VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THÀNH THÁI
PHÁP LUẬT VỀ ƯU ĐÃI ĐẦU TƯ VÀ HỖ TRỢ
ĐẦU TƯ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ
TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI, năm 2017
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THÀNH THÁI
PHÁP LUẬT VỀ ƯU ĐÃI ĐẦU TƯ VÀ HỖ TRỢ
ĐẦU TƯ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ
TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Chuyên ngành : Luật kinh tế
Mã số
: 60.38.01.07
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ ƯU ĐÃI ĐẦU TƯ VÀ
HỖ TRỢ ĐẦU TƯ ĐỐI VỚI DNVVN TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ
NẴNG ............ 26 2.1. Thực trạng quy định pháp luật về ưu đãi đầu tư và hỗ
trợ
đầu
tư
đối
với
doanh
nghiệp
vừa
và
nhỏ
................................................................................ 26 2.2. Thực trạng thực
hiện pháp luật về ưu đãi đầu tư và hỗ trợ đầu tư đối với doanh nghiệp vừa và
nhỏ tại thành phố Đà Nẵng ........................................... 39 CHƯƠNG 3.
PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ
ƯU ĐÃI ĐẦU TƯ VÀ HỖ TRỢ ĐẦU TƯ ĐỐI VỚI DNVVN TỪ
THỰC TIỄN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG .............................................. 66 3.1.
Nhu cầu hoàn thiện pháp luật về ưu đãi đầu tư và hỗ trợ đầu tư đối với
UBND
: Ủy ban nhân dân
XHCN
: Xã hội chủ nghĩa
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ưu đãi đầu tư và hỗ trợ đầu tư có tầm quan trọng chiến lược trong sự
tăng trưởng kinh tế và mang lại những tác động tích cực đến KT-XH của mỗi
quốc gia, mỗi địa phương. Với mục tiêu góp phần tạo dựng môi trường pháp
lý ngày càng thuận lợi cho các hoạt động đầu tư, kinh doanh và cộng đồng
DN, đẩy mạnh thu hút đầu tư cho sự phát triển kinh tế và hội nhập quốc tế
ngày càng sâu rộng, Việt Nam luôn chú trọng xây dựng các chính sách ưu đãi
đầu tư và hỗ trợ đầu tư nhằm tạo ra một khung pháp lý hoàn thiện và phù hợp.
Hiện nay, theo thống kê của Cục Phát triển DN - Bộ Kế hoạch và Đầu tư
ở Việt Nam có hơn 600.000 DNVVN đang hoạt động. Khối DN này đóng góp
khoảng 45% vào GDP, 31% vào tổng số thu ngân sách và chiếm khoảng 35%
vốn đầu tư của cộng đồng DN nói chung, thu hút hơn 05 triệu việc làm và
đóng góp gần 50% vào tốc độ tăng trưởng kinh tế quốc gia hằng năm. Số tiền
thuế và phí mà các DNVVN tư nhân đã nộp cho Nhà nước đã tăng 18,4 lần
sau 10 năm. Trong đó, tại thành phố Đà Nẵng số lượng DNVVN chiếm 96%
trong tổng số DN đăng ký, đóng góp vào GDP khoảng 45% và giải quyết
khoảng 60% lao động toàn thành phố.
