HIỆN TRẠNG Ô NHIỄM ASEN TRÊN THẾ GIỚI, TẠI VIỆT NAM VÀ ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG - Pdf 46

LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận này, em xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Thầy TS.
Phạm Tiến Dũng, đã tận tình hướng dẫn trong suốt quá trình thực hiện khóa luận
tốt nghiệpvới đề tài: Nghiên cứu đánh giá hiện trạng hàm lượng Asen trong
nước ngầm tại một số tỉnh thành thuộc đồng bằng sông Hồng.
Em chân thành cảm ơn quý Thầy, Cô trong Viện Môi Trường, Trường Đại
Học Hàng Hải Việt Nam đã tận tình truyền đạt kiến thức trong những năm em
học tập. Với vốn kiến thức được tiếp thu trong quá trình học không chỉ là nền
tảng cho quá trình nghiên cứu khóa luận mà còn là hành trang quí báu để em
bước vào đời một cách vững chắc và tự tin.
Mặc dù em đã có nhiều cố gắng hoàn thiện đồ án bằng tất cả sự nhiệt tình
vá năng lực của mình, tuy nhiên, không thể tránh khỏi những thiếu sót, rất mong
nhận được sự đóng góp quý báu của quý thầy cô và các bạn.
Cuối cùng em kính chúc quý Thầy, Cô dồi dào sức khỏe và thành công
trong sự nghiệp cao quý.
Em xin chân thành cảm ơn!
Hải phòng, ngàytháng 11 năm 2015
Người thực hiện
Sinh viên
Trần Thị Thanh Xuân


PHẦN MỞ ĐẦU ................................................................................................ i
1. Tính cấp thiết của đề tài................................................................................ i
2. Việc nghiên cứu nhằm đáp ứng các mục tiêu sau ........................................ ii
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ............................................................... ii
4. Nội dung đề tài ............................................................................................ ii
5. Phương pháp chủ yếu được áp dụng để thực hiện đề tài .............................. ii
6. Ý nghĩa của đề tài ........................................................................................ ii
CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ ASEN ........................................................... 1
1.1. Đặc trưng về Asen .................................................................................... 1

DANH MỤC CÁC BẢNG
Số bảng

Tên bảng

Trang

1.1

Chỉ tiêu hàm lượng Asen theo QCVN 01:2009/BYT

11

1.2

Chỉ tiêu hàm lượng Asen theo QCVN 02:2009/BYT

11
24

2.1

Ô nhiễm Asen trong nước ngầm và số người dân bị
phơi nhiễm ở các nước trên thế giới

27

2.2

Số liệu báo cáo về tình hình ô nhiễm Asen của


Tên hình

Trang

1.1

Một mẫu lớn chứa Asen tự nhiên

1

1.2

Asenic

1

1.3

Cấu trúc của Asenictương tác

3

1.4

Cấu trúc của Asenickhông tương tác

3

1.5

1.10

Sơ đồ công nghệ xử lý Asen sử dụng phương pháp
hấp phụ

20

1.11

Đá ong chỉ cần đập nhỏ, sơ chế là có thể dùng để
loại bỏ asen trong nước

22

1.12

Minh hoạ phương pháp lọc màng

23

2.1

Phân bố Asen trên thế giới

24

2.2

Bản đồ các khu vực nhiễm Asen trên toàn quốc


Hình ảnh mô phỏng mức độ ô nhiễm Asen trong
nước ngầm tại Hà Nội

33


3.2

Bản đồ hành chính tỉnh Hà Nam

36

3.3

Tỷ lệ mẫu nước giếng khoan có nồng độ Asen vượt
QCVN 01-2009 BYT, xã Chuyên Ngoại năm 2011

39

3.4

Hàm lượng Asen trong nước ngầm thô (màu đỏ) và
nước ngầm sau lọc (màu xanh)

