục đích của QLNN về KH & CN là đảm bảo cho hoạt động KH
& CN diễn ra theo chiến lược phát triển KT-XH và phục vụ cho chiến lược đó
đạt hiệu quả cao, khơi dậy mọi tiềm năng KH & CN của đất nước để xây
dựng đất nước giàu mạnh. Do đó nội dung QLNN về KHCN bao gồm:
15
- Xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển KH & CN để từ
đó hình thành hệ thống các chương trình đề tài, dự án KH & CN.
- Tổ chức, sắp xếp các tổ chức hoạt động KH & CN bao gồm các trung
tâm, viện nghiên cứu và triển khai từ trung ương đến các địa phương và cơ sở.
- Hoạch định và thực hiện các chính sách, thể chế về KH & CN và cơ chế
quản lý KH & CN.
- Tổ chức hệ thống quản lý nhà nước về KH & CN từ trung ương đến cơ
sở, đặc biệt xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý KH & CN và hệ thống thanh tra,
kiểm tra về KH& CN
Nói tóm lại, nội dung QLNN về KH & CN là những hoạt động của Nhà
nước về quyết sách, kế hoạch, tổ chức, chỉ huy, điều tiết và điều khiển đối với
hoạt động KHCN nhằm đạt hiệu quả nhất về KT-XH và môi trường sinh thái
của một quốc gia trong một giai đoạn nhất định.
1.2.2. Hệ thống cơ quan quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ
Hệ thống QLNN về KH & CN bao gồm cơ quan lập pháp, cơ quan hành
pháp và cơ quan tư pháp.
1.2.2.1. Cơ quan lập pháp
Cơ quan quyền lực cao nhất của Nhà nước là Quốc hội, có quyền ban
hành các văn bản pháp luật về KH & CN như Luật KH & CN, các Pháp lệnh
về quản lý KH & CN như Pháp lệnh Đo lường, Pháp lệnh Chất lượng hàng
hóa, Pháp lệnh an toàn và kiểm soát bức xạ. Có quyền quyết định những vấn
Bộ Khoa học và Công nghệ là cơ quan của Chính phủ thực hiện chức
năng QLNN về hoạt động KH & CN, phát triển tiềm lực KH & CN; tiêu
chuẩn, đo lường, chất lượng sản phẩm, hàng hóa; sở hữu trí tuệ, năng lượng
nguyên tử; an toàn bức xạ và hạt nhân; QLNN các dịch vụ công trong lĩnh
vực thuộc Bộ quản lý. Thực hiện đại diện chủ sở hữu phần vốn của Nhà nước
tại doanh nghiệp có vốn Nhà nước thuộc Bộ quản lý theo quy định của pháp
luật.
1.2.2.4. Hội đồng Nhân dân, Ủy ban Nhân dân các cấp
Trách nhiệm QLNN về KH & CN của HĐND, UBND các cấp: UBND
các cấp thực hiện QLNN về KH & CN ở địa phương theo quy định của pháp
luật
* Cấp tỉnh:[38, tr10]
- Nhiệm vụ và quyền hạn của HĐND cấp tỉnh (điều 13-Luật Tổ chức
HĐND và UBND đã được Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam thông qua
ngày 26/11/2003):
1. Quyết định chủ trương, biện pháp khuyến khích việc nghiên cứu, phát
huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, ứng dụng tiến bộ KH & CN để phát triển sản
xuất, kinh doanh và đời sống của nhân dân ở địa phương.
2. Quyết định biện pháp thực hiện các quy định của pháp luật về tiêu
chuẩn, đo lường và chất lượng sản phẩm; ngăn chặn việc sản xuất và lưu hành
18
hàng giả, hàng kém chất lượng tại địa phương, bảo vệ lợi ích của người tiêu
dùng.
- Nhiệm vụ và quyền hạn của UBND cấp tỉnh (điều 91-Luật Tổ chức
HĐND và UBND):
1. Chỉ đạo và kiểm tra việc thực hiện các nhiệm vụ, kế hoạch cụ thể phát
triển KH & CN …, thực hiện các biện pháp khuyến khích việc nghiên cứu,
phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, ứng dụng các tiến bộ KH & CN phục vụ
sản xuất và đời sống;
2. Quản lý các chương trình, đề tài nghiên cứu khoa học cấp tỉnh hoặc
hàng hóa); an toàn bức xạ và hạt nhân trên địa bàn Tỉnh theo quy định của
Pháp luật (theo Thông tư Liên tịch số 15/2003/TTLT-BKHCN-BNV ngày
15/07/2003 của liên Bộ Khoa học và Công nghệ và Bộ Nội vụ hướng dẫn
chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của cơ quan chuyên môn
giúp UBND QLNN về KH & CN ở địa phương) thì Sở Khoa học và Công
nghệ có 16 nhiệm vụ và quyền hạn cụ thể được nêu tương đối chi tiết.
