ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
--------------
NGUYỄN CAO CƢỜNG
Tên đề tài:
ÁP DỤNG QUY TRÌNH KỸ THUẬT CHĂN NUÔI PHÕNG VÀ ĐIỀU
TRỊ BỆNH VIÊM TỬ CUNG Ở LỢN NÁI SINH SẢN TẠI TRẠI
CỦA CÔNG TY MARPHAVET
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy
Chuyên ngành: Chăn nuôi thú y
Khoa: Chăn nuôi thú y
Khóa học: 2013 - 2017
Thái Nguyên – năm 2017
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
--------------
NGUYỄN CAO CƢỜNG
Tên đề tài:
ÁP DỤNG QUY TRÌNH KỸ THUẬT CHĂN NUÔI PHÕNG VÀ ĐIỀU TRỊ
BỆNH VIÊM TỬ CUNG Ở LỢN NÁI SINH SẢN TẠI TRẠI CỦA
CÔNG TY MARPHAVET
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
kết quả tốt, em đã nhận được sự quan tâm, giúp đỡ và động viên từ gia đình
và bạn bè. Em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành trước mọi sự giúp đỡ quý
báu đó.
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày
tháng
Sinh viên
Nguyễn Cao Cƣờng
năm 2017
ii
DANH MỤC BẢNG
Trang
Bảng 2.1. Một số chỉ tiêu phân biệt các thể viêm tử cung .............................. 19
Bảng 4.1: Tổng hợp kết quả thực tập tại công ty CP thuốc thú y Đức
Hạnh Marphavet ............................................................................... 36
Bảng 4.2: Kết quả côg tác phục vụ sản xuất .................................................... 46
Bảng 4.3: Cơ cấu đàn lợn nái của trại chăn nuôi Marphavet ........................... 47
Bảng 4.4: Tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung theo lứa đẻ của lợn........................... 47
Bảng 4.5: Tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung ở các tháng ....................................... 49
Bảng 4.6. Tỷ lệ xuất hiện các triệu chứng lợn mắc bệnh viêm tử cung .......... 49
Bảng 4.7: Hiê ̣u quả điều trị bệnh viêm tử cung theo 2 phác đồ....................... 50
Bảng 4.8. Tỷ lệ động dục và phối giống lần đầu đạt của lợn nái sau khi
điều trị khỏi bệnh. ............................................................................. 51
Viêm cơ tử cung
VTMTC:
Viêm tương mạc tử cung
iv
MỤC LỤC
Trang
LỜI CẢM ƠN .................................................................................................... i
DANH MỤC BẢNG ......................................................................................... ii
DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT ....................................................... iii
MỤC LỤC ........................................................................................................ iv
PHẦN 1: MỞ ĐẦU.......................................................................................... 1
1.1. Đặt vấn đề .............................................................................................. 1
1.2. Mục đích tiến hành ................................................................................. 2
1.3. Mục tiêu tiến hành .................................................................................. 2
PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU............................................................... 3
2.1. Điều kiện cơ sở nơi thực tập. ................................................................... 3
2.1.1. Công ty cổ phần thuốc thú y Đức Hạnh Marphavet. ...................... 3
2.1.2. Trại bà Nguyễn Thị Rộng – xã Thanh Sơn – Kiến Thụy – Hải
Phòng ......................................................................................................... 5
2.2. Cơ sở khoa học. ..............................................................................................6
2.2.1. Cấu tạo giải phấu và sinh lý cơ quan sinh dục cái. ......................... 6
2.2.2. Đặc điểm sinh sản của lợn nái....................................................... 11
2.2.3. Một số nguyên nhân gây viêm tử cung ........................................... 13
