VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
**********
ĐINH THỊ THANH NGÀ
HÔN NHÂN HIỆN NAY CỦA NGƯỜI NÙNG AN
Ở XÃ PHÚC SEN, HUYỆN QUẢNG UYÊN,
TỈNH CAO BẰNG
Chuyên ngành: Dân tộc học
Mã số
: 60 31 03 10
LUẬN VĂN THẠC SĨ DÂN TỘC HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS. TS. NGUYỄN THỊ SONG HÀ
HÀ NỘI, 2017
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan trên đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi. Nguồn
dữ liệu điều tra, khảo sát thực địa và nội dung trong luận văn là trung thực và chưa từng
được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác. Các thông tin, tài liệu trình bày và trích
dẫn trong luận văn đều được ghi rõ nguồn gốc.
Mọi sự giúp đỡ của tập thể cũng như cá nhân cho việc hoàn thiện luận văn đều đã
được cảm ơn.
Hà Nội, ngày
quý giá như tiếp thêm niềm đam mê khoa học giúp em hoàn thành luận văn này.
Xin chân thành cảm ơn!
Tác giả luận văn
Đinh Thị Thanh Ngà
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU................................................................................................................................... 1
Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KHÁI QUÁT VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU ......10
1.1. Cơ sở lý luận.....................................................................................................................10
1.2. Khái quát về địa bàn nghiên cứu .....................................................................................13
Chương 2. THỰC TRẠNG HÔN NHÂN CỦA NGƯỜI NÙNG AN ............................27
2.1. Quan niệm về hôn nhân ...................................................................................................27
2.2. Cách thức tìm hiểu bạn đời..............................................................................................28
2.3. Quyền quyết định hôn nhân ............................................................................................30
2.4. Nguyên tắc và hình thức hôn nhân .................................................................................38
2.5. Nghi lễ hôn nhân ..............................................................................................................45
Chương 3. CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỐI VỚI
HÔN NHÂN CỦA NGƯỜI NÙNG AN ............................................................................62
3.1. Các yếu tố tác động đến biến đổi hôn nhân....................................................................62
3.2. Những vấn đề đặt ra đối với hôn nhân người Nùng An hiện nay .................................68
3.3. Một số đề xuất nhằm bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa tộc người .........................75
KẾT LUẬN ............................................................................................................................79
TÀI LIỆU THAM KHẢO ...................................................................................................81
PHỤ LỤC ...............................................................................................................................86
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt
Phổ thông trung học
6
CNH
Công nghiệp hoá
7
HĐH
Hiện đại hoá
STT
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam có 54 thành phần dân tộc, bên cạnh nét đặc trưng văn hóa chung, mỗi dân
tộc đều có nét đặc trưng văn hóa riêng, góp phần làm phong phú thêm nền văn hóa đa
dạng và thống nhất của các dân tộc Việt Nam.
Trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam, người Nùng thuộc nhóm ngôn ngữ Tày Thái, cư trú lâu đời trên đất nước Việt Nam, là một trong 53 dân tộc thiểu số còn bảo lưu
được nhiều yếu tố văn hóa, mang đậm nét đặc trưng tộc người. Theo kết quả Tổng điều tra
dân số và nhà ở năm 2009, người Nùng ở Việt Nam có dân số 968.800 người, đứng thứ 7
ở Việt Nam, với nhiều nhóm địa phương: Nùng An, Nùng Cháo, Nùng Giang, Nùng Dín,
Nùng Lòi, Nùng Inh, Nùng Xuồng, Nùng Quy Rịn và Nùng Phàn Slình. Người Nùng có
mặt trên tất cả 63 tỉnh, thành phố, nhưng cư trú tập trung chủ yếu ở các tỉnh Cao Bằng,
Bắc Cạn, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Hà Giang, Tuyên Quang, Bắc Ninh, Bắc Giang và
nghiên cứu và tìm hiểu về hôn nhân của người Nùng An ở xã Phúc Sen, huyện Quảng
Uyên, tỉnh Cao Bằng giúp tác giả hiểu biết sâu sắc hơn về phong tục, tập quán, đặc biệt là
các giá trị văn hóa trong hôn nhân của người Nùng An. Từ hiểu biết, đánh giá thực trạng
bản sắc và biến đổi văn hóa, việc phát huy giá trị văn hóa tộc người sẽ được chắt lọc,
truyền tải trong từng bài thuyết minh, trong từng trường đoạn trải nghiệm văn hóa, giúp
công chúng hiểu văn hóa, chia sẻ giá trị, thẩm thấu tình cảm, tri thức tộc người, trân trọng
sự đa dạng văn hóa dân tộc.
