VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
THẠCH VUÔNG
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ PHẬT GIÁO
TỪ THỰC TIỄN TỈNH TRÀ VINH
Chuyên ngành
: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Mã số
: 60.38.01.02
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI – 2017
Công trình được hoàn thành tại:Học viện Khoa học Xã hội
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. VŨ CÔNG GIAO
Phản biện 1: TS. PHẠM QUANG HUY
Phản biện 2:. TS. ĐỖ MINH KHÔI
Luận văn sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận văn thạc
sỹ họp tại Học viện Khoa học xã hội hồi: 09 giờ 30 ngày 11 tháng
Thạc sĩ Luật học, ngành Luật Hiến pháp và Luật Hành chính, với
mong muốn vận dụng kiến thức pháp luật của mình góp phần nâng
1
cao hiệu quả QLNN về Phật giáo ở nơi mình đã sinh ra và đang làm
việc.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
QLNN nói chung, QLNN về Phật giáo nói riêng là yêu cầu của sự
nghiệp Đổi mới, vì thế trong thời gian qua đã có nhiều công trình nghiên
cứu về vấn đề này được công bố ở nước ta, trong đó có một số công trình
tiêu biểu như sau:
- “Quản lý nhà nước đối với các hoạt động tôn giáo” của Nguyễn Hữu
Khiển, Nxb. Công an nhân dân, năm 2001.
- “Lý luận về tôn giáo và chính sách tôn giáo ở Việt Nam” của PGS.TS.
Nguyễn Đức Lữ, Nxb. Tôn giáo, năm 2007.
- “Đảng và Nhà nước Việt Nam với vấn đề văn hóa tôn giáo” của Nguyễn
Đức Lữ, Nxb. Đại học quốc gia Hà Nội, năm 2010.
- “Lý luận về tôn giáo và tình hình tôn giáo ở Việt Nam” của GS. Đặng
Nghiêm Vạn, Nxb. Chính trị, năm 2012.
- “Tôn giáo, Tín ngưỡng các dân tộc ở Việt Nam” của PGS.TS. Nguyễn
Văn Minh, Nxb. Khoa học xã hội, năm 2013.
- “Nhà nước - Tôn giáo - Luật pháp” của GS.TS. Đỗ Quang Hưng, Nxb.
Chính trị Quốc gia - Sự thật, năm 2014.
- “Quan điểm, Chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam về Tôn giáo”
của PGS.TS. Nguyễn Hồng Dương, Nxb. Khoa học xã hội, năm 2015.
Các công trình nghiên cứu nêu trên đã cung cấp một lượng kiến
thức, thông tin lớn liên quan đến đề tài nghiên cứu, song chủ yếu mới
đề cập đến tôn giáo nói chung, chưa đi sâu nghiên cứu QLNN về
nghiên cứu các vấn đề QLNN về tín ngưỡng và về các tôn giáo khác
như Thiên chúa giáo, Tin Lành, Hoà Hảo,...
Về không gian, đề tài chỉ tập trung nghiên cứu thực trạng
QLNN về Phật giáo ở tỉnh Trà Vinh, không mở rộng đến các địa
phương khác ở nước ta.
3
Về thời gian, đề tài chỉ tập trung nghiên cứu thực trạng QLNN
về Phật giáo ở Trà Vinh trong khoảng 5 năm trở lại đây.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn vận dụng các phương pháp luận duy vật biện chứng,
duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh
và quan điểm của Đảng, Nhà nước ta về tôn giáo và QLNN về tôn
giáo.
Luận văn kết hợp sử dụng các phương pháp nghiên cứu phổ
biến của khoa học xã hội để giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu đặt
ra. Cụ thể:
- Các phương pháp tổng hợp, phân tích các công trình nghiên
cứu hiện có và các tài liệu khác để làm sáng tỏ những vấn đề lý luận,
pháp lý và thực tiễn liên quan đến QLNN về Phật giáo ở nước ta hiện
nay.
- Các phương pháp tổng hợp, thống kê, phân tích, so sánh các
tài liệu, báo cáo chuyên môn của chính quyền và giáo hội Phật giáo
địa phương và phương pháp quan sát thực tế để đánh giá thực trạng
QLNN về Phật giáo ở Trà Vinh.
- Các phương pháp tổng hợp, phân tích, so sánh để đề xuất các
quan điểm, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả QLNN về Phật giáo ở
Trà Vinh và ở các địa phương khác của nước ta trong thời gian tới.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN, PHÁP LÝ VỀ QUẢN LÝ NHÀ
NƯỚC VỀ PHẬT GIÁO Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
1.1 Nhận thức về quản lý nhà nước về Phật giáo
1.1.1 Khái niệm Phật giáo
Phật giáo là một tôn giáo chủ trương sự thực hành của chính
bản thân mỗi người. Chỉ có mình mới thực hành mình, giải quyết vấn
đề tâm linh và những đau khổ của mình và chính mình giải thoát cho
mình và sau đó, giúp đỡ người khác đi theo con đường đạo vì lòng từ
bi và để tu dưỡng thêm lòng từ bi đối với họ.