4.2. Kết quả tiến hành ................................................................................... 46
4.2.1. Cơ cấu đàn lợn nái của trại Chăn nuôi Marphavet trong 2 tháng
theo dõi tại trại (từ 01/07/2016 đến 31/08/2016). ................................... 46
4.2.2. Tỷ lệ lợn nái mắc bệnh viêm tử cung theo lứa đẻ. ........................ 47
4.2.3. Tỷ lệ lợn nái mắc bệnh viêm tử cung theo tháng .......................... 48
4.2.4. Tỷ lệ xuất hiện các triệu chứng khác nhau của bệnh viêm tử cung
trên đàn lợn nái. ....................................................................................... 49
4.2.5. Hiê ̣u quả điề u tri ̣bê ̣nh viêm tử cung theo hai phác đồ điều trị ..... 50
4.2.6. Một số chỉ tiêu sinh lý sinh sản của lợn nái sau điều trị. .............. 51
PHẦN 5:KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ ........................................................... 52
5.1. Kết luận ................................................................................................. 52
5.2. Đề nghị ................................................................................................. 52
TÀI LIỆU THAM KHẢO
I.Tài liệu tiếng việt
II. Tài liệu nước ngoài
1
PHẦN 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Viê ̣t Nam là mô ̣t nước đi lên từ nề n sản xuấ t nông nghiê ̣p và đây là mô ̣t
lĩnh vực chiếm vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc
dân. Trong quá triǹ h
công nghiê ̣p hóa , hiê ̣n đa ̣i hóa đấ t nước thì nông nghiê ̣p nước ta đã và đang có
những bước phát triể n ma ̣nh mẽ , trong đó ngành chăn nuôi cũng có những
bước phát triể n không ngừng và đã trở thành ngành sả
1.2. Mục đích tiến hành
- Nắm được tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung trên đàn lợn nái ngoại nuôi tại
trại lợn liên kết của Công ty CP thuốc thú y Đức Hạnh Marphavet.
- Xây dựng phác đồ điều trị bệnh viêm tử cung trên đàn lợn nái có
hiệu quả.
1.3. Mục tiêu tiến hành
- Đánh giá đươc̣ tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung trên đàn lơ ̣n nái ngoại nuôi
tại trại lợn liên kết của Công ty CP thuốc thú y Đức Hạnh Marphavet.
- Xác định được hiệu quả của một số phác đồ điều trị bệnh viêm tử cung
trên đàn lợn nái, từ đó chọn ra phác đồ điều trị hiệu quả nhất.
3
PHẦN 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Điều kiện cơ sở nơi thực tập.
2.1.1. Công ty cổ phần thuốc thú y Đức Hạnh Marphavet.
Công ty CP thuốc thú y Đức Hạnh Marphavet được thành lập tháng 12
năm 2002, hoạt động kinh doanh chính trong các lĩnh vực: sản xuất vắc xin
phòng bệnh, sản xuất kinh doanh thuốc thú y, dược phẩm, thực phẩm chức
năng, chế phẩm sinh học, thức ăn chăn nuôi....
Nhận thức sâu sắc vấn đề tầm nhìn, sứ mệnh và tạo giá trị cốt lõi cho xã
hội, định hướng phát triển sản phẩm chất lượng cao, lựa chọn phân khúc khách
hàng chăn nuôi có kĩ thuật, chuyên nghiệp, theo hướng công nghiệp quy mô
lớn. Ngay từ những ngày đầu, hội đồng quản trị đã định hướng cần phải đổi
mới công nghệ, đổi mới dây chuyền máy móc thiết bị, nâng cao chất lượng, lấy
phương châm “Hiệu quả sử dụng của bạn là sức mạnh của chúng tôi” là kim
chỉ nam xuyên suốt mọi hoạt động và là tiền đề để Công ty vươn lên phát triển
trở thành một trong những Công ty hàng đầu Việt Nam sản xuất vắc xin, thuốc
bao gồm 2 Giáo sư, 5 Phó Giáo sư, 8 Tiến sỹ, 29 Thạc sỹ, trên 500 Bác sĩ thú y
và Kĩ sư chăn nuôi, 15 Dược sĩ nhân y, 12 Cử nhân Công nghệ sinh học có
nhiều kinh nghiệm thực tế trong ngành, hơn 250 Cử nhân kinh tế, Kế toán,
Luật, Nhân văn, Quản trị kinh doanh, Marketing, Cơ khí chế tạo máy, Điện
lạnh…có trình độ chuyên môn thường xuyên được tập huấn ở nước ngoài và
các chuyên gia nước ngoài sang đào tạo, đội ngũ công nhân thâm niên lành
nghề, môi trường làm việc thân thiện, chuyên nghiệp, nhiều cơ hội thăng tiến.