Từ những lý do nêu trên, tôi đã lựa chọn nghiên cứu đề tài: “Hôn nhân hiện nay
của người Nùng An ở xã Phúc Sen, huyện Quảng Uyên, tỉnh Cao Bằng” làm đề tài luận
văn Thạc sĩ, ngành Dân tộc học.
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Có thể nói, văn hóa các tộc người thiểu số, trong đó có hôn nhân luôn là một đề tài
“hấp dẫn” từ trước đến nay thu hút nhiều nhà nghiên cứu dân tộc học, văn hóa học… Vì
thế, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về hôn nhân và gia đình của đồng bào các dân
tộc Việt Nam, trong đó có hôn nhân của người Nùng.
Các cuốn sách, các bài báo viết về hôn nhân và gia đình của người Nùng đã được
xuất bản thể hiện ở nhiều góc độ văn hóa khác nhau, từ miêu tả khái quát, phân tích sâu
đặc điểm văn hóa truyền thống, biến đổi. Trong đó phải kể đến cuốn: Văn hóa truyền
thống của người Nùng An (xã Phúc Sen, huyện Quảng Uyên, tỉnh Cao Bằng) của tác giả
Nguyễn Thị Yên và Hoàng Thị Nhuận (2010), giới thiệu cho người đọc thấy được những
đặc điểm cơ bản về văn hóa truyền thống và quá trình phát triển tộc người.
Công trình Dân tộc Nùng ở Việt Nam (1992), được tác giả Hoàng Nam giới thiệu
một cách khá toàn diện tộc người Nùng, từ sự phát triển kinh tế - xã hội, văn hóa vật thể,
phi vật thể đến mối liên hệ giữa dân tộc Nùng với các dân tộc khác trong quá trình giao
tiếp và phát triển. Ở cuốn sách này tác giả Hoàng Nam đã dành 9 trang (195 - 203) đã
2
trình bày về tập tục cưới xin của dân tộc Nùng một cách khái quát các bước hôn lễ của
3
(1992) đã có những phân tích, nhận định cụ thể về hôn nhân và gia đình của 2 tộc người
này và hôn nhân của người Nùng đã được phân tích khá cụ thể. Trong cuốn Hôn nhân và
gia đình các dân tộc Tày, Nùng và Thái ở Việt Nam (1994) của Đỗ Thúy Bình đã bước
đầu miêu tả phân tích về đặc điểm, đời sống hôn nhân và gia đình của ba tộc người Tày,
Nùng và Thái, qua đó cho tác giả luận văn hiểu thêm về thể chế xã hội của hôn nhân, một
số phong tục, tập quán, nghi lễ, nghi thức hôn nhân và gia đình người Nùng.
Trong luận án Tiến sĩ Nhân học “Quan hệ dòng họ của người Nùng Phàn Slình” của
tác giả Lê Minh Anh đã phân tích và làm rõ mối quan hệ dòng họ của người Nùng ở huyện
Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn trong qúa trình hỗ trợ nhau về kinh tế, trong đó có hôn nhân đã thể
hiện được đặc tính cố kết cộng đồng của tộc người.
Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Văn hóa học của Lê Thị Hường (2008) là Hôn nhân
của người Nùng Cháo ở xã Bảo Lâm, huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn đã miêu tả khá chi
tiết về hôn nhân truyền thống của người Nùng Cháo để giúp người đọc nhận diện văn hóa
của tộc người.
Ngoài ra, còn có công trình nghiên cứu khoa học tại Bảo tàng Văn hóa các dân tộc
Việt Nam về dân tộc Nùng như cuốn: Hôn nhân và gia đình dân tộc Nùng của tác giả
Nguyễn Thị Ngân và Trần Thùy Dương (2008) đã trình bày về đời sống xã hội của người
Nùng thông qua các phong tục, tập quán, các khuôn mẫu ứng xử trong hôn nhân và gia
đình tộc người Nùng nói chung. Công trình nghiên cứu Lễ cầu tự của người Nùng ở
huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên của tác giả Lương Việt Anh, là những nguồn tài liệu
quý báu giúp tác giả phần nào hình dung được diện mạo, sắc thái của người Nùng để hoàn
thành luận văn này.