40

3.5

Lọc cát sử dụng phổ biến tại xã Hợp Lý – huyện Lý
Nhân

sống nói chung. Gây ra nhiều bệnh tật hiểm nghèo đáng báo động.
Ở khu vực sông Hồng có nguồn nước mặt khá dồi dào. Nước sinh hoạt
cũng như sản xuất ở Đồng bằng sông Hồng chủ yếu sử dụng là nước sông. Với
cách canh tác trồng trọt sử dụng nhiều chất bảo vệ thực vật và chất kích thích
cùng với hoạt động công nghiệp, giao thông, nuôi trồng thủy, hải sản … đã và
đang làm cho nguồn nước mặt ngày càng bị ô nhiễm giảm chất lượng nước.
Đã đến lúc chúng ta phải tính đến khai thác các nguồn nước khác để thay
thế cho nguồn nước mặt. Một trong những nguồn nước phong phú đó là nước
ngầm. Tuy nhiên, nguồn nước ngầm lại có thành phần và tính chất rất khác nhau
ở các vị trí khác nhau. Hơn nữa, nước ngầm còn chứa nhiều loại hợp chất phức
tạp hơn nước mặt, đặc biệt là các ion của các kim loại rất phong phú tan trong
nước. Chính vì vậy, việc nghiên cứu tính chất, thành phần để đưa ra các phương
pháp sử lí nước trước khi dùng là việc làm rất quan trọng. Xuất phát từ những lí
i


trên, chúng tôi đã lựa chọn đề tài “Nghiên cứu đánh giá hiện trạng hàm lƣợng
Asen trong nƣớc ngầm tại một số tỉnh thành thuộc đồng bằng sông Hồng“.
Đề tài này sẽ góp phần làm cơ sở khoa học để đi nghiên cứu các phương pháp
xử lí và khai thác có hiệu quả nguồn tài nguyên nước ngầm quý giá.
2. Việc nghiên cứu nhằm đáp ứng các mục tiêu sau
- Nêu lên được ảnh hưởng Asen đối với môi trường nước ngầm.
- Dựa vào kết quả của nghiên cứu đánh giá được mức độ ô nhiễm.
- Kiến nghị tìm và đưa ra những giải pháp công nghệ và quản lý nhằm xử
lý Asen và phòng ngừa giảm thiểu tác động.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung đánh giá hàm lượng Asen tại đồng bằng sông Hồng.
4. Nội dung đề tài
- Khái quát và đánh giá ảnh hưởng của Asen.
- Phân tích và đánh giá chất lượng nước ngầm và các chi tiêu trong nước

Asen là một nguyên tố có trong nước, không khí, đất, thực phẩm và từ
nhiều cách Asen gây độc cho cơ thể con người.
Ngoài ra, những nơi dân tự động đào và lấp giếng không theo đúng kỹ
thuật khiến nhiều chất bẩn, độc hại bị khuếch tán xuống mạch nước. Cũng như
việc khai thác nước ngầm ở mức độ quá lớn làm cho mức nước trong các giếng
hạ xuống khiến cho khí ôxy đi vào địa tấng và gây ra phản ứng hóa học tạo ra
thạch tín từ quặng pyrite trong đất và nước ngầm nông, ở mức nước ngầm sâu
thì không phát hiện được. Trong công nghiệp, Asen có trong nghành luyện kim,
xử lý quặng, sản xuất thuốc bảo vệ thực vật,phân bón (lân - phốt phát, đạmnitơ) thuộc da. Asen thường có mặt trong thuốc diệt cỏ dại,trừ sâu, diệt nấm….