Ngoài ra Công ty đang hợp tác tốt với các Bộ, Vụ, Cục, Viện, Liên hiệp, Hội,
Trung tâm và các trường đại học trong và ngoài nước.
Trong quá trình xây dựng và phát triển, Ban lãnh đạo Công ty luôn đề cao
nhân tố con người, đặt con người vào vị trí trung tâm trong mọi hoạt động.
Chính sự lãnh đạo sáng suốt của Ban Lãnh đạo Công ty cộng với tinh thần ham
5
học hỏi, giao lưu, chia sẻ, không ngừng nâng cao kiến thức, trình độ, kinh
nghiệm của CBCNV đã tạo nên sức mạnh tổng lực giúp Marphavet vươn lên
và khẳng định thương hiệu cũng như đứng vững trên thị trường trong nước và
quốc tế.
2.1.2. Trại bà Nguyễn Thị Rộng – xã Thanh Sơn – Kiến Thụy – Hải Phòng
Trang trại sản xuất lợn giống siêu nạc của bà Nguyễn Thị Rộng nằm trên
địa phận xã Thanh Sơn, huyện Kiến Thụy, tỉnh Hải Phòng. Trại được thành lập
năm 2010, trại nằm về phía đông bắc của xã, cách xa khu dân cư và có tuyến
đường liên xã chạy qua. Hiện nay, trang trại do bà Nguyễn Thị Rộng chủ đại lý
thuốc thú y Marphavet làm chủ trại, có cán bộ kỹ thuật của riêng trại chịu trách
nhiệm giám sát mọi hoạt động của trại.
- Trại lợn có khoảng 1,5 ha đất để xây dựng nhà điều hành, nhà cho công nhân,
bếp ăn các công trình phục vụ cho công nhân và các hoạt động khác của trại.
- Trong khu chăn nuôi được quy hoạch bố trí xây dựng hệ thống chuồng
nuôi, đều được khoán đến từng công nhân, nhằm nâng cao trách nhiệm, thúc
đẩy sự phát triển của trại.
2.2. Cơ sở khoa học.
2.2.1. Cấu tạo giải phấu và sinh lý cơ quan sinh dục cái.
* Bộ phận sinh dục bên trong
- Buồng trứng
Buồng trứng của lợn nái nằm trong xoang bụng và phát triển thành
từng cặp. Nó thực hiện cả hai chức năng: Ngoại tiết (bài noãn) và nội tiết
(sản sinh ra hormone sinh dục cái). Buồng trứng là cơ quan được hình thành
trong giai đoạn phôi thai và lúc con vật mới được sinh ra. Hình dạng và kích
thước của buồng trứng biến đổi tuỳ theo giai đoạn của chu kỳ sinh dục.
Tuổi, đặc tính cá thể, chế độ dinh dưỡng có ảnh hưởng nhất định đến hình
dáng đến kích thước của buồng trứng.
7
Theo Trần Thị Dân (2004)[3], buồng trứng có hai chức năng cơ bản là tạo
giao tử cái và tiết hocmon: Estrogen, Progesterone, Oxytocin, Relaxin và Inhibrin.
Các hocmon này tham gia vào việc điều khiển chu kỳ sinh sản của lợn nái.