Những công trình nêu trên đã khái quát được các phong tục tập quán, các hình thái,
nguyên tắc trong hôn nhân cũng như cấu trúc, quy mô và chức năng của gia đình, là
những tư liệu quý giá nghiên cứu về các vấn đề hôn nhân và gia đình của một số dân tộc
thiểu số Việt Nam trong đó có người Nùng giúp tác giả có một cái nhìn tổng quát toàn
diện về vấn đề nghiên cứu và nhiều nguồn tư liệu kế thừa để hoàn thiện luận văn Hôn
một số nhiệm vụ chính sau:
- Nghiên cứu tổng quát về người Nùng An ở điểm nghiên cứu, nhất là các đặc điểm
liên quan và tác động đến hôn nhân.
- Nghiên cứu làm rõ các đặc điểm, quan niệm, nguyên tắc, hình thức, các bước thực
hành trong nghi lễ hôn nhân, vấn đề cư trú sau hôn nhân và một số vấn đề khác của nhóm
Nùng An tại điểm nghiên cứu.
- Phân tích, đánh giá nguyên nhân của sự biến đổi và xu hướng biến đổi trong hôn
nhân, xác định các giá trị của hôn nhân và những vấn đề đặt ra hiện nay. Từ đó, đề xuất
một số kiến nghị, nhằm phát huy các giá trị hôn nhân trong quá trình phát triển và các yếu
tố tác động đến sự biến đổi này ở người Nùng An.
5
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu chính của luận văn hôn nhân hiện nay người Nùng An ở
xã Phúc Sen, huyện Quảng Uyên, tỉnh Cao Bằng bao gồm: các quan niệm, nguyên tắc
hôn nhân, các nghi lễ trong hôn nhân, cư trú sau hôn nhân.
4.2. Phạm vi không gian
Địa bàn nghiên cứu của luận văn chính là xã Phúc Sen, huyện Quảng Uyên, tỉnh
Cao Bằng. Bên cạnh đó, luận văn còn khảo sát và nghiên cứu thêm một số xã lân cận
tại huyện Quảng Uyên để tìm hiểu rõ hơn về hôn nhân của người Nùng An, có thể thấy
được sự khác và tương đồng của người Nùng An nơi đây.
4.3. Phạm vi thời gian
Luận văn giới hạn phạm vi nghiên cứu từ Đổi mới đất nước (1986) đến nay. Đó
là khoảng thời gian mà tỉnh Cao Bằng nói chung và huyện Quảng Uyên nói riêng có
bước phát triển mới và sự biến đổi sâu sắc cả về kinh tế - xã hội và văn hóa. Hôn nhân
của người Nùng An vừa bảo lưu tính truyền thống, vừa có những biến đổi dưới ảnh
hưởng của các yếu tố chính trị, kinh tế - xã hội.
luận nhóm đối với những thông tín viên phù hợp, nhất là những người am hiểu và có uy
tín như cán bộ địa phương, trưởng họ, thầy cúng, người già, hay chủ gia đình…các đối
tượng được lựa chọn để tiến hành các phương pháp nêu trên phải đảm bảo tính nguyên tắc
về tính đại diện cho lứa tuổi, giới tính, học vấn, điều kiện kinh tế, vị trí xã hội…bên cạnh
đó, trong quá trình điền dã tác giả luận văn cũng áp dụng các công cụ bổ trợ như chụp
ảnh, sưu tầm các tài liệu thư tịch liên quan đến nội dung nghiên cứu.
Với phương pháp điền dã dân tộc học tác giả luận văn đã đi điền dã khảo sát tại xã
Phúc Sen, huyện Quảng Uyên, tỉnh Cao Bằng làm 3 đợt: Đợt 1 khảo sát vào tháng 10 năm
2016 (5 ngày), đợt 2 vào tháng 12 năm 2016 (6 ngày) và đợt 3 vào tháng 1 năm 2017 (7
ngày). Tại địa bàn nghiên cứu, tác giả đã cùng ăn, cùng ở, và tham dự một số nghi lễ dạm
ngõ, ăn hỏi và đám cưới của người Nùng An. Trong thời gian đó, tác giả luôn tận dụng
thời gian có thể để phỏng vấn ông mối, ông quan lang, cô dâu, chú rể, người trong hai
đoàn đón dâu và những người tham dự đám cưới….Đồng thời chụp ảnh về các vấn đề, sự
kiện xảy ra xung quanh lễ cưới của người Nùng An. Bên cạnh đó tác giả còn tham gia
phỏng vấn, thảo luận nhóm với các bậc cao niên hiểu biết sâu về phong tục, tập quán, các
nghi thức cưới hỏi của người Nùng An, các cán bộ làm công tác quản lý, văn hóa xã các
nhà quản lý tại địa phương để từ đó tìm ra được những biến đổi trong hôn nhân của người
Nùng An từ xưa đến hiện nay.
