VIỆN HÀN LÂM
KHOA HOC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LÊ VĂN THẮNG
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ TRỢ GIÚP PHÁP LÝ
TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành: Luật Hành chính và Luật Hiến pháp
Mã số: 60.38.01.02
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2017
Công trình được hoàn thành tại: Học viện Khoa học xã hội
Người hướng dẫn khoa học: TS. Trần Kim Liễu
Phản biện 1: …………………………………………
…………………………………………
Phản biện 2: …………………………………………
…………………………………………
Luận văn sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ
họp tại: Học viện Khoa học xã hội ..... giờ ...... ngày ...... tháng ......
năm ......
Có thể tìm hiểu luận văn tại: Thư viện Học viện Khoa học xã hội
tác giả đề cập một cách tổng quát về trợ giúp pháp lý tại Trung Quốc
như khái niệm trợ giúp pháp lý, người được trợ giúp pháp lý, hệ
thống trợ giúp pháp lý tại Trung Quốc.
Ở nước ta, trong những năm gần đây, nhằm đáp ứng nhu cầu
phát triển của xã hội trong tình hình mới, vấn đề trợ giúp pháp lý
được đề cập nhiều trong các công trình nghiên cứu, các bài báo
nghiên cứu của các chuyên gia.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:
Mục đích nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu vấn đề lý luận
và thực tiễn trong hoạt động quản lý nhà nước đối với hoạt động trợ
giúp pháp lý tại thành phố Hồ Chí Minh, từ đó nêu lên những vấn đề
tồn đọng và đề xuất các kiến nghị nhằm nâng cao hiệu lực QLNN đối
với hoạt động TGPL
Nhiệm vụ nghiên cứu: Để thực hiện mục tiêu trên, luận văn
tập trung giải quyết các nhiệm vụ sau: Một là, nghiên cứu làm rõ
khái niệm, nội dung, vai trò và các yếu tố ảnh hưởng của TGPL. Hai
là, phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động của TGPL thành phố Hồ
Chí Minh; làm rõ những nguyên nhân, hạn chế và những vấn đề đặt
ra cần giải quyết. Ba là, đề xuất quan điểm và giải pháp nâng cao
hiệu quả hoạt động TGPL.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài: Đề tài nghiên cứu lý luận
về quản lý nhà nước đối với hoạt động TGPL. Đồng thời, nghiên cứu
pháp luật và nghiên cứu thực trạng về QLNN về TGPL.
Phạm vi nghiên cứu đề tài: Đề tài tập trung nghiên cứu hoạt
động ban hành văn bản pháp luật quản lý hoạt động trợ giúp pháp lý,
công tác quản lý chất lượng thực hiện trợ giúp pháp lý, quản lý tổ
2
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ
NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG TRỢ GIÚP PHÁP LÝ
1.1. Khái niệm, đặc điểm của quản lý Nhà nước đối với
hoạt động trợ giúp pháp lý
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm trợ giúp pháp lý
1.1.1.1. Khái niệm trợ giúp pháp lý
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài về quản lý nhà nước
đối với hoạt động TGPL nên khái niệm TGPL trong luận văn được
hiểu theo khái niệm được nêu trong các văn bản quy phạm pháp luật,
mà cụ thể là Điều 2 Luật TGPL năm 2017 quy định:
“Trợ giúp pháp lý là việc cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí
cho người được trợ giúp pháp lý trong vụ việc trợ giúp pháp lý theo
quy định của Luật này, góp phần bảo đảm quyền con người, quyền
công dân trong tiếp cận công lý và bình đẳng trước pháp luật.”
1.1.1.2. Đặc điểm trợ giúp pháp lý
TGPL là hoạt động không thu phí, lệ phí, thù lao từ người
được TGPL; Trợ giúp pháp lý không chỉ giúp người được TGPL bảo
vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình mà còn giúp họ nâng cao hiểu
biết pháp luật, ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật;
Ngoài những đặc điểm trên thì TGPL có các thuộc tính cơ
bản sau: Khả năng người nghèo, người có hoàn cảnh đặc biệt, không
thể tiếp cận các dịch vụ pháp lý để tự bảo vệ mình được thụ hưởng
một dịch vụ pháp lý từ chuyên gia pháp luật mà không phải chi trả
tài chính hoặc chi trả khoản tài chính thấp hơn mức bình thường.
