BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRẦN THỊ HƯỞNG
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
VỀ VẤN ĐỀ DÂN TỘC VÀ VIỆC XÂY DỰNG
KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC
Ở KON TUM HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Đà Nẵng- Năm 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRẦN THỊ HƯỞNG
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
VỀ VẤN ĐỀ DÂN TỘC VÀ VIỆC XÂY DỰNG
KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC
Ở KON TUM HIỆN NAY
Chuyên ngành: Triết học
Mã số: 60.22.80
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Người hướng dẫn khoa học: TS. Trần Ngọc Ánh
1.2.1. Khái niệm dân tộc ......................................................................... 39
1.2.2. Nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc ..................... 43
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG XÂY DỰNG KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT
DÂN TỘC Ở KON TUM HIỆN NAY................................................ 61
2.1. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ KINH TẾ XÃ HỘI CỦA KON TUM .61
2.2. THỰC TRẠNG TÌNH HÌNH XÂY DỰNG KHỐI ĐẠI ĐOÀN
KẾT DÂN TỘC Ở KON TUM HIỆN NAY .......................................... 66
2.2.1. Những mặt tích cực....................................................................... 66
2.2.2. Những mặt tồn tại ......................................................................... 75
2.2.3. Nguyên nhân của những mặt tích cực và tồn tại........................... 78
CHƯƠNG 3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM TĂNG CƯỜNG KHỐI
ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC Ở KON TUM HIỆN NAY.................. 82
3.1. CƠ SỞ HÌNH THÀNH GIẢI PHÁP ............................................... 82
3.1.1. Cơ sở lý luận ................................................................................. 82
3.1.2. Cơ sở thực tiễn .............................................................................. 87
3.2. GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ ......................................................... 91
3.2.1 Giải pháp ........................................................................................ 91
3.2.2. Kiến nghị....................................................................................... 98
KẾT LUẬN.......................................................................................... 103
TÀI LIỆU THAM KHẢO
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN (bản sao)
1
thành lập nhà nước tự trị của vùng Tây Nguyên, đó là một trong những
nguyên nhân làm cho khối đại đoàn kết dân tộc ở nơi đây chưa thật vững
chắc. Bên cạnh đó một số cấp ủy đảng địa phương chưa nhận thức đúng đắn
về vị trí của công tác xây dựng và cũng cố khối đại đoàn kết dân tộc, chưa
quán triệt những chủ trương và chính sách mới của Nhà nước ta về công tác
dân tộc. Đội ngũ làm công tác dân vận còn yếu kém về mọi mặt, đặc biệt khả
năng nói tiếng dân tộc bản địa còn yếu.
Do vậy, đoàn kết các dân tộc ở Kon Tum hiện nay đang là vấn đề cấp
bách hơn bao giờ hết, nhằm chống lại âm mưu của các thế lực thù địch. Để
làm được điều đó cần phải có sự kết hợp của các cấp ủy Đảng, chính quyền
địa phương và hơn ai hết việc tạo lòng tin của đồng bào các dân tộc trong tỉnh
vào sự lãnh đạo của Đảng là việc làm hết sức cần thiết.
Hiện nay đứng trước công cuộc xây dựng và phát triển đất nước trong
bối cảnh trong nước và quốc tế có nhiều thay đổi càng đòi hỏi chúng ta phải
tăng cường đoàn kết các dân tộc hơn bao giờ hết. Vì vậy nghiên cứu quá trình
lãnh đạo và thực hiện khối đại đoàn kết dân tộc ở Kon Tum trong những năm
đổi mới, trên cơ sở đó rút ra những bài học và kinh nghiệp nhằm góp phần
hoàn thiện những chủ trương, biện pháp nhằm củng cố tăng cường khối đại
đoàn kết dân tộc ở Kon Tum.
Đó là một trong những lý do tôi chọn đề tài “ Tư tưởng Hồ Chí Minh về
vấn đề dân tộc và việc xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc ở Kon Tum hiện
nay” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn cao học của mình.
2. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Trên cơ sở phân tích tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc, từ thực
trạng khối đại đoàn kết dân tộc ở Kon Tum hiện nay, luận văn xây dựng các
giải pháp nhằm tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc ở Kon Tum trong giai
đoạn hiện nay.