1


1.1.2. Tính chất cơ bản về Asen
1.1.2.1. Tính chất nguyên tử [11]
Trạng thái ôxi hóa: +5, +3, +2, +1,[2] -3 Axít nhẹ
Độ âm điện: 2,18 (Thang Pauling)
Năng lượng ion hóa: Thứ nhất: 947,0 kJ·mol−1
Thứ hai: 1798 kJ·mol−1
Thứ ba: 2735 kJ·mol−1
Bán kính cộng hoá trị: 119 pm
Bán kính liên kết cộng hóa trị: 119±4 pm
Bán kính Van der Waals: 185 pm
1.1.2.2. Tính chất vật lý[12]
Màu sắc: Ánh kim xám
Trạng thái vật chất: Chất rắn
Nhiệt độ thăng hoa : 887 K (615°C)
Mật độ (gần nhiệt độ phòng): 5,727 g·cm−3 (at 0°C, 101.325 kPa)
Mật độ ở thể lỏng: ở nhiệt độ nóng chảy: 5,22 g/cm−3
Điểm ba trạng thái: 1090K

- As (III) tạo phức với ion Cl- trong dung dịch HCl: AsOCl, AsOHCl2, AsCl3
H3AsO3 + [H]+ + [Cl]-AsOCl + 2H2O
As cũng tạo phức Thio với ion (S)2-,vì vậy As2S3 và As2S5 cũng tan nhiều trong
kiềm và sunfua kiềm :
As2S3 + 3(S)2-2(AsS3)3As2S5 + 3(S)2- 2 (AsS4)33


- As(V) tạo phức với tatrat, tạo phức với Molipđen Mo(VI), Tungsten W(VI),
các phức với các Poliancol.
•Tính Chất Oxi Hóa - Khử
-Asen có thể bị khử thành asin AsH3 :
As + 3 (H)+ + 3e-AsH3
- As(III) có thể bị khử thành As :
(AsO2)- + 4(H)+ + 3e-As + 2H2O
Ở trạng thái tự nhiên As tồn tại nhiều dạng hợp chất khác nhau nhưng dạng gây
độc và ảnh hưởng mạnh đến con người nhiều nhất là As(III).
1.1.3. Sự chuyển hóa giữa các dạng của Asenvà sự phân bố Asen trong tự
nhiên
1.1.3.1.Sự chuyển hóa giữa các dạng của Asen trong môi trường[2]
Sự chuyển hóa giữa các dạng Asen và mangan trong môi trường chủ yếu
là do tác động của một số quá trình phong hóa, oxy hóa tự nhiên của các lớp đất
đá, than, trầm tích trong lòng đất và trên bề mặt của quặng chứa Asen, các quá
trình khử sinh hóa tự nhiên trong tầng ngậm nước và quá trình chuyển hóa trong
cơ thể sinh vật.
 Chuyển hóa Asen trong quá trình phong hóa, oxi hóa
Sự chuyển hóa giữa các dạng của Asen qua quá trình phong hoá bao gồm
3 dạng chính là phong hoá vật lý, phong hoá hoá học và phong hoá sinh học.
Dựa vào cách phân chia các quá trình phong hoá đó ta có thể hiểu quá trình
phong hoá Asen trong tự nhiên diễn ra theo 3 quá trình sau:
- Phong hóa vật lý

trình hấ p phu ̣ giải hấ p phu ̣ , lắ ng đ ọng, kế t tinh . Trong đó, sự phân hủy xảy ra
theo hai quá trình oxi hóa và thủy phân là những cơ chế phong hóa chính biến
các loại đá mắc ma và đá biến chất trong vỏ phong hóa thành các nhóm khoáng
vật sét, zeolit, các oxit và hydroxit.
+ Quá trình hòa tan xảy ra do một số đặc tính, nước có thể hòa tan nhiều
loại khoáng chất, đất đá và nham thạch. Theo một số nghiên cứu, quá trình hòa
tan phụ thuộc nhiều vào thành phần của nham thạch và các khoáng vật.
+ Quá trình thứ hai của phong hóa hóa học là quá trình hidrat hóa, trong
quá trình này các phân tử nước kết hợp với các khoáng vật không chứa nước để
biến chúng thành dạng hydrat.
+ Quá trình thứ ba phong hóa hóa học là quá trình oxy hóa, quá trình này
xảy ra ở những vùng có chứa các tác nhân oxi hóa, điển hình là oxi không khí.
Do trong khoáng vật, đá và quặng thường có chứa các ion mức oxy hóa thấp như
Fe(II), Mn(II) … nên khi gặp môi trường oxi hóa chúng dễ dàng chuyển thành
5