Hai là, việc cung cấp dịch vụ pháp lý này nhằm mục đích
giúp người được TGPL bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình,
nâng cao hiểu biết pháp luật và chấp hành pháp luật;
4
chấp hành pháp luật; Quản lý nhà nước đối với hoạt động TGPL có
nội dung đa dạng như: Xây dựng và ban hành các quyết định QLNN
chủ đạo, quyết định QLNN quy phạm, quyết định QLNN cá biệt,...
1.2. Vai trò của quản lý nhà nước với hoạt động TGPL
Nhà nước có vai trò quan trọng trong việc đảm bảo công
bằng trong việc hưởng các dịch vụ pháp lý; Nhà nước ban hành một
hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật, tạo hành lang pháp lý cho
hoạt động TGPL làm cơ sở, hành lang pháp lý cho hoạt động TGPL;
Sự quản lý của nhà nước không chỉ nhằm tổ chức hoạt động TGPL
mà còn nhằm bảo đảm chất lượng hoạt động TGPL.
1.3. Nội dung quản lý nhà nước đối với hoạt động TGPL
1.3.1. Xây dựng và ban hành quyết định QLNN về chiến
lược, kế hoạch phát triển TGPL, các quyết định quy phạm và quyết
định tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật
Hoạt động ban hành quyết định QLNN chiếm vị trí trung
tâm trong hoạt động quản lý, bởi vì hầu hết mọi hình thức hoạt động
quản lý khác đều trực tiếp hoặc gián tiếp phục vụ cho hoạt động xây
dựng và ban hành các loại quyết định QLNN.
1.3.2. Quản lý đội ngũ người thực hiện trợ giúp pháp lý, tổ
chức thực hiện TGPL
Tổ chức tập huấn, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho
người thực hiện TGPL; Tổ chức kiểm tra và cấp chứng chỉ bồi
dưỡng nghiệp vụ TGPL
1.3.3. Thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo,
khen thưởng, kỷ luật và xử lý vi phạm trong hoạt động TGPL
Thanh tra giúp phòng ngừa, phát hiện và xử lý các hành vi vi
phạm pháp luật; Kiểm tra trong Quản lý nhà nước đối với hoạt động
Trợ giúp pháp lý được hiểu là soát xét, kiểm soát, nó mang tính cụ
6
7
Sự quan tâm lãnh đạo và chỉ đạo của các cấp ủy Đảng và
chính quyền các cấp đối với công tác trợ giúp pháp lý là yếu tố quan
trọng để thực hiện tốt hoạt động trợ giúp pháp lý.
1.5.3. Nhận thức của các cơ quan, ban ngành về TGPL
Việc nhận thức đúng và đầy đủ của các cấp ủy Đảng và
chính quyền địa phương về hoạt động trợ giúp pháp lý sẽ góp phần
đóng góp và hỗ trợ cho hoạt động trợ giúp pháp lý ngày càng hoàn
thiện và đến gần với người dân để đáp ứng tốt hơn nhu cầu của người
dân cũng như của xã hội.
1.5.4. Về tổ chức bộ máy và đội ngũ thực hiện TGPL
Có thể nói năng lực, trách nhiệm và kinh nghiệm của những
người thực hiện TGPL giữ vị trí tiên phong để các vụ việc Trợ giúp
pháp lý được hiện hiện tốt hơn. Các vụ việc về TGPL không thể đảm
bảo khi đội ngũ thực hiện không tốt về cả chuyên môn lẫn đạo đức
nghề nghiêp.
1.5.5. Về cơ sở vật chất và kinh phí phục vụ cho hoạt động
Trợ giúp pháp lý
Hoạt động TGPL với ý nghĩa là hoạt động TGPL miễn phí
không có thu. Do đó, nếu không có sự quan tâm và đầu tư về cơ sở
vật chất, kinh phí hoạt động tương xứng với nhu cầu thực tế của nhân
dân thì không thể đạt mục tiêu mà Luật TGPL và các văn bản liên
quan đã đề ra
1.5.6. Hoạt động tuyên truyền phổ biến về trợ giúp pháp lý
Công tác tuyên truyền và phổ biến về TGPL đến người dân
là một yêu cầu cần thiết bởi khi đó họ biết được quyền của mình về
TGPL, địa chỉ của các tổ chức về trợ giúp pháp lý.