Luận văn còn sử dụng phương pháp so sánh lịch sử (so sánh đồng đại và lịch đại),
để tìm ra những nét đặc trưng riêng của người Nùng An ở xã Phúc Sen, huyện Quảng
Uyên, tỉnh Cao Bằng. Để hoàn thiện luận văn này, tác giả sử dụng các phương pháp hệ
7
thống, phân tích, tổng hợp, đối chiếu các nguồn thông tin tư liệu miêu tả, thống kê, định
lượng để xử lý tư liệu thu thập được trong qúa trình hoàn thành luận văn.
Tổng quan kế thừa các tư liệu có sẵn: Luận văn đã tham khảo, kế thừa những công
trình nghiên cứu trước, luận án, luận văn, tài liệu của các tác giả, nhất là những cuốn sách,
ấn phẩm về hôn nhân nói chung và hôn nhân của người Nùng nói riêng đã được công bố.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, kết luận, phụ lục, tài liệu tham khảo, nội dung nghiên cứu của
luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và khái quát về địa bàn nghiên cứu
Chương 2: Các đặc điểm cơ bản trong hôn nhân của người Nùng An
Chương 3: Các yếu tố tác động đến biến đổi hôn nhân và những vấn đề đặt ra
đối với hôn nhân của người Nùng An hiện nay
9
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KHÁI QUÁT VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU
1.1. Cơ sở lý luận
1.1.1 . Các khái niệm cơ bản
Trong phạm vi nghiên cứu được xác định, luận văn đã làm rõ nội hàm một số khái
niệm liên quan, như: Hôn nhân, nội hôn tộc người, ngoại hôn dòng họ, hôn nhân hỗn hợp
dân tộc, nghi lễ hôn nhân, truyền thống, biến đổi.
Hôn nhân: Trong Từ điển tiếng Việt, hôn nhân được định nghĩa là việc kết hôn giữa
nam và nữ …[63, tr.712]. Theo Từ điển Nhân học, “Hôn nhân là mối quan hệ gắn bó
được thừa nhận về mặt xã hội giữa một người đàn ông và một người đàn bà nhằm mục
đích duy trì nòi giống một cách hợp pháp lập gia đình hạt nhân mới hoặc nhằm tạo ra hộ
gia đình mới” [64, tr.519]. Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam “Hôn nhân là một thể chế
xã hội kèm theo nghi thức xác nhận quan hệ tính giao giữa hai hay nhiều người thuộc hai
giới tính khác nhau (nam, nữ) được coi nhau là chồng và vợ, quy định mối quan hệ và
trách nhiệm giữa họ với nhau và giữa họ với con cái của họ. Sự xác nhận đó, trong quá
trình phát triển của xã hội, dần dần mang thêm những yếu tố mới” [61, tr.389 - 390].
Khi nghiên cứu về hôn nhân, Emily A. Schultz và Robobert H. Lavenda cho rằng:
"Hôn nhân là một quá trình xã hội mà mô hình mẫu của nó là sự kết hợp giữa một người
có tính riêng biệt trong văn hóa của họ. Theo họ, các cuộc hôn nhân cùng tộc, khác tộc,
khác lãnh thổ, khác quốc gia là một tất yếu trong quá trình phát triển, văn hóa tộc người
bao trùm lên theo đó và nền văn hóa tộc người được coi là nền tảng vững chắc để hình
thành các cuộc hôn nhân thông qua các mối quan hệ cộng đồng và các tương tác xã hội.