các dạng có mức oxy hóa cao hơn.
Nghiên cứu khác của M.A.Armienta về sự phong hóa của các đá chứa
Asen như Asenopyrit, scorodit và pyrit chỉ ra rằng quá trình oxy hóa phong hóa
hòa tan Asenopyrit và pyrit xảy ra theo phản ứng sau:
FeAsS + 3,2 O2+ 1,5 H2O = Fe2++ SO42- + H3AsO4,

logK = 198,17

FeS2+ 3,5 O2 + H2O = Fe2++ 2 SO42- + 2 H+, logK = 208,46
Sau các quá trình phong hóa, Asen có trong thành phần của đất đá có thể
được giải phóng, đi vào các nguồn nước. Các khoáng chứa Asen có thể bị phân
tán vào môi trường dưới các dạng khác nhau phụ thuộc vào vị trí, điều kiện môi
trường nơi xảy ra các quá trình xói mòn, phong hóa và sau phong hóa. Quá trình

Quá trình di chuyển và tồn lưu Asen, mangan và sắt trong tự nhiên một
phần do sự di chuyển, giải thoát sinh hoá tự nhiên và các cân bằng giữa hai pha
lỏng (nước) và pha rắn là bùn, đất, đá và phụ thuộc vào bản chất của chúng
trong các tầng, các đới và các vùng xác định. Bắt đầu từ các quá trình tự nhiên
xói mòn, phong hoá và các quá trình sau phong hoá. Các khoáng vậtchứa Asen,
mangan và sắt có thể bị hoà tan và đi ngay vào nước ngầm khi mà sự phong hoá
xảy ra ngay ở tầng đất ngập nước. Chúng sẽ bị oxy hoá khi mức nước rút đi và
giải phóng ra Asen, mangan và sắt vào nước ngầm. Khi sự phong hoá xảy ra trên
mặt đất thì các phần tử chứa Asen, mangan và sắt tan ra đi vào tầng nước mặt
trước tiên.
1.1.3.3. Đặc điểm phân bố của Asen trong môi trường tự nhiên[2]
 Asen trong đá, đất và trầm tích
- Asen trong đá và khoáng : Asen là một nguyên tố có mặt ở khắp nơi trong
môi trường. Sự phân bố của Asen trong hệ thống tự nhiên phụ thuộc vào sự ổn
định liên kết của Asen với các hình thái của nước và phụ thuộc vào khả năng
hấp phụ Asen lên bềmặt của đất. Trong tự nhiên, Asen hiếm khi tồn tại ở dạng
Asen đơn chất, nó luôn tồn tại ở dạng hợp chất với mức oxy hóa III hoặc V.
Asen có trong khoảng hơn 368 loại khoáng khác nhau, bao gồm các khoáng cơ
bản là, Asenua, Asenit, Asenat, oxit, sunfua... Trong cấu trúc của các loại
khoáng vật này, Asen thường đi kèm với một số nguyên tố khác như Fe, Ni, Co,
Cu, S, Ca, Mg. Asen còn xuất hiện trong mạch nước địa nhiệt núi lửa, suối nước
nóng v.v. Loại quặng chứa nhiều Asen nhất là quặng Asenopyrit.
Asen có nhiều trong các loại khoáng vật như Reanga As4S4, (As2S3),
auripiment, Asenolit (As2O3), Asenopyrit (FeAsS).
Hàm lượng Asen trong các loại khoáng dao động đáng kể. Ví dụ như
quặng sunfua, quặng sắt, quặng sunfat, quặng oxyt sắt luôn có hàm lượng
7


Asencao. Có loại như quặng pyrit lên tới vài chục gam trong một

mỏ vàng - antimon với thành phần khoáng vật quặng chủ yếu là antimonit,
Asenopyrit, pyrit và galenit. Hàm lượng Asen trong đất ở vùng này cỡ 0,0038