3
Năm 2010, sách Hồ Chí Minh với sự nghiệp độc lập dân tộc và chủ nghĩa
xã hội do PGS.TS. Vũ Đình Hòe và PGS.TS. Bùi Đình Phong (đồng chủ
biên), Nxb. Chính trị quốc gia. Trong đó các tác giả đã tập trung phân tích
làm rõ tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc và cách mạng giải phóng dân
tộc ta. Nội dung cuốn sách được coi như là những tổng kết bước đầu về cống
hiến to lớn, quan trọng nhất của tư tưởng Hồ Chí Minh cho cách mạng Việt
Nam. Trên cơ sở đó các tác giả khẳng định giá trị lý luận và thực tiễn to lớn
của tư tưởng Hồ Chí Minh đối với độc lập dân tộc và con đường đi lên chủ
nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay.
Cuốn sách: Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề
dân tộc do PTS. Nguyễn Thế Thắng chủ biên, Nxb. Lao động, Hà Nội (1999);
Sự hình thành tư tường Hồ Chí Minh về cách mạng giải phóng dân tộc của
TS. Nguyễn Đình Thuận, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội (2002); Chủ tịch
Hồ Chí Minh với việc giải quyết vấn đề dân tộc trong cách mạng Việt Nam
của Chu Đức Tính, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội (2001).
Đặc biệt nhân kỷ niệm 120 năm ngày sinh của chủ tịch “Hồ Chí Minh,
Học viện Chính trị- Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh đã tổ chức hội thảo
khoa học quốc tế “ Di sản Hồ Chí Minh trong thời đại ngày nay”. Trong đó
gần 200 bài viết gửi về tham gia Hội thảo là kết quả của sự dày công nghiên
cứu đối với tài năng, đức độ và công lao của chủ tịch Hồ Chí Minh cũng như
những di sản của Người. Cuốn Kỷ yếu “Di sản Hồ Chí Minh trong thời đại
ngày nay” với nội dung làm sáng tỏ hơn nữa những nhận thức mới trong di
sản Hồ Chí Minh đối với thời đại ngày nay.
Cuốn sách gồm ba phần, trong đó phần đầu tiên có rất nhiều tham luận
nói về chiến lược đại đoàn kết dân tộc. Một số tham luận cũng bàn nhiều về
Những cống hiến to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc và chủ
nghĩa xã hội (Tô Huy Rứa); Giải phóng dân tộc, giải phóng con người, hạt
5
Gia Lai- Kon Tum do Đặng Nghiêm Vạn chủ biên ( 1981); đặc biệt cuốn sách
Cộng đồng quốc gia dân tộc Việt Nam của GS. Đặng Nghiêm Vạn (2003) đã
giúp người đọc hiểu rõ hơn nguồn gốc tộc người, đặc điểm kinh tế của các
dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên.
Không gian sinh tồn tự nhiên và xã hội của Tây Nguyên cũng được các
học giả nước ngoài nghiên cứu, trong đó tập trung vào các nhà dân tộc học
người Pháp, điển hình là G.Godonminas với cuốn sách Không gian xã hội
Đông Nam Á, Anne De Hauteclogue- Howe (2004), với cuốn sách Người Ê
đê, một xã hội mẫu quyền do Nxb văn hóa dân tộc ấn hành, trong đó những
cuốn sách này nói về những khảo sát về không gian kinh tế- xã hội của các
buôn làng ở Tây Nguyên.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc đã được nhiều tổ chức và
nhiều nhà khoa học có uy tín quan tâm nghiên cứu, tìm hiểu. Nhưng thực sự
chưa có một công trình nào nghiên cứu về vấn đề “ Tư Tưởng Hồ Chí Minh
về vấn đề dân tộc và vấn đề xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc ở Kon Tum
hiện nay” một cách có hệ thống.
Trên cơ sở kế thừa tư tưởng những công trình nghiên cứu nêu trên, tác
giả luận văn chọn đề tài này làm đề tài nghiên cứu của mình.
7
CHƯƠNG 1
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VẤN ĐỀ DÂN TỘC
1.1. CƠ SỞ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VẤN ĐỀ
DÂN TỘC
1.1.1. Cơ sở lý luận
Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc là do sự kết hợp của nhiều
nhân tố tạo nên như: Truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt nam, quê hương,
gia đình, tinh hoa văn hóa nhân loại và những quan điểm của chủ nghĩa MácLênin về vấn đề dân tộc, thuộc địa. Bên cạnh đó, nhân tố chủ quan cũng quyết
thắng lợi, tự xưng Tiết độ xứ, xây dựng độc lập.