Mặt khác, thành phố Đà Nẵng là một trung tâm kinh tế của miền Trung
và Tây Nguyên, đang từng bước khẳng định địa vị của mình không chỉ ở Việt
Nam mà cả trên trường quốc tế. Sự phát triển KT-XH của Đà Nẵng thời gian
giác độ kinh tế hoặc pháp lý. Các công trình nghiên cứu dưới giác độ kinh tế
có thể kể đến đó là: Luận văn Thạc sĩ: “Hoàn thiện chính sách phát triển
DNVVN ở Hà Nội trong giai đoạn hiện nay” của tác giả Phạm Minh Tuấn,
năm 2005, Viện quản lý kinh tế - Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh;
Luận văn Thạc sĩ: “DN công nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn tỉnh Đồng Nai
-thực trạng và giải pháp phát triển” của tác giả Nguyễn Thanh Bình,
năm
2
2005, Viện quản lý kinh tế - Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh; cuốn
chuyên khảo “Phát triển DNVVN, kinh nghiệm nước ngoài và phát triển
DNVVN ở Việt Nam” do đồng tác giả Vũ Quốc Tuấn - Hoàng Thu Hòa, Hà
Nội 2001... Mặt khác, nghiên cứu dưới giác độ pháp lý về ưu đãi đầu tư và hỗ
trợ đầu tư đối với DNVVN cũng có các công trình nghiên cứu tiêu biểu như:
Luận văn Thạc sĩ: “Pháp luật về ưu đãi đầu tư ở Việt Nam” của tác giả Lê
Thị Lệ Thu, Trường Đại học Luật Hà Nội, năm 2006; Luận văn Thạc sĩ:
“Pháp luật của Việt Nam về ưu đãi đầu tư với thực tiễn ở tỉnh Quảng Ngãi”
của tác giả Phạm Thị Thanh Ngọc, Trường Đại học Luật Hà Nội, năm 2008;
Khóa luận tốt nghiệp: “Các biện pháp ưu đãi đầu tư và hỗ trợ đầu tư theo
Luật Đầu tư 2005 và thực tiễn áp dụng tại tỉnh Bắc Giang” của tác giả Đoàn
Thị Thúy Nga, Trường Đại học Luật Hà Nội, năm 2011; Khóa luận tốt
nghiệp: “Các biện pháp ưu đãi đầu tư, hỗ trợ đầu tư theo Luật đầu tư 2005
và thực tiễn áp dụng tại tỉnh Nghệ An” của tác giả Nguyễn Thị Trà, Trường
Đại học Luật Hà Nội, năm 2012 và bài báo: “Chủ trương, chính sách phát
triển DNVVN” của Ths. Trần Thị Lưu Tâm, Ths. Phạm Thị Liên Ngọc,
đăng trên tạp chí Tài chính kỳ I tháng 6/2016...
Tuy nhiên, mỗi bài viết chỉ đề cập dưới phương diện lý luận, nhìn nhận ở
trạng thực hiện các quy định về ưu đãi đầu tư và hỗ trợ đầu tư đối với
DNVVN trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Vì vậy, trong khuôn khổ giới hạn của luận văn Thạc sĩ Luật học việc
nghiên cứu đề tài chủ yếu tập trung trong các vấn đề sau:
- Nghiên cứu các vấn đề lý luận cơ bản về ưu đãi đầu tư và hỗ trợ đầu tư
đối với DNVVN;
- Nghiên cứu các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về ưu đãi
đầu tư đối với DNVVN mà chủ yếu là tập trung vào chính sách ưu đãi về
4
thuế, ưu đãi về địa bàn đầu tư, lĩnh vực đầu tư. Chính sách hỗ trợ đầu tư đối
với DNVVN thông qua các hỗ trợ cơ bản như: hỗ trợ tài chính, tín dụng; hỗ
trợ công nghệ; hỗ trợ nguồn nhân lực và trình độ quản lý; hỗ trợ về thủ tục
hành chính;
- Tìm hiểu thực trạng thực hiện các quy định này của pháp luật Việt Nam
tại các cơ quan hữu quan và các DNVVN trên địa bàn thành phố Đà Nẵng kể
từ khi Luật Đầu tư năm 2005 và Luật Đầu tư năm 2014 có hiệu lực thi hành
cho đến nay, rút ra những bất cập, hạn chế trong quá trình thực hiện.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Để nghiên cứu đề tài, Luận văn đã vận dụng phương pháp luận về chủ
nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác –
Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Đồng thời, để đạt được mục đích đề ra Luận văn còn sử dụng phối kết
hợp các phương pháp nghiên cứu sau:
+ Phương pháp phân tích được sử dụng xuyên suốt trong Luận văn để
phân tích các quy định của pháp luật hiện hành về ưu đãi đầu tư và hỗ trợ đầu
Việt Nam khi thực hiện hoạt động ưu đãi đầu tư và hỗ trợ đầu tư đối với các
DNVVN trong khi những công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về vấn
đề trên còn chưa được nghiên cứu một cách có hệ thống.