1%, trong bùn ở các ao, hồ từ 0,01 - 0,3% còn trong nước ở khoảng 0,03-0,14
µg/l. Nền địa chất của Bản Phúng là trầm tích của hệ tầng sông Mã. Ở đây người
ta tìm thấy có các khoáng vật chứa Asen như Asenopyrit, glaucodot, colingit,
grexdofit. Hàm lượng Asen trong đá gốc cũng như trong đới phong hoá ở đây
thường gấp nhiều lần giá trị trung bình trong quyển đá. Cụ thể :
+ Hàm lượng Asen trung bình trong đá từ 72,4.10-4 %, cao nhất là 7.10-2 %.
+ Trong đới phong hoá màu nâu đỏ, hàm lượng Asen trung bình là
67,7.10-4 %, hàm lượng lớn nhất là 3.10-2 %.
 Asen trong không khí
Trong không khí xung quanh vùng nông thôn và thành thị Asen chủ yếu
tồn tại ở hai dạng Asen vô cơ và Asen hữu cơ, trong đó metylasin chiếm xấp xỉ
20% lượng Asen tổng. Ở vùng nông thôn và khu vực hẻo lánh, nồng độ Asen
trung bình khoảng 0,02 đến 4 mg/m3. Ở các khu vực thành thị, nồng độ Asen
cao hơn, khoảng từ 3 đến 200 mg/m3, còn ở các khu vực xung quanh các khu
công nghiệp, đặc biệt là gần các lò luyện kim loại màu thậm chí nồng độ Asen
có thể đạt tới 1000 mg/m3 [WHO, 2001].
 Asen trong môi trường nước
Asen có thể tồn tại ở 4 mức oxi hoá: - 3, 0, + 3, + 5. Trong nước tựnhiên,
Asen tồn tại chủ yếu ở 2 dạng hợp chất vô cơ là Asenat As(V), Asenit As(III).
As(V) là dạng tồn tại chủ yếu của Asen trong nước bề mặt và As(III) là dạng
chủ yếu của Asen trong nước ngầm. Dạng As(V) hay các Asenat gồm AsO43-,
HAsO4 2-, H2AsO4-, H3AsO4 còn dạng As(III) hay các Asenit gồm H3AsO3,
H2AsO3-, HAsO32-và AsO33-.Asen còn tồn tại ở nhiều dạng hợp chất hữu cơ như
metylasin, đimetylasin. Các dạng tồn tại của Asen trong nước phụ thuộc vào pH
và thế oxi hoá khử Eh của môi trường.
Do cấu tạo tự nhiên của địa chất, nhiều vùng ở Việt nam nước ngầm bị

Asen đến sức khoẻ con ngƣời
1.2.1.Tiêu chuẩn về hàm lượng Asen trong chất lượng nước
“Về tiêu chuẩn nước uống đối với Asen hiện nay còn nhiều điều phải bàn
luận. Năm 1993 Tổ Chức Y Tế Thế Giới đã hạ tiêu chuẩn khuyến cáo tối đa với
Asen trong nước từ 0,05mg/l xuống 0,01 mg/l. Việc thay đổi tiêu chuẩn này
được dựa trên bằng chứng dịch tế học về mối liên quan giữa Asen và ung thư.
Tuy nhiên tiêu chuẩn nước uống của nhiều nước trong đó có Việt Nam trước
năm 2002 vẫn là nhỏ hơn hoặc bằng 0,05mg/l. Năm 2002, Bộ Y Tế Việt Nam đã
đưa tiêu chuẩn Asen nhỏ hơn hoặc bằng 0,01mg/l vào áp dụng. Tại Hoa Kỳ,
10