Bản sắc tộc người là tổng thể những yếu tố vật chất và tinh thần mang tính đặc trưng và
đặc thù của một tộc người, giúp phân biệt tộc người này với tộc người khác, và giữa các
nhóm khác nhau của cùng một tộc người. Bản sắc tộc người được hình thành lâu dài
trong lịch sử, gắn liền với hoàn cảnh kinh tế, xã hội và môi trường tự nhiên của tộc người.
Bản sắc tộc người có sức sống lâu bền, ngay cả khi đời sống của tộc người đã có những
thay đổi mạnh mẽ. Bản sắc tộc người còn thể hiện bản lĩnh của tộc người. Vì vậy áp dụng
lý thuyết bản sắc văn hóa tộc người giúp tác giả luận văn nhận diện được rõ những sắc
thái văn hóa riêng biệt trong hôn nhân của người Nùng An ở xã Phúc Sen.
- Lý thuyết giao lưu, tiếp biến văn hóa: Lý thuyết này được trường phái Nhân học
Anglo - Saxon đưa ra vào cuối thế kỷ XIX để chỉ sự tiếp xúc trực tiếp và lâu dài giữa hai
nền văn hóa khác nhau và hậu quả của sự tiếp xúc đó là sự thay đổi hay biến đổi của một
số loại hình văn hóa ở cả hai nền văn hóa. Theo các nhà Nhân học Mỹ, giao lưu tiếp biến
văn hóa là quá trình trong đó một nền văn hóa thích nghi, ảnh hưởng bởi một nền văn hóa
khác bằng cách vay mượn nhiều nét đặc trưng. Sự giao lưu, tiếp biến văn hóa cũng là một
cơ chế khác của biến đổi văn hóa, đó là sự trao đổi những đặc tính văn hóa nảy sinh khi
các cộng đồng tiếp xúc trực diện và liên tục. Các thành tố của nền văn hóa tuy có biến
đổi, song mỗi nền văn hóa vẫn giữ tính riêng biệt của mình. Tiếp biến văn hóa còn được
hiểu là quá trình biến đổi văn hóa diễn ra do sự tiếp xúc của hai hệ thống văn hóa riêng rẽ
mà kết quả làm cho chúng ngày càng trở nên giống nhau hơn.
Như vậy, lý thuyết về giao lưu, tiếp biến văn hóa cho thấy biến đổi là quá trình tất
yếu của mọi sự vật và hiện tượng, trong đó bao gồm cả văn hóa tộc người nói chung và hôn
nhân nói riêng. Ngày nay, dưới sự tác động của quá trình phát triển, hiện đại hóa, toàn cầu
hóa và xu hướng hội nhập đang diễn ra mạnh mẽ thì sự giao lưu, biến đổi văn hóa của các
Cao Bằng là tỉnh có nhiều dân tộc sống trên địa bàn, gồm 28 dân tộc anh em. Với
dân số toàn tỉnh là 507.183 người, trong đó 11 dân tộc có dân số trên 50 người. [28, tr19].
Trong cộng đồng các dân tộc thiểu số sống ở Cao Bằng dân tộc Nùng đứng thứ hai sau
dân tộc Tày, chiếm 31,1% dân số của tỉnh. Người Nùng trong đó có nhóm Nùng An ở
Cao Bằng đã định cư rất lâu đời, sống tập trung đông nhất tại huyện Quảng Uyên. Người
Nùng An có nhiều phong tục tập quán, di sản văn hóa phong phú đa dạng, mang đặc trưng
bản sắc riêng tộc người. Trong đó không thể không nói đến các di sản văn hóa vật thể và
di sản văn hóa phi vật thể đậm nét độc đáo của người Nùng An.
1.2.2. Khái quát về huyện Quảng Uyên và xã Phúc Sen
Quảng Uyên là một huyện miền núi, Quảng Uyên nằm ở phía Đông của tỉnh Cao
Bằng, trung tâm huyện lỵ cách thị xã Cao Bằng 37 km, phía Bắc giáp huyện Trùng Khánh
13
và Trà Lĩnh, phía Nam giáp huyện Thạch An, phía Đông giáp huyện Phục Hòa và Hạ
Lang, phía Tây giáp huyện Hòa An.
Huyện Quảng Uyên là một vùng đất giàu truyền thống lịch sử và văn hóa dân
tộc. Là một huyện miền núi hiểm trở nhưng Quảng Uyên có hệ giao thông phát triển,
có đường ô tô nối với các huyện đến các xã trong huyện. Quảng Uyên thực sự là một
huyện miền núi có vị trí địa bàn chiến lược hết sức quan trọng, là nơi trung tâm giao
lưu góp phần phát triển kinh tế - xã hội cho huyện và tỉnh Cao Bằng.
