Quản lý nhà nước về Phật giáo từ thực tiễn tỉnh Trà Vinh (LV thạc sĩ) - Pdf 46

THẠCH VUÔNG

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

THẠCH VUÔNG

LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH

QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ PHẬT GIÁO
TỪ THỰC TIỄN TỈNH TRÀ VINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

KHÓA VI ĐỢT 2 NĂM 2015

HÀ NỘI - 2017


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

THẠCH VUÔNG

QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ PHẬT GIÁO
TỪ THỰC TIỄN TỈNH TRÀ VINH
Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Mã số: 60 38 01 02


Tác giả xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Quý Thầy – Cô, Lãnh
đạo Học viện Khoa học xã hội. Quý Thầy – Cô đã tận tình giảng dạy, tạo điều
kiện giúp đỡ tác giả trong quá trình học tập, nghiên cứu, đặc biệt là sự giúp đỡ
và chỉ bảo quý báu của PGS.TS. VŨ CÔNG GIAO người Thầy đã trực tiếp
hướng dẫn, giúp đỡ tác giả hoàn thành luận văn này.
Với tình cảm chân thành, tác giả cũng xin gửi lời tri ân đến Lãnh đạo các
Cơ quan ban ngành tỉnh Trà Vinh, bạn đồng học, gia đình và bạn bè đã tận
tình giúp đỡ để tác giả hoàn thành việc thu thập và xử lý thông tin, số liệu
phục vụ quá trình nghiên cứu của mình.
Xin chân thành tri ân và cảm ơn !
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 11 tháng 10 năm 2017
Học viên

Thạch Vuông


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .................................................................................................................... 1
Chƣơng 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN, PHÁP LÝ VỀ QUẢN LÝ NHÀ
NƢỚC VỀ PHẬT GIÁO Ở VIỆT NAM HIỆN NAY ............................................ 6
1.1. Nhận thức về quản lý nhà nước về Phật giáo .................................................. 6
1.2. Đặc điểm, vai trò, nguyên tắc và nội dung của quản lý nhà nước về Phật giáo
............................................................................................................................... 10
1.3. Các yếu tố tác động đến quản lý nhà nước về Phật giáo ở nước ta hiện nay.17
1.4. Phương thức quản lý nhà nước về Phật giáo ở nước ta hiện nay .................. 21
Chƣơng 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ PHẬT GIÁO Ở TỈNH
TRÀ VINH ............................................................................................................... 25
2.1. Tình hình Phật giáo ảnh hưởng đến quản lý nhà nước tỉnh Trà Vinh ........... 25
2.2. Hoạt động quản lý nhà nước về Phật giáo ở tỉnh Trà Vinh trong 5 năm gần
đây ......................................................................................................................... 27


: Công tác tôn giáo

ĐBSCL

: Đồng bằng sông Cửu Long

GHPGVN

: Giáo hội Phật giáo Việt Nam

HĐKSSYN

: Hội Đoàn kết sư sãi yêu nước

KHXH

: Khoa học xã hội

MTTQVN

: Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Nxb

: Nhà xuất bản

TNTG

: Tín ngưỡng, tôn giáo

Trang

28

29

29


MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Trà Vinh là một tỉnh nằm ở phía Đông Nam của vùng Đồng bằng sông Cửu
Long (ĐBSCL), có cộng đồng Phật giáo thuộc dạng lớn nhất ở nước ta, với 460.000
tín đồ trên tổng số hơn 1 triệu dân. Quản lý nhà nước (QLNN) về Phật giáo ở tỉnh
Trà Vinh trong những năm qua đã có những chuyển biến tích cực. Bộ máy làm công
tác quản lý Phật giáo ở cơ sở đã từng bước được kiện toàn, phát huy hiệu quả. Thể
chế hóa chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, lãnh đạo tỉnh đã
đề ra các giải pháp đúng đắn đảm bảo tự do tín ngưỡng, tôn giáo của các tín đồ, góp
phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, đấu tranh với các hiện tượng
vi phạm pháp luật trong hoạt động Phật giáo. Công tác quản lý được các ngành chức
năng luôn quan tâm, góp phần đưa Giáo hội, đoàn thể đi theo chiều hướng hợp tác,
tuân thủ pháp luật, củng cố lòng tin của tín đồ, chức sắc Phật giáo đối với Đảng và
Nhà nước.
Tuy nhiên, QLNN về Phật giáo trên địa bàn tỉnh hiện vẫn còn nhiều bất cập,
hạn chế. Việc cụ thể hóa một số chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của nhà
nước đối với Phật giáo còn chậm. Công tác tổ chức thực hiện chính sách tôn giáo
còn thiếu đồng bộ, có hiện tượng né tránh, đùn đẩy cho cấp trên hoặc cơ quan khác.
Cán bộ làm công tác tôn giáo vẫn còn thái độ định kiến, yếu kém cả về mặt chuyên
môn nghiệp vụ và kinh nghiệm công tác.