1.5.7. Sự phối hợp giữa các cơ quan trong hoạt động Trợ
hoàn thiện. Mức độ và phạm vi điều chỉnh của pháp luật về TGPL
được mở rộng, đầy đủ, toàn diện, có hiệu lực pháp lý ngày càng cao
hơn, mà kết quả cao nhất hiện nay là Luật trợ giúp pháp lý
2.2.2. Văn bản do thành phố Hồ Chí Minh ban hành
Ngày 17/9/2001, UBND Thành phố đã ban hành Quyết định
số 79/2001/QĐ-UB về việc ban hành quy chế tổ chức và hoạt động
của Trung tâm TGPL Nhà nước thành phố Hồ Chí Minh.
2.3. Thực trạng về công tác tổ chức bộ máy quản lý nhà
nước đối với hoạt động TGPL ở thành phố Hồ Chí Minh
2.3.1. Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về hoạt động trợ
giúp pháp lý
Về cơ cấu, tổ chức, theo Quyết định số 32/2015/QĐ-UBND,
ngày 03/7/2015 của Ủy ban nhân dân thành phố Ban hành quy chế tổ
chức và hoạt động của sở tư pháp thành phố Hồ Chí Minh thì đứng
đầu là Ban giám đốc với các phòng nghiệp vụ như: Văn phòng sở,
Phòng tổ chức, Thanh tra sở, Phòng văn bản pháp quy, Phòng kiểm
tra văn bản, Phòng công tác Thi hành pháp luật, Phòng kiểm soát
10
Thủ tục hành chính, Phòng phổ biến giáo dục pháp luật, Phòng hộ
tịch quốc tịch, Phòng lý lịch tư pháp, Phòng bổ trợ tư pháp. Bên cạnh
các phòng nghiệp vụ thì có các tổ chức sự nghiệp như: Phòng công
chứng số 1, Phòng công chứng số 2, Phòng công chứng số 3, Phòng
công chứng số 4, Phòng công chứng số 5, Phòng công chứng số 6,
Phòng công chứng số 7, Trung tâm thông tin và tư vấn công chứng,
Trung tâm TGPL, Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản, Báo pháp
luật Thành phố.
2.3.2. Cơ cấu tổ chức và hoạt động thực hiện trợ giúp pháp
lý của Trung tâm TGPL
2.3.3. Đánh giá thực trạng quản lý nhà nước đối với hoạt
động Trợ giúp pháp lý
2.3.3.1. Những thành tựu chung
Sau 08 năm thi hành Luật Trợ giúp pháp lý và gần 19 năm
thực hiện công tác trợ giúp pháp lý, hệ thống trợ giúp pháp lý của
Nhà nước đã phát triển mạnh mẽ, với đội ngũ công chức, viên chức,
người lao động tại các trung tâm và chi nhánh trợ giúp pháp lý là
1.314 người, trong đó có 572 trợ giúp viên pháp lý (490 người đã
qua đào tạo miễn phí nghề luật sư). [9].
2.3.3.2. Đối với thành phố Hồ Chí Minh
a/ Công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, hướng dẫn và
triển khai thực hiện Luật TGPL
Để triển khai thực hiện Luật TGPL trên địa bàn Thành phố
thì Sở Tư pháp đã tham mưu Ủy ban nhân dân Thành phố ban hành
các văn bản sau: Quyết định số 3600/QĐ-UBND ngày 09/8/2007 phê
duyệt kế hoạch thực hiện Đề án “Phát huy vai trò của cơ quan và
cán bộ tư pháp trong phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức
12
chấp hành cho cán bộ, nhân dân ở xã, phường, thị trấn giai đoạn
2007-2010 trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh”;…[37].
b/ Việc tổ chức quán triệt nội dung cơ bản của Luật Trợ giúp
pháp lý và các văn bản hướng đến các tổ chức thực hiện TGPL
c/ Công tác truyền thông về pháp luật TGPL
d/ Về tổ chức bộ máy của Trung tâm Trợ giúp pháp lý
e/ Về kết quả hoạt động TGPL của Trung tâm
f/ Về công tác tập huấn, bồi dưỡng kiến thức pháp luật và kỹ
năng nghiệp vụ cho đội ngũ người thực hiện Trợ giúp pháp lý
hạn trả lời yêu cầu TGPL, cũng như trường hợp cần giảm bớt thủ tục
hành chính để thụ lý ngay dù người có yêu cầu TGPL chưa thể cung
cấp đầy đủ hồ sơ theo quy định của Luật.