Chiến thắng của Ngô Quyền năm 938 đánh quân Nam Hán trên sông
Bạch Đằng đã đánh bại âm mưu đồng hóa của phong kiến phương Bắc, khẳng
định quyền độc lập tự chủ của nước ta, chấm dứt thời kỳ nghìn năm bắc
thuộc, mở ra kỷ nguyên mới cho dân tộc ta. Trong thời kỳ Bắc thuộc ý thức
về độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia của người Việt không bao giờ mất đi,
và càng không bao giờ bị đồng hóa mặt khác còn giữ gìn được bản sắc văn
hóa dân tộc. Như vậy, chính chủ nghĩa yêu nước là dòng lưu chảy xuyên suốt
lịch sử dân tộc Việt Nam, đứng đầu bảng giá trị văn hóa của dân tộc Việt.
Thứ hai, khi nói về truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam, Hồ Chí
Minh thường đề cao truyền thống tương thân, tương ái, tinh thần nhân nghĩa,
truyền thống đoàn kết...
Truyền thống này được đúc kết cùng với sự ra đời của dân tộc. Ngay từ
khi lịch sử chưa thành văn, tư tưởng của con người thường được gửi gắm qua
các câu truyện thần thoại của dân tộc ta. Truyền thuyết về Họ Hồng Bàng kể
rằng vua đầu tiên của họ Hồng Bàng tên là Lộc Tục, cháu bốn đời của Viêm
Đế (vua xứ nóng), họ Thần Nông. Lộc Tục lấy con gái của vua Hồ Động Đình
9
là Long Nữ, sinh ra Sùng Lãm, nối ngôi làm vua xưng là Lạc Long Quân. Lạc
Long Quân lấy Âu Cơ và sinh ra bọc trăng trứng, trăm trứng nở thành trăm
con trai, nhắc nhở đồng bào ta nhớ về cội nguồn, vì thế trong cuộc sống phải
yêu thương nhau, đoàn kết với nhau vì dân tộc Việt Nam là một giống, một
nòi, một mẹ sinh ra.
Khi đề cao truyền thống nhân ái, ca dao Việt Nam nhắc nhở chúng ta
rằng “Nhiễu điều phủ lấy giá gương. Người trong một nước phải thương nhau
cùng” hay “Một con ngựa đau, cả tàu bỏ cỏ”; truyền thống tốt đẹp ấy thể
hiện trong phạm vi làng là cơ sở tạo nên tính đồng nhất “ bán anh em xa, mua
láng riềng gần”. Việc chống giặc ngoại xâm đòi hỏi phải có tinh thần đoàn
cùng vợ xây dựng cơ nghiệp với phố xá xầm uất, mang vàng ra biển buôn bán
với thương lái nước ngoài- chính là biểu tượng cho ước mơ thứ nhất. Liễu
Hạnh người con gái quê ở xã Vân Cát ( huyện Vũ Bản, Nam Định) tương
truyền là công chúa con Trời, ba lần từ bỏ cuộc sống đầy đủ trên thiên đường,
xin vua cha cho xuống trần gian sống cuộc đời của người phụ nữ bình dị với
khát vọng về tự do, hạnh phúc- chính là biểu tượng ước vọng thứ hai. Ước
vọng thiêng liêng ấy đã tạo nên Con người.
Như vậy tục thờ Tứ bất tử là một giá trị tinh thần rất đẹp của dân tộc ta.
Đó là tinh hoa được chắt lọc qua suốt chiều dài lịch sử biểu tượng cho sức
mạnh liên kết của cộng đồng để làm ruộng và đánh giặc, cho khát vọng xây
dựng một cuộc sống vật chất phồn vinh và tinh thần hạnh phúc.
Thứ 4, dân tộc Việt Nam có truyền thống lạc quan yêu đời. Điều đó được
thể hiện trong mọi mặt của đời sống xã hội. Từ những câu truyện dân gian
như: “Cái ông mất ngựa”, đến những câu ca dao như “ chớ thấy sóng cả mà
ngã tay chèo”; điều đó cho thấy trong mọi hoàn cảnh, dù là hoàn cảnh khó
khăn nhất, nhưng nếu có tinh thần lạc quan, tin tưởng vào bản thân của chính
mình thì nhất định sẽ chiến thắng. Hồ Chí Minh là hiện thân của truyền thống
11
lạc quan đó, luôn tin tưởng vào chính mình, vào tương lai nhất định cái tốt
đẹp sẽ đến với đất nước và dân tộc của mình.