- Cấu tạo:
+ Phía ngoài buồng trứng được bao bọc bởi một lớp màng liên kết sợi,
chắc như màng dịch hoàn. Phía trong buồng trứng được chia làm hai miền là
miền vỏ và miền tuỷ. Miền vỏ đảm bảo quá trình phát triển của trứng đến khi
trứng chín và rụng.
+ Miền vỏ bao gồm 3 phần: Tế bào nguyên thuỷ, thể vàng và tế bào hạt,
tế bào trứng nguyên thuỷ hay còn gọi là trứng non (Fullicylle cophorimari)
nằm dưới lớp màng của buồng trứng. Khi noãn nang chín, các tế bào bao quanh
tế bào trứng phân chia thành nhiều tế bào có hình hạt (Sliarum glanusolum),
noãn bao càng phát triển thì các tế bào nang tiêu tan tạo ra xoang có chứa dịch.
Cấu tạo như một ống cơ có thành dày. Âm đạo lợn từ 10 - 12cm.
Ở lợn, tiểu mô âm đạo phát triển lên về độ cao tối đa vào lúc động dục
và giảm xuống điểm thấp nhất vào ngày 12 - 16, các lớp bề mặt của biểu mô
âm đạo bong ra ở các ngày 4 và 14.
Khả năng co rút âm đạo đóng vai trò chính trong việc đáp ứng tâm lý
tính dục và cho sự vận động của tinh trùng. Sự co rút của âm đạo, dạ con và
ống dẫn trứng được kích thích bởi dịch thể bài tiết vào trong âm đạo, trong quá
trình kích thích lúc giao phối.
Dịch âm đạo chủ yếu là thấm qua màng âm đạo, hỗn hợp với các chất
tiết của âm hộ từ các tuyến bã nhờn và các tuyến mồ hôi làm lẫn với các dịch
nhày của cổ tử cung, các dịch nội mạc tử cung, ống dẫn trứng và các tế bào
bong ra từ biểu mô âm đạo.
* Bộ phận sinh dục bên ngoài
Bộ phận sinh dục bên ngoài là các phần mà người ta có thể nhìn thấy, sờ
thấy và quan sát được, bao gồm: Âm môn, âm vật và tiền đình.
9
- Âm môn (Vulvace): Còn gọi là âm hộ nằm ở dưới hậu môn. Phía ngoài
âm môn có hai môi (Labia Pdendi). Hai môi được nối với nhau bằng hai mép
(Rima vulvace). Trên hai môi của âm môn có sắc tố màu đen và có nhiều tuyến
tiết (như tuyến tiết nhờn và tuyến tiết mồ hôi).
- Âm vật (Clitous): Nằm ở dưới hai mép âm môn. Âm vật giống như
dương vật của con đực được thu nhỏ lại. Về cấu tạo, âm vật cũng có thể hổng
như con đực. Trên âm vật có nếp da tạo mũ âm vật, giữa âm vật bẻ gấp xuống
dưới. Trong thực tế, sau khi dẫn tinh cho gia súc cái, kỹ thuật viên thường xoa
bóp nhẹ vào âm vật kích thích con cái hưng phấn để tử cung trở lại co thắt vào,
vận động bình thường.
- Tiền đình (Vestibulum): Là giới hạn giữa âm môn và âm đạo, nghĩa là
trưởng và phát dục của tuyến vú cho tới khi hình thành ống dẫn sữa và bao
tuyến. Cuối thời kỳ chửa và thời kỳ tiết sữa nuôi con thì tuyến yên tiết
Prolactin, hormone này có vai trò kích thích bao tuyến phát triển và tiết sữa.
Ngoài ra các hormone STH, TSH, FSH, LH của thuỳ trước tuyến yên
đều ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát dục của tuyến vú.