năm 2000 chính quyền của Tổng thống B.Clinton đã sửa đổi tiêu chuẩn Asen
trong nước uống xuống 0,01 mg/l nhưng tháng 3 năm 2001 chính quyền của
Tổng thống Bush lại phủ định sự sửa đổi đó và lại đưa tiêu chuẩn này lên
0,05mg/l”[11].Tiêu chuẩn của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) là 0,01 mg/l
Năm 2009, Bộ Y tế đã ban hành 02 quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất
lượng nước, gồm Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước ăn uống
QCVN 01:2009/BYT và Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước sinh
hoạt QCVN 02:2009/BYT.
QCVN 01:2009/BYT do Cục Y tế dự phòng và Môi trường biên soạn và được
Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành theo Thông tư số: 04/2009/TT - BYT ngày 17
tháng 6 năm 2009
Bảng 1.1. Chỉ tiêu hàm lƣợng Asen theo QCVN 01:2009/BYT
Tên chỉ tiêu

Đơn vị

Hàm lượng mg/l
Asen tổng số


Giám sát

II
0.05

B

Giới hạn tối đa cho phép I: Áp dụng đối với các cơ sở cung cấp nước.
Giới hạn tối đa cho phép II: Áp dụng đối với các hình thức tự khai thác nước của
cá nhân, hộ gia đình (giếng khoan, giếng đào, bể mưa, máng lần, đường ống tự
chảy).
1.2.2.Ảnh hưởng của Asen đối với sức khỏe con người
11


Con đường xâm nhập trong nước:
Asen là nguyên tố có hàm lượng tương đối lớn trong nư ớc ngầm ở một số
khu vực. Theo nhiều tài liệu công bố cho thấ y , nguyên nhân ô nhiễm asen trong
nước (cả nước mặt và nước ngầ m ) là do hai nguyên nhân tự nhiên và nhân tạo.
Nguyên nhân tự nhiên là do quá trình phong hóa oxy hóa các qu ặng chứa
asenua và quá trình khử yếm khí các hợp chất chứa asenat, Fe(III) oxyt/hydroxit
dưới tác động của vi sinh vật và có mặt của các chất hữu cơ.
Nguyên nhân nhân tạo là do tác đ ộng từ các ngu ồn thải của quá triǹ h s ản
xuất công nghiệp, chủ yếu tác động đến môi trường nư ớc mặt. Cấu tạo đia ̣ chất,
ở một số nơi không có các tầng sét ngăn cách giữa nước mặt và các tầng ngậm
nước, nên asen từ nước mặt có thể thâm nhập vào các tầng nước ngầm [63,104].
Nguyên nhân chủ yếu khiến nước ngầm ở nhiều vùng thuộc nước ta
nhiễm Asen là do cấu tạo địa chất.
1.2.2.1Hiệu ứng hóa sinh của Asen

O-

Asenit

HS_CH2
CH2

S_CH2
_O_As

HS_CH

CH2
S_CH

(CH2)4

(CH2)4

C=O

C=O

Protein

Protein
12


Dihidrolipoic axit-protein phức bị thụ động hóa của protein và

Glixerandehit – 3 – photphat

quá trình phụ

dẫn đến tạo thành

1,3 – diphotphoglixerin

Quá trình tự phân hủy
3 – photphoglixerat + Asenit

Asen

CH2OPO32H_C_OH

ngăn cản việc tạo ATP

C=O

O-

O_As = O
O1 – Asen-3 –photphoglixerat
Các chất chống độc As là các hóa chất có nhóm _SH hoạt động mạnh hơn
ở enzim, có khả năng tạo liên kết với Asen (III).
13