1.1.2 Khái niệm quản lý
Quản lý là điều khiển, chỉ đạo một hệ thống hay một quá trình
theo những quy luật, quy tắc nhằm làm cho hệ thống hay quá trình
đó vận hành theo ý muốn của người quản lý để đạt được những mục
đích đã định trước.
1.1.3 Khái niệm quản lý nhà nước
QLNN là một dạng quản lý xã hội đặc biệt, mang tính quyền lực
nhà nước và sử dụng pháp luật - chính sách để điều chỉnh hành vi cá
nhân, tổ chức trên tất cả các mặt của đời sống xã hội, do các công
chức và cơ quan trong bộ máy nhà nước thực hiện, nhằm phục vụ
nhân dân, duy trì sự ổn định và phát triển của xã hội.
1.1.4 Khái niệm quản lý nhà nước về Phật giáo
QLNN về Phật giáo là một dạng quản lý xã hội mang tính chất
Nhà nước, chức năng nhiệm vụ của Nhà nước, là quá trình chấp hành
pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật của các cơ quan trong hệ
thống hành pháp để điều chỉnh các quá trình hoạt động Phật giáo và
mọi hành vi hoạt động của các tổ chức giáo hội, các cá nhân Phật
giáo diễn ra theo đúng quy định của pháp luật.
6
Hai là, công dân có tín ngưỡng, tôn giáo hoặc không có tín
ngưỡng, tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật, được hưởng mọi
quyền công dân và có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ của công dân.
Ba là, các hoạt động Phật giáo phải tuân theo pháp luật của
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những hoạt động tôn
giáo vì lợi ích chính đáng và hợp pháp của tín đồ được đảm bảo.
Những hoạt động tôn giáo vì lợi ích Tổ quốc và nhân dân được
khuyến khích.
Bốn là, mọi hành vi vi phạm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo,
mọi hành vi lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để chống lại nhà nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, ngăn cản tín đồ làm nghĩa vụ
công dân, phá hoại sự nghiệp đoàn kết toàn dân, làm hại đến nền văn
hóa lành mạnh của dân tộc và hoạt động mê tín dị đoan đều bị xử lý
theo pháp luật.
1.2.4 Nội dung quản lý nhà nước về Phật giáo
QLNN về Phật giáo bao gồm những công việc sau:
- Quy định tổ chức bộ máy và ban hành văn bản quy phạm
pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo trong đó có đạo Phật;
- Tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn
giáo;
- Phổ biến, giáo dục pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo;
- Nghiên cứu trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo; đào tạo, bồi
dưỡng cán bộ, công chức, viên chức làm công tác tín ngưỡng, tôn
giáo;
- Thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi
phạm pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo;
- Quan hệ quốc tế trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo.
8
9
Các quy định điều tiết hoạt động của các đối tượng trong xã hội
phải phù hợp với trình độ phát triển kinh tế - xã hội. Vai trò và mức
độ điều tiết của Nhà nước đối với các quá trình kinh tế - xã hội diễn
ra ở các nước khác nhau không giống nhau. Sự thay đổi trong môi
trường kinh tế - xã hội buộc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà
nước phải thay đổi theo để thích ứng và có thể quản lý xã hội một
cách hiệu quả nhất.
1.3.5 Yếu tố lịch sử, văn hóa dân tộc Việt Nam
Mỗi dân tộc trải qua quá trình hình thành và phát triển lâu dài
đều có những đặc điểm truyền thống, văn hóa riêng, không giống với
các dân tộc khác. Do tính đặc thù này mà mọi quy định để điều tiết
hành vi của các đối tượng trong xã hội phải được xây dựng phù hợp
với các chuẩn mực chung được thừa nhận trong truyền thống, văn
hóa. Một hệ thống thể chế chỉ tốt khi kế thừa được những ưu điểm
của các giá trị truyền thống, đồng thời loại bỏ những hủ tục lạc hậu,
tư duy bảo thủ…
1.3.6 Yếu tố quốc tế
Trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, mỗi quốc gia nếu muốn
phát triển không thể nằm ngoài mối liên hệ với các quốc gia khác. Sự
giao thoa văn hóa, tri thức và các giá trị chung của văn minh nhân
loại cũng tác động không nhỏ tới sự hình thành và phát triển của hệ
thống thể chế hành chính nhà nước. Sự ràng buộc pháp lý đối với
một quốc gia đã chấp nhận tham gia các điều ước và cơ chế quốc tế
có ảnh hưởng to lớn tới hệ thống thể chế của quốc gia đó.
1.4 Phương thức QLNN về Phật giáo ở nước ta hiện nay
1.4.1 Quản lý bằng pháp luật
Những văn bản chính sách quan trọng liên quan đến QLNN về
11
1.4.3 Quản lý bằng tổ chức bộ máy và cán bộ
Ban Tôn giáo Chính phủ là cơ quan trực thuộc Bộ Nội vụ có
chức năng tham mưu giúp Bộ trưởng Bộ Nội vụ QLNN về lĩnh vực
tôn giáo trong phạm vi cả nước và thực hiện các dịch vụ công thuộc
lĩnh vực tôn giáo theo quy định của pháp luật.