Thứ 5, với vị trí đặc biệt của mình, Việt Nam là giao điểm của các luồng
văn hóa, chúng ta tiếp giáp với những nước có nền văn minh lâu đời như:
Trung Quốc; Ấn Độ; dân tộc ta biết học hỏi và không ngừng mở rộng đón
nhận tinh hoa của các nền văn hóa lớn trên thế giới. Việc giao lưu với Trung
Hoa dẫn đến người Việt dùng chữ Hán làm văn tự, nhưng cải biến chữ Hán
thành chữ Nôm là một sản phẩm của cuộc giao lưu đó. Chữ Nôm được dùng
trong sáng tác văn chương và được đề cao dưới triều đại nhà Hồ và triều đại
Tây Sơn. Vua Quang Trung đã sử dụng chữ Nôm là văn tự chính để đề ra các
nói thánh hiền, yêu thương giống nòi, tôn kính lẻ phải, ghét xa hoa, không
hám tiền tài, khinh ghét vũ lực, không sợ gian khổ, hy sinh; đó là những đặc
điểm về bản tính của người An Nam hình thành từ bao thế hệ, những thế hệ
luôn luôn cố gắng thực hiện đạo đức ấy một cách thành kính, người An Nam
bình thường mà người ta gặp bấy cứ nơi đâu cũng đều như vậy cản...Trong
đám người bình dân, người ta cũng thấy những thuần phong mỹ tục ấy, kể cả
người mà xưa nay chúng ta thường quen gọi là bọn côn đồ, quân ăn cướp”
[38,tr. 425-426]
Chính chủ nghĩa yêu nước- nhân văn Việt Nam là cội nguồn, là giá trị
văn hóa truyền thống tốt đẹp, là điểm xuất phát, là động lực lên đường cứu
nước để Hồ Chí Minh lựa chọn và tiếp nhận.
Chủ nghĩa yêu nước ở Hồ Chí Minh là sự kế thừa những giá trị của chủ
nghĩa yêu nước truyền thống dân tộc nhưng được phát triển với tinh thần nhân
văn, đổi mới, phù hợp với thực tiễn thời đại.
Truyền thống quê hương và gia đình
Truyền thống quê hương và gia đình là một nhân tố quan trọng hình
thành nên tư tưởng của Người. Hồ Chí Minh sinh ra trong một gia đình nhà
13
nho, cụ Nguyễn Sinh Sắc là người yêu nước và sống gần gũi với nhân dân lao
động, mặc dù đỗ khoa bảng nhưng cụ không ra làm quan, sống một cuộc đời
thanh bạch, vào Nam Bộ làm ghề thầy thuốc giúp nhân dân lao động. Cuộc
đời của cụ là một tấm gương sáng về lối sống giản dị, yêu nước, thương dân.
Từ tấm gương sáng ấy đã tác động đến nhân cách, đến hình thành tư
tưởng Hồ Chí Minh sau này.
Hồ Chí Minh cũng sinh ra ở vùng quê đất địa linh nhân kiệt. Nơi đây là
vùng đất giàu truyền thống cách mạng, đó là quê hương của nhiều vị anh
hùng nổi tiếng trong lịch sư như: Mai Thúc Loan, Đặng Dung, Nguyễn Biểu,
hay các lãnh tụ yêu nước như: Phan Đình Phùng, Phan Bội Châu.
nam rất sớm, có nhiều ý kiến cho rằng nơi ra đời ở Luy Lâu (Bắc Ninh), khi
vào Việt Nam, giáo lý của nhà Phật truyền tải được tư tưởng bình đẳng, bác
ái, cứu khổ, cứu nạn....đặc biệt lối sống tích cực của nhà Phật gần gũi với tín
ngưỡng văn hóa Việt Nam nên được người Việt dễ dàng chấp nhận.