- “Tôn giáo, Tín ngưỡng các dân tộc ở Việt Nam” của PGS.TS. Nguyễn Văn
Minh, Nxb. Khoa học xã hội, năm 2013.
- “Nhà nước - Tôn giáo - Luật pháp” của GS.TS. Đỗ Quang Hưng, Nxb. Chính trị
Quốc gia - Sự thật, năm 2014.
- “Quan điểm, Chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam về Tôn giáo” của
PGS.TS. Nguyễn Hồng Dương, Nxb. Khoa học xã hội, năm 2015.
Các công trình nghiên cứu nêu trên đã cung cấp một lượng kiến thức, thông tin
lớn liên quan đến đề tài nghiên cứu, song chủ yếu mới đề cập đến tôn giáo nói
chung, chưa đi sâu nghiên cứu QLNN về Phật giáo, chưa đánh giá được thực trạng
và những vấn đề đặt ra hiện nay trong QLNN về Phật giáo. Đặc biệt, chưa có công

2


trình nào nghiên cứu về QLNN về Phật giáo tại địa bàn tỉnh Trà Vinh. Vì vậy, luận
văn này vẫn có tính cấp thiết, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn.
3. Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục tiêu
Mục tiêu của luận văn là phân tích thực trạng QLNN về Phật giáo ở tỉnh Trà
Vinh, từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm và đề xuất các quan điểm, giải pháp
nâng cao hiệu quả QLNN về Phật giáo ở Trà Vinh nói riêng, ở trên cả nước ta nói
chung trong những năm tới.
3.2. Nhiệm vụ
Để đạt được mục tiêu trên, các nhiệm vụ của luận văn là:
- Nghiên cứu làm rõ những vấn đề lý luận, pháp lý về QLNN về Phật giáo ở
nước ta hiện nay.
- Khảo sát, phân tích thực trạng QLNN về Phật giáo ở Trà Vinh, chỉ ra những
thành tựu, hạn chế và nguyên nhân.
- Đề xuất các quan điểm, giải pháp nhằm khắc phục những tồn tại, hạn chế,
phát huy những cách làm tốt, qua đó nâng cao hiệu quả QLNN về Phật giáo ở Trà

- Các phương pháp tổng hợp, phân tích, so sánh để đề xuất các quan điểm, giải
pháp nhằm nâng cao hiệu quả QLNN về Phật giáo ở Trà Vinh và ở các địa phương
khác của nước ta trong thời gian tới (ở Chương III).
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
Luận văn là công trình nghiên cứu toàn diện, chuyên sâu đầu tiên về QLNN về
Phật giáo ở tỉnh Trà Vinh được thực hiện từ trước tới nay. Luận văn cũng là một
trong số ít công trình nghiên cứu chuyên sâu và toàn diện về QLNN về Phật giáo ở
cấp cơ sở ở nước ta.
Vì vậy, luận văn cung cấp những kiến thức, thông tin, luận điểm và đề xuất
mới có giá trị tham khảo với việc nâng cao hiệu quả QLNN về Phật giáo ở tỉnh Trà
Vinh và ở các địa phương khác của nước ta trong thời gian tới.
Bên cạnh đó, luận văn có thể được sử dụng là nguồn tài liệu tham khảo cho
việc giảng dạy, nghiên cứu chuyên ngành luật hiến pháp và luật hành chính ở Học
viện KHXH thuộc Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam và các cơ sở đào tạo khác của
nước ta.
7. Cấu trúc của luận văn

4


Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn bao
gồm 03 chương như sau:
- Chương 1: Những vấn đề lý luận, pháp lý về quản lý nhà nước về Phật giáo
ở Việt Nam hiện nay.
- Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước về Phật giáo ở tỉnh Trà Vinh.
- Chương 3: Quan điểm, giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về
Phật giáo từ thực tiễn tỉnh Trà Vinh.