1.2.2.1. Lịch sử và điều kiện tự nhiên
Xã Phúc Sen nằm ở trung tâm huyện Quảng Uyên của tỉnh Cao Bằng, phía Bắc
giáp xã Quốc Dân và xã Quốc Phong; phía Đông giáp xã Chí Thảo, phía Nam giáp xã Tự
Do; phía Tây giáp xã Đoài Khôn.
Trước Cách mạng tháng Tám, xã Phúc Sen ngày nay thuộc xã Đoàn Khôn, tổng
Cổ Nông, Châu Quảng Uyên. Sau cách mạng đổi tên là xã Quốc Dân. Từ năm 1958, do
địa bàn xã Quốc Dân quá rộng nên chia tách xã Quốc Dân thành 3 xã: Quốc Dân, Đoài
Khôn, Phúc Sen. Xã Phúc Sen là bí danh của liệt sĩ Hoàng Văn Phình, sinh năm 1919 tại
hoạch tốt. Phía Tây trung tâm xã hơn một cây số qua đèo Kéo Khào là khu vực cánh đồng
khá rộng, ruộng rẫy liền nhau tương đối bằng phẳng.
Nguồn nước ở Phúc Sen không có sông suối, chỉ hình thành mỏ nước sinh thủy,
ngoài 2 mỏ nước chính ở bản Khào và Sinh Mình (Bó Hung), có vài nơi có mạch nước
nhỏ khác nhưng đều khô hạn khi nắng hạn kéo dài. Tuy nhiên, ở dưới lòng đất có 2 khu
cánh đồng đều có mạch túi chứa lượng nước ngầm khá lớn, hình thành nhiều hồ tự nhiên
thông liền nhau.
Thực vật: trên rừng có nhiều loại cây lấy gỗ, củi và cây dược liệu quý nhưng đã bị
khai thác cạn kiệt, số còn lại không đáng kể. Từ năm 1960 đến nay, thảm thực vật dần hồi
phục trở lại nhưng rất chậm, chỉ cây nghiến và cây Kháo, cây xoan Hôi phát triển tương
đối nhanh có thể làm nhà cửa, đóng đồ dùng.
Động vật: Động vật hoang dã trước kia có hổ, báo, gấu, hươu, nai, chồn, khỉ, vượn,
gà gô, sóc, tê tê...nhưng nay chỉ còn chim thú nhỏ. Tổng diện tích tự nhiên của xã là
1285ha, trong đó đất sản xuất công nghiệp 309,61ha, đất nông nghiệp 808,51ha, diện tích
nuôi trồng thủy sản 1,78ha, đất phi nông nghiệp 53,99 ha, đất chưa sử dụng 111,1 ha (Núi
đá không có rừng cây: 29,58 ha)
Cùng với sự phát triển của trồng trọt, chăn nuôi, các ngành nghề thủ công truyền
thống của Phúc Sen cũng được duy trì và phát triển có chiều hướng gia tăng rõ rệt như:
nghề rèn, nghề dệt, nghề làm hương, nghề đan lát, nghề mộc, nghề đục đá và nghề làm
ngói đã thu hút nhiều lao động tham gia và đáp ứng nhu cầu xây dựng cơ sở hạ tầng ngày
càng tăng của địa phương.
Hiện nay, với sự lãnh đạo của chính quyền xã Phúc Sen chỉ đạo tốt chương trình
quốc gia về xây dựng nông thôn mới trên địa bàn xã. Vì vậy đã góp phần giữ vững ổn
15
định chính trị, kinh tế - xã hội tăng trưởng và có những bước phát triển khá; quốc phòng,
an ninh được giữ vững, an sinh xã hội được đảm bảo, diện mạo nông thôn ngày một đổi
mới; đời sống cả về vật chất lẫn tinh thần của nhân dân được nâng lên rõ rệt.
16
cháu nhận biết được dòng họ mình. Bên cạnh đó còn nhằm mục đích báo cáo với tổ tiên
dòng họ về con cháu mình đến thắp hương nhớ về nguồn cội tổ tiên dòng họ.