Phật giáo ở Việt Nam có truyền thống đoàn kết trong cộng đồng dân tộc,
khi tổ quốc lâm nguy sẵn sàng tham gia đấu tranh chống kẻ thù, bảo vệ độc
lập dân tộc. Giáo lý của Phật giáo đi tìm căn nguyên của nổi khổ con người,
Phật giáo tiếp thu tư tưởng luân hồi và nghiệp báo của bộ kinh Veda và của
đạo Balamon. Theo đạo Phật đời sống con người là bể khổ, cái khổ ấy không
ngoài 8 nổi khổ: Sinh, lão, bệnh, tử, thụ biệt ly (yêu mà phải ở xa), oán tăng
hội (ghét mà phải ở gần), sở cầu bất đắc (muốn mà không được), thủ ngũ uẩn
(khổ vì có sự tồn tại của thân xác).
Mọi nổi khổ đều có nguyên nhân. Phật giáo chỉ ra rằng do con người ta
“vô minh” do đó, con đường để diệt khổ phải thực hiện “ bát chính đạo” con
người có thể giải thoát được vô minh, nhập vào cõi niết bàn. Những tư tưởng
của Phật giáo được Hồ Chí Minh kế thừa, phát triển lên tầm cao mới, những
15
phương pháp của nhà Phật được người vận dụng một cách sáng tạo. Người
cũng hướng đến những nổi khổ của con người và đưa ra con đường diệt khổ
là đấu tranh để giành độc lập dân tộc, muốn có được sức mạnh đó phải là đại
đoàn kết toàn dân tộc, đoàn kết quốc tế sẽ tạo ra một nguồn sức mạnh to lớn
giúp giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người.
Người Việt vốn có đầu óc thiết thực, coi trọng việc tạo phúc cho con
cháu, trong dân gian thường nói: Thứ nhất là tu tại gia, thứ nhì tu chợ, thứ ba
tu chùa; Dù xây chín bậc phù- đồ, không bằng làm phúc cứu cho một người.
Mặc dù tiếp nhận những yếu tố tích cực của Phật giáo, nhưng người Việt vẫn
giữ truyền thống thờ ông bà tổ tiên: Tu đâu cho bằng tu nhà, thờ cha kính mẹ
mới là chân tu (ca dao).
cách mạng ở nước ngoài, Hồ Chí Minh sống chủ yếu ở châu Âu nên cũng
chịu ảnh hưởng rất sâu rộng của nền văn hóa dân chủ và cách mạng của
phương Tây.
Đến với quê hương của lý tưởng tự do, bình đẳng, bác ái, Hồ Chí Minh
được tiếp xúc trực tiếp với tác phẩm của các nhà tư tưởng khai sáng: Von-te,
Rút-xô, Mông-tét-xki-ơ,…những lý luận gia của đại cách mạng Pháp 1789,
như Tinh thần pháp luật của Mông-tét-xki-ơ, Khế ước xã hội của Rút-xô,
v.v…tư tưởng dân chủ của các nhà khai sáng đã có ảnh hưởng tới tư tưởng
của Người. Ngoài ra, Người còn hấp thụ được tư tưởng dân chủ và hình thành
được phong cách dân chủ của mình từ trong cuộc sống thực tiễn. Rõ ràng là, ở
Pháp, Người đã có thể hoạt động và đấu tranh cách mạng một cách tương đối
tự do, thuận lợi hơn ở trên đất nước mình, dưới chế độ thuộc địa.
Hồ Chí Minh cũng đánh giá cao lòng nhân ái, đức hy sinh, những giá trị
cơ bản của Thiên chúa giáo. Người đã tiếp thu những hạt nhân hợp lý của
thiên chúa để xây dựng những nguyên tắc đại đoàn kết dân tộc một cách đúng
đắn, khoa học.
17
Ngoài ra, Hồ Chí Minh còn chịu ảnh hưởng của nhà yêu nước tiêu biểu
của Ấn Độ là Mahatma Gandhi. Ông là lãnh tụ của Đảng Quốc đại Ấn Độ, là
anh hùng dân tộc Ấn Độ, đã chỉ đạo cuộc kháng chiến chống chế độ thực dân
của Đế quốc Anh và giành độc lập cho Ấn Độ. Tư tưởng đoàn kết dân tộc của
ông đã có ảnh hưởng sâu rộng đến nhiều nước châu Á bị đô hộ áp bức đấu
tranh cho nền độc lập của Ấn Độ. Những giá trị đó được Người thâu hái, chọn
lọc để có thể từ tầm cao của tri thức nhân loại mà vận dụng có chọn lọc, kế
thừa và đổi mới phù hợp với hoàn cảnh đất nước mình.