Thứ ba, để có cơ sở để đánh giá chất lượng vụ việc, nâng cao
chất lượng vụ việc TGPL, cung cấp cho người được TGPL hưởng
dịch vụ TGPL với chất lượng tốt nhất, tại Điều 43 Nghị định số
07/2007/NĐ-CP quy định về tiêu chí đánh giá chất lượng vụ việc Trợ
giúp pháp lý.
Thứ tư, trong bồi dưỡng nghiệp vụ TGPL nhằm đào tạo
nguồn bổ nhiệm TGVPL hiện nay quy định cho Cục TGPL cũng là
một bất cập hiện nay. Tuy nhiên, theo quy định tại Điều 19 và Điều
44 của Nghị định 07/2007/NĐ-CP thì Cục TGPL thuộc Bộ Tư pháp
có nhiệm vụ “Bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho người thực hiện
TGPL và cấp Chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ TGPL.”[18].
2.3.4.2. Về cơ sở vật chất và chế độ đãi ngộ thực hiện trợ
giúp pháp lý
Trụ sở làm việc của một số Trung tâm TGPL còn chật h p.
Về chế độ đãi ngộ đối với cộng tác viên mới ở mức mang tính động
viên nên chưa khuyến khích được tinh thần công tác của họ.
2.3.4.3. Hiệu quả hoạt động Trợ giúp pháp lý
14
Ở Thành phố các hoạt động TGPL còn chưa hiệu quả, số
lượng vụ tham gia tố tụng, đại diện ngoài tố tụng và kiến nghị còn ít
so với nhu cầu và số lượng án giải quyết hàng năm của các cơ quan
tiến hành tố tụng; hoạt động của các câu lạc bộ TGPL chưa đồng
đều,…
2.3.4.4. Những khó khăn, vướng mắc khác
Thứ nhất, công tác tập huấn bồi dưỡng nghiệp vụ, nâng cao
bắt buộc, có chế tài.
2.3.5.3. Chế độ đối với cán bộ, công chức, viên chức ở Trung
tâm Trợ giúp pháp lý
Viên chức tại Trung tâm TGPL cũng như công chức làm
công tác QLNN tại các phòng thuộc Sở Tư pháp Thành phố, hiện
nay, ngoài chế độ chung về tiền lương và tiền khoán chi, họ không
được hưởng chế độ, sự hỗ trợ hay khuyến khích nào khác.
2.3.5.4. Quy trình, thủ tục thực hiện hoạt động TGPL
Thiếu quy trình các thủ tục trong hoạt động TGPL để dễ
kiểm soát chất lượng vụ việc. Theo Luật TGPL thì chỉ mới quy định
về trình tự yêu cầu TGPL tại Điều 33 Luật TGPL và thụ lý vụ việc
TGPL tại Điều 34 Luật TGPL.
2.3.5.5. Nhận thức của cán bộ, công chức và người dân
Thành phố về TGPL
Nhận thức về công tác TGPL của một số cơ quan, tổ chức,
cá nhân và một số cấp uỷ, chính quyền chưa đầy đủ. Các cơ quan
QLNN về TGPL còn thờ ơ không có sự quan tâm đúng mức
2.3.5.6. Công tác kiểm tra, giám sát
Việc kiểm tra, đánh giá chất lượng vụ việc TGPL chưa
thường xuyên nên có tình trạng một số vụ việc TGPL chất lượng
chưa cao, chưa bảo vệ được các quyền và lợi ích hợp pháp của người
được TGPL.