7. Cơ cấu của Luận văn
Đề tài: “Pháp luật về ưu đãi đầu tư và hỗ trợ đầu tư đối với DNVVN từ
thực tiễn thành phố Đà Nẵng” kết cấu gồm 3 phần: Mở đầu, nội dung và kết
luận. Nội dung được trình bày thành 3 chương, bao gồm:
Chương 1. Những vấn đề lý luận của pháp luật về ưu đãi đầu tư và hỗ
trợ đầu tư đối với DNVVN
Chương 2. Thực trạng pháp luật về ưu đãi đầu tư và hỗ trợ đầu tư đối
với DNVVN tại thành phố Đà Nẵng
Chương 3. Phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về ưu đãi
đầu tư và hỗ trợ đầu tư đối với DNVVN từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng
6
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA PHÁP LUẬT VỀ ƯU ĐÃI
ĐẦU TƯ VÀ HỖ TRỢ ĐẦU TƯ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP
VỪA VÀ NHỎ
1.1. Khái quát về ưu đãi đầu tư và hỗ trợ đầu tư đối với doanh
nghiệp vừa và nhỏ
1.1.1. Quan niệm về ưu đãi đầu tư và hỗ trợ đầu tư
Theo từ điển tiếng Việt thì ưu đãi “là việc dành cho những điều
kiện, quyền lợi đặc biệt hơn so với người khác”. Như vậy, có thể thấy ưu đãi
có sự phân chia đối lập quyền lợi giữa những đối tượng khác nhau, có thể
dành cho những đối tượng này những điều kiện cụ thể có lợi hơn mà với đối
tượng khác không thể có được, kết quả làm cho quyền lợi giữa các đối
tượng không cân xứng với nhau.
vào các lĩnh vực mà Nhà nước quy định, đầu tư vào nơi có điều kiện KT-XH
khó khăn hoặc các ngành nghề thuộc danh mục ưu đãi đầu tư của Nhà nước.
Tuy nhiên, cần xác định rằng, các ưu đãi này phải do Nhà nước quy định và
ban hành hoặc từng địa phương có những chính sách ưu đãi cụ thể nhưng
không được trái với các nguyên tắc của pháp luật, không một ưu đãi nào tự
các nhà đầu tư tự tạo ra cho mình hoặc các địa phương nhằm tạo điều kiện
phát triển KT-XH của địa phương mà ban hành các ưu đãi có lợi cho các nhà
đầu tư mà làm tổn hại đến mục đích của đầu tư.
Trên cơ sở đó, có thể rút ra định nghĩa về ưu đãi đầu tư và hỗ trợ đầu tư
như sau: “Ưu đãi đầu tư và hỗ trợ đầu tư là tất cả các chính sách do Nhà
nước ban hành nhằm tạo điều kiện thuận lợi hoặc tạo ra những lợi ích nhất
định cho các nhà đầu tư trong nước cũng như nhà đầu tư nước ngoài khi tiến
hành đầu tư vào nền kinh tế Việt Nam mà theo quy định của pháp luật được
hưởng các ưu đãi đầu tư hoặc được hỗ trợ đầu tư trên cơ sở kết hợp hài hòa
giữa lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng và lợi ích của các nhà đầu tư”.