5




việt. Chủ thuyết của Phật giáo là tránh làm những điều ác, nỗ lực làm những điều
thiện, tu dưỡng tâm trong sạch.
- Phật giáo là một tôn giáo phổ biến, được truyền bá qua nhiều nước trên thế
giới; thuộc về vô thần, không chủ trương hữu thần, không công nhận có đấng sáng
tạo hay thượng đế quyết định số mạng con người; chủ trương về triết lý nhân quả và
mọi sự việc của một người là do chính người ấy làm và nhận lãnh.
Phật giáo ra đời ở Ấn Độ cách đây 2.561 năm, khi một thái tử người Ấn Độ là
Tất-Đạt-Đa (Siddhattha) của Vương quốc dòng họ Thích Ca (Sakya) giác ngộ thành
đạo, trở thành một vị Phật (Buddha) - có nghĩa là “người giác ngộ” sau nhiều năm
tu hành gian khổ để đi tìm câu trả lời cho câu hỏi “làm thế nào để con người thoát
khỏi khổ - đau và sinh - tử”. Những lời dạy của Đức Phật đã được ghi chép và bảo
tồn bởi đại đa số tu sĩ đệ tử của Người trong tàng thư “Tam Tạng Kinh” (Tipitaka),
bao gồm: Luật Tạng (Vinaya-pitaka): những giới luật đối với tăng ni, và một số giới
luật dành cho Phật tử tại gia; Kinh Tạng (Suttanta-pitaka): tập hợp những bài thuyết
giảng của Đức Phật và những vị đại đệ tử của Phật; Luận Tạng (Abhidhammapitaka): là phần triết lý cao học của Phật giáo. Những nhánh phái chính của Phật
giáo là Phật giáo Nguyên thủy (Theravada) và Đại thừa (Mahayana) [28, tr. 22-23].
Phật giáo là một tôn giáo có mặt ở Việt Nam từ hơn 2.000 năm nay và đã có
thời kỳ phát triển rất hưng thịnh. Phật giáo Nam tông (thường gọi là Phật giáo
Nguyên thủy - Theravada, Phật giáo Nam truyền, Phật giáo Tiểu thừa) đã có mặt ở
Trà Vinh từ rất sớm, vào năm 373 thế kỷ thứ IV sau Công nguyên. Chùa Som Bua
Răng Sây (Som Bua) ở xã Hòa Ân, huyện Cầu Kè là ngôi chùa đầu tiên của Phật
giáo Nam tông Khmer trên địa bàn tỉnh (bia đá của chùa Som Bua còn được lưu giữ
đến ngày nay; tài liệu của HĐKSSYN tỉnh và Ban Tôn giáo Sở Nội vụ tỉnh chứng
minh).
Hiện tại, hệ thống tổ chức Phật giáo ở Việt Nam là GHPGVN. Lịch sử nước ta
cho thấy Phật giáo có vai trò cực kỳ quan trọng trong việc giữ gìn sự gắn bó đoàn
kết của đồng bào các dân tộc trong ngôi nhà chung là Tổ quốc Việt Nam. Ở các địa
phương, ngôi chùa là biểu hiện của Phật giáo, đồng thời là sự biểu hiện của tâm linh

như lựa chọn các hình thức, phương pháp quản lý thích hợp.