16
Kết luận chương 2
Trong nội dung Chương 2, tác giả đã tập trung nghiên cứu
các đặc điểm về kinh tế - văn hóa và xã hội của thành phố Hồ Chí
Minh tác động đến công tác Trợ giúp pháp lý; Quản lý nhà nước về
Trợ giúp pháp lý và đặc biệt đi sâu phân tích thực trạng về ban hành
động, Trung tâm TGPL, Chi nhánh TGPL phải thông báo ít nhất
trước 05 ngày tổ chức lưu động. Nếu không bố trí được đại diện, cơ
quan, ban ngành phải thông thông báo với Trung tâm TGPL, Chi
nhánh TGPL ít nhất trước 03 ngày tổ chức thực hiện lưu động”.
3.2.2. Nâng cao năng lực của chủ thể trợ giúp pháp lý
Cần bãi bỏ quy định tại khoản 2 Điều 7 Nghị định
37/2014/NĐ-CP ngày 05/5/2014 về chức năng QLNN về TGPL của
UBND cấp huyện. Hiện nay, theo các văn bản hiện hành, Phòng Tư
pháp chỉ có chức năng hướng dẫn thực hiện hoạt động của CLB Trợ
giúp pháp lý.
18
3.2.3. Tăng cường cơ chế phối hợp giữa Trung tâm TGPL
với các Đoàn Luật sư để triển khai hoạt động trợ giúp pháp lý.
Theo tôi, để có thể vận động ngày càng đông đảo luật sư
tham gia hoạt động trợ giúp pháp lý thì hai bên cần ký kết văn bản
quy chế phối hợp để hỗ trợ vận động luật sư tham gia.
3.2.4. Liên đoàn Luật sư Việt Nam cần ban hành một quy
định hướng dẫn cho các Đoàn Luật sư, tổ chức hành nghề luật sư
trong cả nước thực hiện hoạt động trợ giúp pháp lý.
Theo tôi trong thời gian tới Liên đoàn luật sư Việt Nam cần
phải có quy định hướng dẫn cho các Đoàn Luật sư nói chung, tổ
chức hành nghề luật sư trong cả nước nói chung và và Đoàn Luật sư
Thành phố.
3.3. Những giải pháp hoàn thiện cơ cấu, tổ chức của chủ
thể quản lý trợ giúp pháp lý tại thành phố Hồ Chí Minh
3.3.1. Nâng cao vai trò quản lý nhà nước của Sở Tư pháp
về hoạt động TGPL
Đây là một vấn cần được UBND Thành phố quan tâm, vì Sở
Trợ giúp pháp lý.
3.4.4. Nâng cao vị trí và vai trò của các đoàn thể chính trị xã hội tham gia hoạt động Trợ giúp pháp lý
Với vị trí một trung tâm hành chính, kinh tế lớn của cả nước
thì vị trí, vai trò của các tổ chức Đoàn thể trong TGPL sẽ mang lại
lợi ích rất lớn cho quá trình phát triển của Thành phố.
3.4.5. Tăng cường kiểm tra, giám sát hoạt động TGPL
Sở Tư pháp cần quan tâm và thường xuyên hơn nữa trong
việc theo dõi, kiểm tra các hoạt động TGPL của Trung tâm, đội ngũ
Cộng tác viên và các tổ chức đăng ký tham gia Trợ giúp pháp lý từ
đó có hướng xử lý và tham mưu cho các cơ quan cấp trên.
20
Kết luận chương 3
Dựa trên các cơ sở đưa về việc tăng cường công tác quản lý
nhà nước về Trợ giúp pháp lý thích ứng với nhu cầu của xã hội, tác
giả đã đưa ra các đề xuất, giải pháp nhằm tăng cường hoạt động quản
lý nhà nước ở thành phố Hồ Chí Minh trong thời gian tới. Đó là các
giải pháp sau đây: Hoàn thiện pháp luật về trợ giúp pháp lý; Hoàn
thiện cơ cấu, tổ chức của Trung tâm TGPL;…
21
KẾT LUẬN
Tuy hoạt động trợ giúp pháp lý là một hoạt động đã có từ lâu
ở nước ta nhưng phải đến năm 1997, hệ thống tổ chức trợ giúp pháp
lý mới được hình thành và đến năm 2006, một văn bản luật về Trợ
giúp pháp lý đầu tiên được ban hành, đó là Luật trợ giúp pháp lý. Từ