8
1.1.2. Sự cần thiết của ưu đãi đầu tư và hỗ trợ đầu tư đối với doanh
nghiệp vừa và nhỏ
- DNVVN đóng góp vào tăng trưởng GDP, góp phần chuyển dịch cơ cấu
kinh tế, tạo công ăn việc làm
Các DNVVN ngày càng đóng góp nhiều hơn vào tổng GDP do số
lượng ngày càng nhiều và phân bố rộng khắp trong hầu hết các ngành, các lĩnh
vực và địa phương. Các DNVVN hiện nay đóng góp khoảng 26% tổng sản
phẩm xã hội, 31% tổng giá trị sản lượng công nghiệp, 78% tổng mức bán lẻ,
64% tổng lượng vận chuyển hàng hóa. Ngoài ra, tốc độ tăng trưởng sản xuất
của khu vực DNVVN cũng thường cao hơn so với các DN khác. Điều đó
Quy mô vốn và năng lực tài chính của nhiều DN còn rất nhỏ bé, vừa kém
hiệu quả, vừa thiếu tính bền vững. Do đó, tính khả thi của những định hướng
chiến lược mở rộng sản xuất, nâng cấp quy trình công nghệ bị hạn chế và làm
cho DN ít chủ động tính đến các phương án này. Hậu quả làm cho các
DNVVN dễ bị lún sâu hơn vào tình trạng tụt hậu.
Khả năng về công nghệ thấp do không đủ tài chính cho nghiên cứu, triển
khai. Tốc độ đổi mới công nghệ và trang thiết bị còn chậm, chưa đồng đều và
chưa theo một định hướng phát triển rõ rệt. Nhiều DNVVN vẫn còn sử dụng
đan xen các thiết bị công nghệ từ lạc hậu, trung bình đến tiên tiến; do vậy,
làm hạn chế hiệu quả vận hành thiết bị và giảm mức độ tương thích, đồng
nhất giữa sản phẩm đầu vào, đầu ra.
Phần lớn các DN phải tự đào tạo tay nghề cho người lao động chứ không
phải lao động được đào tạo qua hệ thống trường dạy nghề tập trung điều này
dẫn đến chi phí cho đào tạo lao động cao, nhưng trình độ hiểu biết khoa học
kỹ thuật của lao động thấp. Năng suất lao động chỉ ở mức trung bình và thấp,
chủ yếu là lao động thủ công, tác phong lao động công nghiệp còn kém.
- Đội ngũ chủ DN, Giám đốc và cán bộ quản lý DNVVN còn nhiều hạn
chế về kiến thức và kỹ năng quản lý, nhất là năng lực kinh doanh quốc tế
Khuynh hướng phổ biến là hoạt động theo kinh nghiệm, thiếu tầm nhìn
chiến lược, thiếu các kiến thức trên các phương diện: quản lý tổ chức, phát
10
triển thương hiệu, chiến lược cạnh tranh... Khả năng tiếp cận thị trường kém,
đặc biệt đối với thị trường nước ngoài. Khả năng quản lý tài chính yếu, ý thức
chấp hành các chế độ chính sách chưa cao, còn lúng túng trong việc liên kết,
nhất là liên kết trong cùng một hội ngành, nghề.