8


Từ những nội dung nêu trên, có thể đưa ra khái niệm về quản lý như sau:
Quản lý là sự tác động có tổ chức, có mục đích của chủ thể quản lý lên đối tượng
quản lý nhằm đạt được mục tiêu đã được đặt ra từ trước.
1.1.3. Khái niệm quản lý nhà nước
QLNN xuất hiện cùng với sự ra đời của Nhà nước. QLNN về bản chất là quản
lý toàn bộ xã hội, mặc dù nội hàm của QLNN thay đổi ít nhiều khác nhau phụ thuộc
vào chế độ chính trị, đặc điểm văn hóa, trình độ phát triển kinh tế - xã hội của mỗi
quốc gia qua các giai đoạn lịch sử. Nhà nước là một tổ chức đặc biệt của quyền lực
chính trị, một bộ máy chuyên làm nhiệm vụ cưỡng chế và thực hiện các chức năng
quản lý đặc biệt nhằm duy trì trật tự xã hội và đem lại lợi ích chung cho toàn xã hội.
QLNN bao gồm 3 chức năng: [45, tr. 19]
- Thứ nhất, chức năng lập pháp do các cơ quan lập pháp thực hiện.
- Thứ hai, chức năng hành pháp (chấp hành và điều hành) do hệ thống hành
chính nhà nước đảm nhiệm.
- Thứ ba, chức năng tư pháp do các cơ quan tư pháp thực hiện.
Trong các quốc gia đều có nhiều chủ thể tham gia quản lý xã hội như: các
đảng chính trị, Nhà nước, tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế… So với quản lý của các
tổ chức khác, thì QLNN có những điểm khác biệt như sau:
Trước hết, chủ thể QLNN là các cơ quan, cá nhân trong bộ máy nhà nước
được trao quyền, bao gồm: cơ quan lập pháp, cơ quan hành pháp, cơ quan tư pháp.
Thứ hai, đối tượng của QLNN là tất cả các cá nhân, tổ chức sinh sống và hoạt
động trong phạm vi lãnh thổ quốc gia, công dân làm việc bên ngoài lãnh thổ quốc
gia.
Thứ ba, QLNN có phạm vi toàn diện trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã
hội: Chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng, ngoại giao.

văn hóa, hệ thống tín ngưỡng, tôn giáo của cộng đồng người Việt cũng được hình
thành, trong đó có đạo Phật. Hệ thống đó có những đặc điểm cơ bản đó là [26, tr.
24-25]:
-

Có sự hiện diện của nhiều tôn giáo, tín ngưỡng;

-

Tính đan xen hòa đồng của các tín ngưỡng, tôn giáo;

-

Tính trội của yếu tố nữ trong hệ thống tín ngưỡng, tôn giáo;

10


-

Xu hướng thần thánh hóa những người có công với gia đình, làng xã và Tổ
quốc, như Đình, Đền, Miếu…;

-

Các tín đồ đạo Phật ở Việt Nam phần lớn là nông dân và nhân dân lao động,
vì thế từ trước đến nay thường có một số tín đồ bị các thế lực lợi dụng vì
mục đích chính trị.
Xét chung, QLNN về Phật giáo ở nước ta thể hiện qua những đặc điểm sau


- Đặc điểm của nhà tu hành, chức sắc Phật giáo:
Nhà tu hành là những tín đồ tự nguyện thực hiện thường xuyên nếp sống riêng
theo giáo lý, giáo luật của đạo Phật mà mình tin theo [5, tr.3].
Chức sắc là tín đồ có chức vụ, phẩm sắc trong Giáo hội. Chức sắc Phật giáo
gồm có Tăng và Ni (riêng hệ phái Nam tông không có Ni và không phải Tăng - Ni
nào cũng là chức sắc).
Nhà tu hành, chức sắc trước hết là tín đồ thuộc Giáo hội và cũng có những đặc
điểm chung của một tín đồ. Song khác với tín đồ, đội ngũ chức sắc là những người
được tổ chức Giáo hội lựa chọn, đào tạo cơ bản, do đó năng lực, trình độ của họ khá
cao và được tổ chức Giáo hội phong chức, phong phẩm, bầu cử và suy cử. Họ đại
diện ở những mức độ khác nhau trong Giáo hội, họ vừa dẫn dắt tín đồ, vừa quản lý
hành chính đạo theo thẩm quyền. Trong quan hệ với tín đồ, họ là những người rất
gần gũi với tín đồ, nắm bắt kịp thời tâm tư, nguyện vọng của tín đồ, do đó họ có vị
trí, vai trò ảnh hưởng rất sâu sắc trong tín đồ.
- Đặc điểm tổ chức Giáo hội Phật giáo
Tổ chức Giáo hội Phật giáo là tập hợp những người cùng tin theo một hệ thống
giáo lý, giáo luật, nghi lễ và tổ chức theo một cơ cấu nhất định từ Trung ương đến
cơ sở và được nhà nước công nhận.
Tổ chức Giáo hội có chức năng điều hành hoạt động của các cơ sở và tín đồ
Phật giáo. Trong mỗi hệ phái Phật giáo, tổ chức bộ máy được sắp xếp khác nhau, hệ
thống tổ chức của Phật giáo được quy định theo Hiến chương, Điều lệ của Giáo hội
Phật giáo và được Nhà nước công nhận. Trong mối quan hệ nội bộ của tổ chức Giáo
hội, có tổ chức có mối quan hệ hành chính đạo rất chặt chẽ, cấp dưới phục tùng cấp
trên, tuy nhiên cũng có tổ chức mối quan hệ hành chính đạo tương đối lỏng lẻo. Mặt
dù hiện ở nước ta có một tổ chức Phật giáo thống nhất nhưng trong mỗi hệ phái lại