Ví dụ như chất 2,3 – dimercaptopropanol:
SH_CH2_CH_CH2_OH



bệnh ung thư, bao gồm ung thư da, ung thư bàng quang, thận, phổi, gan, các
bệnh tiểu đường) do Asen gây ra”.[11]
Trong nước uống, Asen không trông thấy được, không mùi vị, nên không
thể phát hiện. Sự phát hiện người nhiễm Asen rất khó do những triệu chứng của
bệnh phải từ 5 đến 15 năm sau mới xuất hiện. Bởi vậy, các nhà hóa học còn gọi
Asen là “sát thủ vô hình”. Và một điều đáng lưu ý là Asen độc gấp 4 lần so với
thủy ngân.
Ngộ độc Asen là các bệnh kinh niên do sử dụng nước uống có chứa Asen
ở nồng độ cao trong một khoảng thời gian dài. Các hiệu ứng bao gồm sự thay
đổi màu da, sự hình thành của các vết cứng trên da, ung thư da, ung thư phổi,
ung thư thận và bàng quang cũng như có thể dẫn tới hoại tử.
Asen là một chất rất độc. Có thể chết ngay nếu uống một lượng bằng nửa
hạt ngô (bắp)[4]. Biểu hiện nhiễm độc Asen:
“Nhiễm độc cấp tính: Bệnh nhân nôn mửa, đau bụng, tiêu chảy liên tục,
khát nước dữ dội, mạch đập yếu, mặt nhợt nhạt rồi thâm tím, tiểu khó và tử vong
nhanh nếu không được cấp cứu kịp thời.
Nhiễm độc mạn tính: Xảy ra do tích lũy liều lượng nhỏ Asen trong thời
gian dài và có các biểu hiện:
- Xuất hiện các mảng dày sừng: Trên lòng bàn tay bàn chân nổi lên các sẩn
giống như mụn cơm, bé bằng hạt tấm rồi lớn dần bằng hạt đậu xanh hay hạt lạc,
lan rộng thành mảng. Chúng thường mọc đối xứng hai bên, đôi khi xuất hiện cả
ở lưng, bụng, đùi, cẳng chân, cánh tay. Da vùng này vàng, có thể có vết nứt
nẻ”[1]. “Bệnh sừng hoá da thường xuất hiện ở tay, chân, lòng bàn tay, gan bàn
chân - phần cơ thể cọ xát nhiều hoặc tiếp xúc ánh sáng nhiều lâu ngày sẽ tạo
thành các đinh cứng màu trắng gây đau đớn”[3].

Hình 1.5. Trên lòng bàn tay nổi lên các nốt sẩn
15



Hình 1.8. Biểu hiện nhiễm Asen
1.3. Giới thiệu sơ lƣợc về
1.3.1. Kết tủa
Phương pháp kết tủa sử dụng hóa chất để chuyển hóa các chất gây ô
nhiễm ở dạng hòa tan sang dạng rắn không tan. Đối với phương pháp cộng kết,
chất ô nhiễm có thể ở dạng hòa tan và sẽ được hấp phụ lên bề mặt của một cơ
chất kết tủa khác. Nếu chất gây ô nhiễm ở dạng keo hay chất rắn lơ lửng thì sẽ
được loại khỏi nước bằng phương pháp keo tụ, trong đó, chất keo tụ hay chất tạo
bông/tạo keo sẽ được hòa vào nước và giúp kết tủa toàn bộ những chất keo, chất
rắn lơ lửng trong nước. Trong dân gian, sử dụng phèn chua để đánh phèn làm
trong nước cũng là một hình thức của phương pháp keo tụ.
Nhiều quá trình xử lý Asen trong nước thường có sự kết hợp cả phương
pháp kết tủa và cộng kết. Chất rắn kết tủa/cộng kết sẽ được loại khỏi nước qua
quá trình lọc hoặc gạn lọc. Phương pháp kết tủa/ cộng kết thường được thực
hiện bằng cách điều chỉnh pH của nước để phù hợp cho các chất kết tủa, thêm
hóa chất thường là chất keo tụ. Điều kiện pH tối ưu cho kết tủa arsen là 7, trong
môi trường kiềm, song song với sự tạo thành sắt arsenat còn các phản ứng cạnh
tranh tạo ra sắt hydroxit và oxit, còn trong môi trường axit thì arsen nằm ở dạng
hợp chất trung hoà không tham gia phản ứng kết tủa. Phản ứng tạo ra mangan
arsenat cũng có thể tiến trình tương tự.Ngoài ra, tác nhân ôxi hóa cũng có thể
được sử dụng để ôxi hóa các chất gây ô nhiễm, giúp chúng kết tủa nhanh và dễ
17



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status