Như vậy, có thể nói rằng các DNVVN quá yếu ớt trong nền kinh tế thị
trường cạnh tranh khốc liệt với những hạn chế: năng lực quản lý yếu, công
nghệ lạc hậu, vốn ít... Do đó, để các DN này phát huy được vai trò của mình
và hỗ trợ đầu tư đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ
1.2.1. Khái niệm, đặc điểm của pháp luật về ưu đãi đầu tư và hỗ trợ
đầu tư đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ
1.2.1.1. Khái niệm pháp luật về ưu đãi đầu tư và hỗ trợ đầu tư đối với
doanh nghiệp vừa và nhỏ
Hoạt động thu hút đầu tư các nhà đầu tư của Nhà nước là một trong
những chiến lược quan trọng để phát triển KT-XH của mỗi quốc gia. Việc
tranh thủ nguồn vốn đầu tư của các nhà đầu tư trong nước cũng như các nhà
đầu tư nước ngoài vào Việt Nam có vai trò vô cùng quan trọng khi đất nước
đang tiến hành công cuộc công nghiệp hóa - hiện đại hóa. Trong bối cảnh đó,
thời gian qua để thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng, Nhà nước đã
ban hành rất nhiều văn bản pháp luật điều chỉnh về chính sách ưu đãi đầu tư
và hỗ trợ đầu tư đối với các DN nói chung trong đó có các DNVVN. Đây thực
chất là những chính sách ưu đãi đặc biệt mà Nhà nước dành cho các nhà đầu
tư nhằm khuyến khích họ bỏ vốn vào nhưng lĩnh vực, địa bàn mà khả năng
thu hút đầu tư còn hạn chế qua đó nhằm mục đích phát triển kinh tế và cân
bằng sự phát triển KT-XH trong những lĩnh vực, địa bàn khác nhau. Trên cơ
sở đó, pháp luật về ưu đãi đầu tư và hỗ trợ đầu tư đối với DNVVN có thể
được hiểu như sau: “Pháp luật về ưu đãi đầu tư và hỗ trợ đầu tư đối với
DNVVN là hệ thống các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành nhằm
điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực đầu tư, sản xuất kinh
doanh của các DNVVN.”
12
Mục đích của pháp luật ưu đãi đầu tư và hỗ trợ đầu tư đối với DNVVN
trước hết là nhằm thu hút các nhà đầu tư bỏ vốn của họ đầu tư vào các lĩnh
vực sản xuất, kinh doanh cụ thể. Việc hướng các quan hệ trong lĩnh vực đầu
tư theo một trật tự có định hướng, đảm bảo đầy đủ các quyền và lợi ích cho
nhà đầu tư là nội dung quan trọng của quản lý nhà nước trong lĩnh vực này.
cách đề ra pháp luật và thực hiện pháp luật trên thực tế. Nhà nước điều chỉnh
hoạt động đầu tư của các DNVVN bằng pháp luật. Do đó, chỉ có điều chỉnh
hoạt động đầu tư của các DNVVN bằng pháp luật thì quyền lực nhà nước mới
có ý nghĩa và mới đem lại hiệu quả thiết thực.
- Thứ ba, pháp luật về ưu đãi đầu tư và hỗ trợ đầu tư đối với DNVVN
phát sinh và phát triển phụ thuộc hoàn toàn vào ý chí của Nhà nước. Tuy
nhiên, sau khi pháp luật về ưu đãi đầu tư và hỗ trợ đầu tư đối với DNVVN đã
được ban hành, các cơ quan nhà nước phải triệt để tuân thủ trong quá trình
thực hiện chức năng quản lý đầu tư. Đây cũng là một trong những nội dung cơ
bản của quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam hiện nay.
- Thứ tư, trong nền kinh tế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước, theo
định hướng XHCN, sự tồn tại của pháp luật về ưu đãi đầu tư và hỗ trợ đầu tư
đối với DNVVN là một nhu cầu khách quan bắt nguồn từ những đòi hỏi của
các quan hệ kinh tế. Đây là điểm khác biệt so với thời kỳ quan liêu, bao cấp,
vì ở thời kỳ này, sự tồn tại của pháp luật như một nhu cầu chủ quan bắt nguồn
từ những đòi hỏi của Nhà nước, là một phương tiện trong tay Nhà nước để
kìm hãm, xóa bỏ những quan hệ kinh tế nào đó một cách duy ý chí.
Sự điều chỉnh hoạt động ưu đãi đầu tư và hỗ trợ đầu tư đối với DNVVN
bằng pháp luật phải bảo đảm cho hoạt động này vận động theo đúng những
quy luật khách quan, không thể áp đặt bằng ý chí chủ quan, duy ý chí. Bằng
pháp luật, Nhà nước tạo môi trường và hành lang pháp lý để những nhà đầu tư
14