12


có tính chất độc lập tương đối, như Hội đoàn kết Sư sãi yêu nước (HĐKSSYN) ít lệ



Quan điểm trên phần nào đã đề cập đến vai trò của QLNN về tôn giáo trong
đó có Phật giáo ở Việt Nam. Vai trò đó thể hiện cụ thể hơn thông qua trách nhiệm
của cơ quan nhà nước trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo được
quy định tại Điều 3 Luật tín ngưỡng, tôn giáo số 12/2016/QH14 [35], theo đó bao
gồm:
Thứ nhất, Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của
mọi người; đảm bảo để các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật.
Trong những năm gần đây, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về vấn đề tôn
giáo ngày càng rõ ràng và chứa đựng những nội dung mới, các Nghị quyết của Đảng và
chính sách của Nhà nước đều nhìn nhận “Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của
một bộ phận nhân dân, đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng CNXH
ở nước ta. Đồng bào các tôn giáo là bộ phận của khối đại đoàn kết toàn dân tộc” [19, tr.
48]. Đồng thời, Đảng và Nhà nước ta đã khẳng định rõ: “Công dân có quyền tự do tín
ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Nhà nước đảm bảo quyền tự
do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân, không ai được xâm phạm quyền tự do ấy. Các
tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật” [34, tr. 205].
Quán triệt những quan điểm chỉ đạo của Đảng, công tác QLNN về Phật giáo cần
phải được tăng cường để đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp đổi mới đất nước, đáp
ứng các quá trình cải biến cách mạng trên tất cả các mặt, các lĩnh vực của đời sống xã
hội khác, chẳng hạn tham gia các hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội theo quy định
của pháp luật.
Thứ hai, Nhà nước tôn trọng bảo vệ giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của tín
ngưỡng, tôn giáo, truyền thống thờ cúng tổ tiên, tôn vinh người có công với đất
nước, với cộng đồng đáp ứng nhu cầu tinh thần của Nhân dân.
QLNN về Phật giáo có liên quan đến nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội và
nhiều cấp, nhiều ngành. Quản lý tốt về Phật giáo là trách nhiệm của toàn bộ hệ thống
chính trị do Đảng lãnh đạo, trong đó đội ngũ cán bộ chuyên trách làm công tác tôn
giáo là lực lượng tham mưu nòng cốt. Tổ chức bộ máy làm công tác tôn giáo cần

QLNN về Phật giáo không ngoài mục đích bảo đảm cho hoạt động Phật giáo
diễn ra trong khuôn khổ của Hiến pháp và pháp luật vì lợi ích chung, trong đó có cả
lợi ích tín đồ và lợi ích của Giáo hội.
Các nguyên tắc QLNN về hoạt động Phật giáo bao gồm:
15