Nhìn chung, các dòng họ người Nùng An không khác biệt. Riêng dòng họ Nông
trong lễ vật thờ cúng ngày tết nguyên đán hàng năm vào ngày 30 tết thì với dòng họ Nông
mỗi gia đình sẽ làm bánh dày để cúng tổ tiên; Đối với dòng họ Hoàng và họ Lương thì
mỗi gia đình trong dòng họ này lại làm 1 chiếc bánh chưng thật to hay còn gọi là bánh
chưng mẹ để dâng lên cúng tổ tiên.
Như vậy, phong tục tập quán và các nghi lễ trong 14 dòng họ của người Nùng An
ở xã Phúc Sen, huyện Quảng Uyên, tỉnh Cao Bằng cơ bản là giống nhau không phân biệt
nhiều, chỉ có hai, ba dòng họ khác nhau đôi chút về lễ vật đặc trưng cúng vào ngày 30 tết.
1.2.2.3. Một số đặc điểm về kinh tế
- Nông nghiệp trồng trọt: Phúc Sen là vùng thung lũng đá vôi, đất canh tác là các
dải đất tương đối bằng phẳng trong thung lũng và một số sườn chân núi đá vôi. Với diện
tích nông nghiệp ruộng trồng lúa một vụ là 99,29 ha, đất rẫy trồng ngô, màu là 204,85ha.
Chỗ thấp có nước thì làm ruộng cấy lúa, chỗ cao và sườn chân núi là nương rẫy trồng ngô
và cây hoa màu khác. Hàng năm, toàn xã canh tác sản xuất vụ mùa theo cơ cấu nông
nghiệp ruộng một vụ, ngô ruộng xuân và lúa hè thu (vụ chính) và trồng trọt ít rau khoai
vụ đông. Bên cạnh đó, nương rẫy đồng bào trồng đan xen mùa vụ ngô xuân hè, khoai sắn,
đậu đỗ thu đông xen đỗ và bí đỏ.
Chăn nuôi: Hiện nay, đồng bào Nùng An ở Phúc Sen chăn nuôi một số loại
gia súc, gia cầm trâu, bò, ngựa, lợn, gà, ngan, vịt. Tuy là xã nông nghiệp, nhưng tỉ
trọng thu nhập hiện nay từ các sản phẩm nông nghiệp chỉ chiếm trên dưới 50%
tổng thu nhập trong xã.
- Lâm nghiệp: Rừng núi của xã Phúc Sen hiện đã được trồng tái sinh phủ xanh trên
90% diện tích bằng cây Mác chòong, dầu lìu, có xen cây gỗ nghiến, kháo, xoan hôi…sau
hơn 40 năm trồng, bảo vệ, tái tạo, ngày nay xã đã có nhiều vạt rừng gỗ nghiến khá lớn.
Thủy lợi: hệ thống mương nước tưới ruộng của xã khoảng 9 km. năm 2002 xã
Bánh chưng, bánh khảo, chè lam, khẩu si…Vào dịp đầy tháng trẻ nhỏ, gạo nếp được gói
bánh “Coóc mò” (là một loại bánh làm bằng gạo nếp, gói bằng lá chít) để cúng mụ cúng
tổ tiên với mong muốn có được may mắn, hài hòa âm dương con trẻ được bảo vệ bình
an, ngoan ngoãn, khỏe mạnh. Ngày 3/3 âm lịch đồng bào còn chế biến gạo nếp thành xôi
cẩm; Ngày mùng 5 tháng 5 âm lịch gạo nếp đem gói bánh tro; Ngày rằm tháng 7 đồng
bào làm bánh rợm, bánh gai; Tết trung thu (rằm tháng 8 âm lịch) làm cốm; Vào lễ mừng
cơm mới đồng bào làm bánh trôi, dâng cúng các vị thần, cầu cho mọi việc sẽ được vuông
tròn và trôi chảy như chiếc bánh trôi.
Đặc biệt, bánh dày thường được làm vào các dịp lễ sinh nhật, mừng thọ hay dịp
tết thanh minh (Hàn thực), không thể thiếu 2 món đó để dâng cúng tổ tiên và bánh bột nếp
nhân trứng kiến phủ lá vả non ở hai mặt bánh, hoặc bột nếp trộn trứng kiến với lá kiệu
18
đem hấp, tạo ra món bánh rất đặc trưng vừa ngon, vừa ngậy và rất bùi.