Yếu tố thần kinh cũng đóng vai trò quan trọng trong quá trình sinh
trưởng và phát dục tuyến vú. Khi kích thích xoa bóp vào bầu vú làm hưng phấn
thụ quan cảm giác ở da bầu vú, xung động thần kinh được truyền tới vùng dưới
đồi và trung khu điều hoà sinh dục ở vỏ não. Thông qua hệ nội tiết sinh sản tiết
các hormone thúc đẩy sự phát dục của tuyến vú và tiết sữa.
+ Yếu tố bên ngoài: Quan trọng nhất là chế độ dinh dưỡng, có tác dụng
thúc đẩy nhanh sự sinh trưởng và phát dục của tuyến vú vì nó là nguyên liệu
cung cấp cho sự sinh trưởng, phát triển và trao đổi chất. Chế độ chăm sóc, điều
kiện khí hậu, sự hưng phấn khi gặp đực giống, feromol của con đực đều có ảnh
hưởng đến sự phát dục của tuyến vú.
11
2.2.2. Đặc điểm sinh sản của lợn nái
Sinh sản là một thuộc tính sinh vật nhằm duy trì nòi giống và đảm bảo
cho sự tiến hoá của sinh vật. Quá trình sinh sản là một quá trình sinh lý phức
tạp chịu sự điều khiển của thần kinh và thể dịch. Thần kinh và thể dịch luôn
luôn xuất hiện. Mối quan hệ này tuân theo một quy luật, hệ thống kế tiếp và
thống nhất trong một cơ thể với cơ chế hoạt động nhiều chiều của thần kinh và
thể dịch. Một trong những khâu nào đó của mối quan hệ nhiều chiều này bị rối
loạn thì cơ thể gia súc thay đổi theo chiều có lợi hoặc có hại với khả năng sinh
sản, có thể chậm động dục ở lợn nái hậu bị hoặc ở lợn nái sinh sản hay gia súc
động dục nhưng không rụng trứng.
Một số tình trạng sinh sản của lợn có thể thay đổi theo điều kiện chăm
lợn chưa phát triển đầy đủ, chưa tích luỹ được chất dinh dưỡng nuôi thai, trứng
chưa chín một cách hoàn chỉnh. Vì vậy, để đạt được hiệu quả sinh sản tốt và
duy trì nái lâu bền thì không nên phối giống ngay mà bỏ qua từ 1 - 2 chu kỳ
đầu rồi mới cho phối giống.
Nguyễn Văn Thiện và cs (2002) [17] cho rằng: Tuổi động dục lần đầu có
khác nhau. Lợn nội tuổi động dục lần đầu sớm hơn lợn ngoại, lợn lai:
+ Lợn Ỉ: từ 120 - 130 ngày
+ Lợn Móng Cái: từ 130 - 140 ngày
+ Lợn Đại Bạch: từ 203 - 208 ngày
+ Lợn Landrace: từ 208 - 209 ngày
* Tuổi phối giống đầu tiên
Là một vấn đề quan trọng, phối giống cho lợn cái đúng thời điểm lợn
thành thục về tính, có tầm vóc, sức khoẻ đạt yêu cầu sẽ nâng cấp được khả
năng sinh sản của lợn cái và phẩm chất của lợn con. Nếu phối giống quá sớm,
sẽ ảnh hưởng tới tầm vóc và sức khoẻ của lợn mẹ. Nhưng nếu phối giống quá
muộn sẽ ảnh hưởng đến sự phát dục của lợn và những hoạt động về tính của nó
(Trần Thị Mỹ Dung, 2010) [5].
13
Tuổi đẻ lứa đầu: Sau khi phối giống, lợn chửa 114 ngày, cộng thêm số
tháng tuổi lợn sẽ có tuổi đẻ lứa đầu. Lợn nái nội (Ỉ, Móng Cái) tuổi đẻ lứa đầu
thường là 11 - 12 tháng tuổi, lợn nái lai và nái ngoại nên cho đẻ lứa đầu lúc 12
- 13 tháng tuổi (Phạm Hữu Doanh, 1995)[4].
Sau khi thành thục về tính dục lợn bắt đầu có có hoạt động sinh sản dưới
sự điều hoà của hormone sinh dục.