Một là, Nhà nước đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân và
nghiêm cấm sự phân biệt đối xử vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo. Mọi công dân có
quyền tự do theo và không theo một tôn giáo nào, có quyền từ bỏ và thay đổi tôn
giáo. Nhà nước đảm bảo quyền hoạt động tín ngưỡng, hoạt động tôn giáo theo quy
định của pháp luật. Tín đồ có quyền thực hiện các hoạt động tôn giáo không trái với
chủ trương, chính sách và pháp luật của nhà nước, tiến hành các nghi thức thờ cúng,
cầu nguyện tại gia đình và tham gia các hoạt động tôn giáo, học tập giáo lý, đạo
đức, phục vụ nghi lễ tôn giáo tại cơ sở thờ tự.
Hai là, công dân có tín ngưỡng, tôn giáo hoặc không có tín ngưỡng, tôn giáo
đều bình đẳng trước pháp luật, được hưởng mọi quyền công dân và có trách nhiệm
thực hiện nghĩa vụ của công dân.
Ba là, các hoạt động Phật giáo phải tuân theo pháp luật của nước
CHXHCNVN. Những hoạt động tôn giáo vì lợi ích chính đáng và hợp pháp của tín
đồ được đảm bảo. Những hoạt động tôn giáo vì lợi ích Tổ quốc và nhân dân được
khuyến khích.
Bốn là, mọi hành vi vi phạm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, mọi hành vi lợi
dụng tín ngưỡng, tôn giáo để chống lại nhà nước CHXHCNVN, ngăn cản tín đồ làm
nghĩa vụ công dân, phá hoại sự nghiệp đoàn kết toàn dân, làm hại đến nền văn hóa
lành mạnh của dân tộc và hoạt động mê tín dị đoan đều bị xử lý theo pháp luật.
1.2.4. Nội dung quản lý nhà nước về Phật giáo
QLNN về Phật giáo là hoạt động của cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước
nhằm đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và quyền tự do không tín ngưỡng,
tôn giáo của người dân, hướng các hoạt động Phật giáo phục vụ lợi ích chính đáng

giáo;
- Quản lý việc sản xuất, xuất - nhập khẩu văn hóa phẩm và lưu thông đồ dùng
của Phật giáo;
- Quản lý các hoạt động từ thiện - xã hội của Phật giáo.
1.3. Các yếu tố tác động đến quản lý nhà nƣớc về Phật giáo ở nƣớc ta hiện
nay
1.3.1. Yếu tố chính trị
Chính trị là một thành tố của kiến trúc thượng tầng xã hội. Đây là một khái
niệm rộng, phức tạp. Theo Từ điển Tiếng Việt: “Chính trị là những vấn đề về tổ

17


chức và điều khiển bộ máy nhà nước trong nội bộ một nước và về quan hệ chính
thức giữa các nước với nhau; hay là những hoạt động của một giai cấp, một chính
đảng, một tập đoàn xã hội nhằm giành hoặc duy trì quyền điều khiển bộ máy nhà
nước” [40, tr. 163].
Nhà nước quản lý xã hội trước hết là để phục vụ mục đích của giai cấp thống
trị, để giúp giai cấp đó thực hiện các mục tiêu chính trị của mình. Mọi hoạt động
của Nhà nước đều không thể đi ngược lại với các mục tiêu chính trị, các quy định về
sự điều tiết của Nhà nước đối với xã hội cũng phải phù hợp với những định hướng
của giai cấp thống trị trong xã hội. Thể chế chính trị luôn giữ vai trò định hướng,
chi phối toàn bộ các hoạt động trong xã hội. Hệ thống pháp luật được xây dựng dựa
trên nền tảng của hệ thống chính trị, còn chính trị lại giữ vai trò chỉ đạo đối với nội
dung và phương hướng phát triển của pháp luật.
Chính vì thế, yếu tố chính trị có ảnh hưởng mạnh mẽ đến việc QLNN về tôn
giáo ở Việt Nam, trong đó có đạo Phật. Nội dung QLNN về Phật giáo phải phù hợp
và thể chế hóa quan điểm, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật
của Nhà nước Việt Nam về tôn giáo, tín ngưỡng nói chung.
1.3.2. Yếu tố đường lối, chính sách pháp luật của Việt Nam


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status