1.2.2.6. Cơ quan chuyên môn cấp Huyện
Cơ quan chuyên môn giúp UBND huyện, quận, thị xã, thành phố trực
thuộc Tỉnh QLNN về KH & CN;
20
Tùy tình hình địa phương, Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ chủ trì
phối hợp với Giám đốc Sở Nội vụ xây dựng phương án tổ chức trình UBND
Tỉnh quyết định hình thức tổ chức cơ quan chuyên môn thực hiện nhiệm vụ
QLNN về KH & CN trên địa bàn huyện. Cơ quan chuyên môn giúp UBND
huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc Tỉnh QLNN về KH & CN có 9 nhiệm vụ
được hướng dẫn tại mục II.1 của Thông tư Liên tịch số 15.
1.3. KINH NGHIỆM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
ĐỐI VỚI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
1.3.1. Kinh nghiệm của một số nước trong quản lý nhà nước về khoa
học và công nghệ
1.3.1.1. Kinh nghiệm của Trung Quốc [40]:
Từ năm 1985, Trung quốc tiến hành cải cách hệ thống khoa học và kỹ
thuật, thiết lập cơ chế liên kết giữa khoa học với sản xuất và áp dụng một loạt
các biện pháp nhằm nâng cao trình độ công nghệ và tính cạnh tranh của các
doanh nghiệp.
- Thực hiện những hợp đồng nghiên cứu: 7.469 Hợp đồng chuyển giao
công nghệ đã được ký kết trong giai đoạn 1985-1998 giữa cơ quan nghiên cứu
và các doanh nghiệp.
- Chương trình đốm lửa: Đây là chương trình chiến lược đầu tiên nhằm
tăng cường phát triển kinh tế nông thôn, chương trình ra đời từ năm 1986
22
công nghệ nhập, nhiều nguồn vốn được huy động cho chương trình, vốn mạo
hiểm ban đầu được cấp cho doanh nghiệp công nghệ mới…
1.3.1.2. Kinh nghiệm của Hàn Quốc [40]:
Để thích ứng với sự phát triển năng động của nền kinh tế tri thức, Hàn
Quốc quyết tâm xây dựng chính sách KH & CN tiên tiến trong thế kỷ XXI để
có thể đạt được lợi ích lớn nhất mà tiềm năng đất nước mới có thể đem lại.
Chính sách KH & CN của Hàn Quốc được xác định:
Thứ nhất, đánh giá và quản lý các chương trình R&D cấp Nhà nước một
cách hiệu quả hơn. Hiện tại, hàng năm Chính phủ dành khoảng 3 tỷ USD cho
các chương trình R&D cấp Nhà nước. Vì vậy, Chính phủ đang tập trung nỗ
lực để nâng cao hiệu quả các chương trình này.
Hội đồng KH & CN quốc gia là các vị Bộ trưởng, giới khoa học, công
nghiệp liên quan giúp Chính phủ điều phối, đánh giá phân tích và quản lý tất
cả các chương trình R&D cấp Nhà nước về liên kết giữa khoa học và sản
xuất.
Ngay từ những năm 80, Bộ Khoa học và Công nghệ Hàn Quốc đã nhận
thấy hiệu quả sự hợp tác giữa Viện Nghiên cứu với các doanh nghiệp nên đã
hình thành sự liên kết dọc để đưa những kết quả nghiên cứu vào sản xuất và
áp dụng công nghệ mới; đồng thời tiến hành liên kết ngang giữa các cơ quan
R&D để tạo ra thị trường công nghệ.
Bộ Khoa học và Công nghệ đã lập ra hệ thống nghiên cứu hỗn hợp, qua
đó các doanh nghiệp có thể tham gia vào các đề án do Bộ giao cho các viện
nghiên cứu. Chính phủ cũng mở rộng nghiên cứu và phát triển cho các doanh
nghiệp tư nhân.
23
Tuy nhiên, sự liên kết giữa các cơ quan R&D không đủ để thương mại
hóa, Hàn Quốc đã áp dụng một chiến lược hỗn hợp: Kết hợp công nghệ ngoại
nhập, làm phù hợp với nhu cầu hoàn thiện công nghệ trong nước để đáp ứng
sự cạnh tranh trên thị trường.
+ Chương trình chiến dịch sách khoa học (The Science Book Start
Campaign), mọi người dân có thể tham gia quyên góp và gửi các loại sách
khoa học cho học sinh các cấp sinh sống tại các vùng sâu.
+ Cuối năm 2003 thành lập Bảo tàng Khoa học quốc gia tầm cỡ thế giới
tại Seoul.
+ Xây dựng một xã hội quan tâm tới khoa học, trong đó, các nhà khoa
học nhận được những sự đánh giá trân trọng vì những đóng góp của họ cho
đất nước, nhân loại.
+ Chuyển 16 trường phổ thông trung học thành các trường cho các học
sinh năng khiếu khoa học. Năm 2003, đã chuyển đổi 2 trường.
Thứ tư, Chính phủ tăng cường đầu tư vào các ngành khoa học cơ bản
nhằm nâng cao trình độ khoa học của Hàn Quốc lên tầm thế giới. Đặc biệt đầu
tư cho các Trung tâm xuất sắc trong nghiên cứu khoa học cơ bản và hỗ trợ
những tài năng có thiên hướng về khoa học cũng như cho các nhà khoa học
trẻ có ý tưởng sáng tạo đặc biệt.
Cuối cùng, Hàn Quốc nỗ lực toàn cầu hóa các hoạt động KH & CN của
mình để kết nối xu hướng đổi mới KH & CN trên thế giới.
25