2.2.3. Một số nguyên nhân gây viêm tử cung
Lợn nái sinh sản đều mang khuẩn trong âm đạo nhưng không gây bệnh, chỉ
khi cổ tử cung mở, chất tiết dịch tụ lại tạo điều kiện cho vi khuẩn phát triển.
nái khi sinh để làm hạn chế viêm tử cung.
* Tuổi, lứa đẻ, tình trạng sức khỏe
Nái đẻ càng nhiều lứa thì tỉ lệ mắc viêm tử cung càng cao, cường độ
nặng hơn so với những nái lứa đầu. Nái già do sức khỏe kém hay kế phát một
số bệnh, sức rặn đẻ yếu, thời gian đẻ kéo dài, đẻ khó dễ dẫn đến viêm tử cung.
* Đường xâm nhiễm của mầm bệnh
Mầm bệnh có mặt trong ruột, truyền qua niêm mạc đi vào máu, xâm nhập
vào tử cung. Xâm nhập có thể từ ngoài vào do vi khuẩn hiện diện trong phân,
nước tiểu.
Bệnh nhiễm trùng mãn tính của thận, bàng quang và đường niệu đạo
cũng là nguyên nhân gây bệnh.
Hầu hết các trường hợp viêm tử cung đều có sự hiện diện của vi sinh vật
thường xuyên có mặt trong chuồng lợn. Lợi dụng lúc sinh sản, tử cung, âm đạo
tổn thương chứa nhiều sản dịch, vi trùng xâm nhập gây viêm tử cung.
2.2.4. Một số bệnh viêm tử cung thường gặp
2.2.4.1. Viêm cổ tử cung
- Nguyên nhân: Bệnh viêm cổ tử cung ở gia súc thường là hậu quả của
những sai sót về kỹ thuật thụ tinh nhân tạo, do thao tác đỡ đẻ nhất là các trường
hợp đẻ khó phải can thiệp bằng tay hay dụng cụ không đúng làm niêm mạc cổ
15
tử cung bị xây sát. Ngoài ra, viêm cổ tử cung còn do kế phát từ viêm âm đạo,
viêm tử cung (Trần Tiến Dũng và cs, 2006)[6].
- Triệu chứng: Bệnh ở dạng điển hình, lợn có biểu hiện mệt mỏi hay nằm
úp bầu vú, bỏ ăn, ăn kém, âm hộ sưng đỏ, từ âm đạo chảy ra dịch màu trắng
đục nếu nặng dịch có lẫn máu. Lợn mẹ đứng nằm bứt rứt không yên, lợn con
thường thiếu sữa kêu nhiều.
Trong trường hợp bệnh nhẹ, lợn không sốt, âm hộ không sưng đỏ nhưng
thể bệnh này. Căn cứ vào tính chất, trạng thái của quá trình bệnh lý, viêm nội
mạc tử cung có thể chia ra làm hai loại:
Viêm nội mạc tử cung thể cata cấp tính có mủ.
Viêm nội mạc tử cung màng giả.
-Viêm nội mạc tử cung cata cấp tính có mủ (Endomestritis puerperalis
Catarhalis purulenta acuta)
+ Nguyên nhân:Bệnh này xuất hiện trên tất cả các loài gia súc, gặp
nhiều ở bò, trâu và lợn. Sau khi sinh đẻ, niêm mạc cổ tử cung và âm đạo bị
tổn thương, xây sát, nhiễm khuẩn, nhất là khi gia súc bị sát nhau, đẻ khó
phải can thiệp.