Khi lăn lội ở các nước phương tây, Nguyễn Ái Quốc đã kết hợp lối tư
duy tổng hợp dựa trên cảm tính của truyền thống văn hóa phương Đông với
phương pháp tư duy phân tích dựa trên lý tính của truyền thống văn hóa
tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn đấu tranh vì độc lập dân tộc và giải
phóng dân tộc.Khi nghiên cứu những quan điểm của C.Mác và Ănghen về
vấn đề dân tộc, Hồ Chí Minh đã đọc rất nhiều tác phẩm của C.Mác và Ănghen
được thể hiện trong tác phẩm “Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và
của nhà nước” của Ph. Ănghen và tác phẩm của hai người viết chung “Tuyên
ngôn của Đảng cộng sản” viết năm 1848.
C. Mác và Ph. Ănghen quan niệm dân tộc là sản phẩm của quá trình phát
triển lâu dài của lịch sử xã hội loài người, các hình thức cộng đồng người đã
từng tồn tại trong lịch sử trước khi có dân tộc là: thị tộc, bộ lạc, bộ tộc.
Do sự phát triển kinh tế, văn hóa dẫn đến sự ra đời của một hình thức
cộng đồng người mới thay thế bộ tộc đó là dân tộc. Dân tộc được hình thành
trong quá trình lịch sử với những đặc điểm chung là: Cùng chung sống trên
một lãnh thổ, có chung một nền kinh tế và chung một ngôn ngữ và có chung
một văn hóa, tâm lý, tích cách. Những đặc trưng này có quan hệ chặt chẽ với
nhau trong đó đặc trưng “ có chung một nền văn hóa, tâm lý, tích cách” là đặc
trung cơ bản tạo nên bản sắc dân tộc.
19
Quá trình hình thành dân tộc
Ph. Ănghen cho rằng, ở châu Âu dân tộc ra đời với sự thống nhất thị
trường diễn ra mạnh mẽ ở thế kỷ IX. Ở Châu Á dân tộc ra đời sớm hơn do
nhu cầu thống nhất cộng đồng để tiến hành đấu tranh chống lại thiên tai khắc
nghiệt đối với nền nông nghiệp lúa nước. Ở châu Phi quá trình thường gắn
liền với quá trình đấu tranh giải phóng dân tộc chống ách thống trị của chủ
nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực dân.
Kế thừa những quan điểm của C. Mác và Ph. Ănghen về vấn đề dân tộc
Lênin đã phát triển thành hệ thống lý luận sâu sắc, làm tiền đề cho việc vận
dụng vào đường lối, chính sách của các chính Đảng của giai cấp vô sản.
Quan niệm của Lênin về vấn đề dân tộc được trình bày ở rất nhiều tác
thuẫn đó nhằm xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Đây là một nguyên
tắc tư duy chính trị đặc sắc của Hồ Chí Minh nhằm thêm nhiều bạn và bớt đi
những kẻ thù không cần thiết, nó có giá trị to lớn đối với sự nghiệp đại đoàn
kết toàn dân tộc của cách mạng Việt Nam.
Nguyên tắc thứ hai là: gắn kết phong trào công nhân với phong trào giai
phóng dân tộc là vấn đề sống còn, là điều kiện tiên quyết trong sự nghiệp đấu
tranh chống chủ nghĩa tư bản. Nhận thức được nguyên tắc này, Hồ Chí Minh
đã nhận xét rằng: Lênin là người đầu tiên hiểu và đánh giá tầm quan trọng lớn
lao của việc lôi cuốn nhân dân các nước thuộc địa vào phong trào cách mạng.
Chính Lênin là người đầu tiên chỉ rõ nếu không có sự tham gia của các dân
tộc thuộc địa, thì cách mạng xã hội không thể có được.
Do hạn chế về lịch sử, mặc dù thấy được tầm quan trọng của cách mạng
giải phóng dân tộc, nhưng Lênin vẫn khẳng định sự thắng lợi của cách mạng
thuộc địa phụ thuộc bị phụ thuộc vào sự thắng lợi của cách mạng vô sản ở
chính quốc.
Khi nghiên cứu vấn đề dân tộc Lênin cũng đã phát hiện ra hai xu hướng