Thức ăn hàng ngày của người Nùng An là các loại rau, đậu phụ, đỗ. Thỉnh thoảng
có thịt, cá, các loại rau rừng như rau bò khai, rau ngót, rau âu và rau cải xoong...hoặc các
món rau tự trồng như cải ngồng, cải thảo, ngọn bí đỏ, bí xanh, bầu, cải bắp, xu hào, cải
xanh, cải bẹ, rau dưa; các loại đậu: đậu tương, đậu trắng, đậu xanh, đậu cô ve…
Đồng bào Nùng An chủ yếu chế biến theo cách xào, nấu canh và rất ít luộc.
Vào các dịp lễ tết, cưới xin, đồng bào thường mổ lợn, chế biến các món ăn truyền
thống như: Khau nhục, ba chỉ rán, lạp xường (lạp sườn), thịt xào mộc nhĩ, nấm
hương, thịt xông khói.
Đồng bào ăn các loại thịt như: Thịt lợn, gà, vịt, trứng, tôm, cá. Tùy từng loại
rau, thịt và ý muốn của từng người, từng lúc người ta có thể luộc xào, nấu, kho,
ninh, nướng hợp với những gia vị sẵn có của mỗi gia đình. Người Nùng An không
cầu kì trong ăn uống, họ cũng như người Tày vùng Thung Lũng chỉ có món thịt lợn
quay cả con cùng với lá mác mật, xôi màu và khau nhục làm trong dịp tảo mộ tết
thanh minh hay trong đám cưới.
Thế hệ trẻ Nùng An hiện nay ít mặc quần áo chàm, vì dệt, nhuộm, khâu được bộ
quần áo mất quá nhiều thời gian. Nghề dệt, nhuộm vải chàm ở Phúc Sen tuy vẫn còn,
nhưng chủ yếu những người trung niên biết làm, họ mua sợi Nam Định se lại, dệt tay lấy
vải cắt may trang phục, làm chăn để dành lúc về già. Hiện nay, 100% thanh thiếu niên
mặc quần, áo may sẵn bán ở chợ.
Cư trú: Nhà ở của Nùng An ở Phúc Sen làm khá quy mô, tốn kém. Đó là ngôi nhà
sàn 3 gian bằng gỗ, mái lợp ngói, vì kèo có 24 hoặc 28 cột. (Tầng dưới là chuồng cho súc
vật trâu, bò, lợn, gà; tầng giữa lát ván gỗ người ở, làm bếp, buồng và đồ dùng gia đình.
Trên cùng là gác sép chứa lương thực thực phẩm. (Xem phụ lục ảnh số 2)
Làng bản của người Nùng An thường có vài chục nóc nhà quay lưng vào núi, mặt
trước hướng ra đồng ruộng và vườn, nơi tiện sinh hoạt đi lại và nguồn nước. Nhà
sàn tiện lợi và mát mẻ, nhưng vệ sinh môi trường không tốt. Hiện nay, một số gia
đình đã dựng chuồng trại tách riêng khu nhà ở, môi trường ở đã đảm bảo sạch hơn
trước rất nhiều. Để khuyến khích đồng bào Nùng An di chuyển chuồng trại một
cách triệt để Nhà nước đã có dự án hỗ trợ mỗi gia đình 3.000.000đ (3 triệu đồng),
phấn đấu đến năm 2020 sẽ đạt mức 100%.
Tín ngưỡng: Người Nùng An có tục thờ cúng tổ tiên, bàn thờ luôn đặt ở gian chính
giữa, hướng ra cửa. Trên bàn thờ bài trí thành 2 tầng, mỗi tầng có 2 - 3 bát hương. Tầng
trên thờ các chức quan âm thần thủ giữ nhà, bên cạnh đặt bát hương bà mụ, thần phù hộ
mệnh cho con trẻ sinh sản. Tầng dưới thờ tổ tiên các thế hệ cha ông: đặt 2 bát hương 1 to,
1 nhỏ. Trên mỗi tầng đều có bản giấy đỏ viết chữ Nho, ghi các chức sắc quan âm, dòng
họ. Đồng bào thường thắp hương ngày lễ tết, ngày mùng 1 và 15 âm lịch hàng tháng. Tết
nguyên đán thắp hương liên tục từ chiều tối 30 đến hết đêm mùng 1. Lễ vật trên bàn thờ
20