+ Triệu chứng: Thân nhiệt hơi cao, ăn uống giảm, lượng sữa giảm. Con
vật có trạng thái đau đớn nhẹ, đôi khi cong lưng rặn, không yên tĩnh. Từ cơ
quan sinh dục thải ra ngoài hỗn dịch, niêm dịch lẫn với dịch viêm, mủ, những
mảnh tổ chức chết…
Khi con vật nằm, dịch viêm thải ra ngoài càng nhiều hơn. Xung quanh
âm môn, gốc đuôi, hai bên mông dính nhiều dịch viêm, có khi nó khô lại hình
thành từng đám vẩy, màu trắng xám. Kiểm tra qua âm đạo, niêm dịch và dịch
viêm thải ra nhiều. Cổ tử cung hơi mở và có mủ chảy qua cổ tử cung. Niêm
mạc âm đạo bình thường.
+ Bệnh tích:Kiểm tra qua trực tràng có thể phát hiện được một hay cả
hai sừng tử cung sưng to, hai sừng tử cung không cân xứng nhau. Thành tử
17
cung dày và mềm hơn bình thường. Khi kích thích nhẹ lên sừng tử cung thì
mức độ phản ứng co lại yếu. Trường hợp trong tử cung tích lại nhiều dịch
viêm, nhiều mủ thì có thể phát hiện được trạng thái chuyển động sóng (Đặng
Thanh Tùng, 2006) [13].
+ Điều trị:Vetrimoxin 1ml/10kg TT/2 ngày, tiêm bắp, điều trị trong 6
cơ và lớp tương mạc tử cung bị phân giải, bị hoại tử mà tử cung bị thủng hay
hoại tử từng đám (Nguyễn Văn Thanh, 2002)[14].
+Triệu chứng: Thân nhiệt lên cao, mệt mỏi, ủ rũ, ăn uống giảm, sản
lượng sữa giảm hay mất hẳn. Gia súc biểu hiện trạng thái đau đớn, rặn liên tục.
Từ đó cơ quan sinh dục luôn thải ra ngoài hỗn dịch màu đỏ nâu lợn cợn mủ và
những mảnh tổ chức thối rữa nên có mùi tanh, thối.
+ Bệnh tích: Kiểm tra qua âm đạo bằng mỏ vịt thấy cổ tử cung mở, hỗn
dịch càng chảy ra ngoài nhiều hơn, phản xạ đau của con vật càng rõ. Khám qua
trực tràng thì tử cung to hơn bình thường, hai sừng tử cung to nhỏ không
đều nhau, thành tử cung dày và cứng. Khi kích thích lên tử cung, con vật
rất mẫn cảm, đau nên càng rặn mạnh hơn, hỗn dịch bẩn trong tử cung càng
thải ra nhiều.
Thể viêm này thường ảnh hưởng đến quá trình thụ thai và sinh đẻ lần sau
+ Điều trị: Vetrimoxin 1ml/10kg TT/2 ngày, tiêm bắp, điều trị trong 6 ngày
liên tục.
Dùng ống thụ tinh nhân tạo thụt rửa âm đạo và tử cung bằng dung dịch
nước sinh lý ngày một lần trong 2 - 3 ngày.
Chú ý: trong trường hợp bị viêm nặng dịch chảy ra có máu không được thụt
rửa, tránh trường hợp viêm ngược và tắc ống dẫn trứng. Trong trường hợp này
có thể dùng PG-F2α hoặc oxytoxin tiêm, giúp đẩy dịch viêm ra ngoài.
* Viêm tương mạc tử cung (Perimetritis puerperalis)
+ Nguyên nhân: Viêm tương mạc tử cung thường kế phát từ thể viêm cơ
tử cung. Bệnh này thường ở thể cấp tính, cục bộ, toàn thân xuất hiện những
triệu chứng điển hình và nặng (Đặng Đình Tín, 1985)[12].
+ Triệu chứng: Lúc đầu, lớp tương mạc tử cung có màu hồng, sau chuyển
sang màu đỏ sẫm, mất tính trơn bóng. Sau đó các tế bào bị phân hủy và bong ra,
dịch thẩm xuất rỉ ra làm cho lớp tương mạc bị xù xì. Trường hợp viêm nặng,