Ban Tôn giáo các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương là tổ
chức trực thuộc Sở Nội vụ, giúp Giám đốc Sở Nội vụ tham mưu cho
UBND tỉnh thực hiện chức năng QLNN về lĩnh vực Phật giáo.
1.4.4 Quản lý thông qua giáo dục, thuyết phục, vận động quần
chúng
Xuất phát từ luận điểm cốt lõi của công tác tôn giáo là công tác
vận động quần chúng, bởi vậy, trong QLNN về Phật giáo không chỉ
có lý, đúng pháp luật mà còn phải được sự ủng hộ đồng tình của
đông đảo nhân dân. Muốn tránh bị xuyên tạc, lợi dụng, tránh việc
hình thành các điểm nóng Phật giáo thì công tác giáo dục, thuyết
phục, vận động quần chúng là rất quan trọng trong QLNN về Phật
giáo.
Chương 2
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ PHẬT GIÁO Ở
TỈNH TRÀ VINH
2.1 Tình hình Phật giáo tỉnh Trà Vinh ảnh hưởng đến
QLNN về Phật giáo trong tỉnh
2.1.1 Khái quát tình hình Phật giáo tỉnh Trà Vinh
Trà Vinh là tỉnh thuộc khu vực ĐBSCL, nằm giữa sông Tiền và
sông Hậu, phía Tây giáp tỉnh Vĩnh Long, phía Bắc giáp tỉnh Bến Tre,
phía Nam giáp tỉnh Sóc Trăng, phía Đông giáp Biển Đông. Theo số
liệu của Cục Thống kê tỉnh công bố năm 2011, tỉnh Trà Vinh có 8
tộc của dân tộc.
13
- Các thế lực thù địch trong và ngoài nước tăng cường lợi dụng
hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo gắn với vấn đề dân tộc, dân chủ, nhân
quyền để chống phá cách mạng và sự nghiệp xây dựng nhà nước của
dân, do dân và vì dân.
2.2 Hoạt động quản lý nhà nước về Phật giáo ở tỉnh Trà
Vinh trong 5 năm gần đây
2.2.1 Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước và ban hành văn
bản quy phạm pháp luật về Phật giáo ở tỉnh Trà Vinh
Về mặt tổ chức, GHPGVN tỉnh Trà Vinh do Ban tôn giáo của
nhà nước cấp tỉnh quản lý các hoạt động của các tín đồ Phật giáo
trong tỉnh, bao gồm cả Phật giáo Nam tông Khmer và Phật giáo Bắc
tông của các dân tộc khác. Đối với Phật giáo Nam tông Khmer, trong
tổ chức Tỉnh hội Phật giáo Trà Vinh có HĐKSSYN tỉnh và Mêkon
tỉnh chuyên trách về Phật giáo Nam tông Khmer trong tỉnh đảm
nhiệm; cấp huyện, thành phố thì có HĐKSSYN và Anu kon đứng
đầu quản lý; cấp xã có Chi hội và các chùa là Sư cả quản lý.
Dựa trên các văn bản chính sách, pháp luật chung của Đảng,
Nhà nước đã nêu trên, trong thời gian qua, Tỉnh uỷ, UBND tỉnh Trà
Vinh đã ban hành một số văn bản chính sách, pháp quy nhằm cụ thể
hoá và triển khai thực hiện công tác QLNN về tôn giáo nói chung, về
Phật giáo nói riêng trên địa bàn tỉnh. Những văn bản quan trọng nhất
có thể kể như sau: Chương trình hành động số 18-CTr/TU ngày
09/06/2003 của Tỉnh ủy về công tác tôn giáo; Quyết định số 105/QĐUBT ngày 12/11/2003 của UBND về công tác QLNN về tôn giáo
trên địa bàn tỉnh; Kế hoạch số 17-KH/TU ngày 20/04/2012 của Tỉnh
ủy về việc xây dựng lực lượng cốt cán trong tôn giáo; Quyết định số
15/2014/QĐ-UBND ngày 26/06/2014 của UBND về việc ban hành
ninh; phổ biến pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo; thông tin về chiến
15
lược diễn biến hòa bình của các thế lực thù địch; về tình hình biên
giới - biển đảo...
Qua các hoạt động trên đã nâng cao nhận thức về chủ trương
chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta trong nội bộ các chi bộ
đảng, các tổ chức chính trị, chức sắc và tín đồ các tôn giáo và quần
chúng nhân dân, góp phần đưa chủ trương chính sách tôn giáo của
Đảng và Nhà nước đi vào đời sống của đồng bào có tín ngưỡng, tôn
giáo; tạo sự đồng thuận xã hội; tập hợp đồng bào có tín ngưỡng, tôn
giáo dưới sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng, sự điều hành của chính
quyền địa phương, cơ sở.
2.2.4 Nghiên cứu, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức,
viên chức làm công tác quản lý nhà nước về Phật giáo
Kiện toàn bộ máy QLNN về Phật giáo ở các ngành, các cấp, có
quy hoạch, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng các cán bộ làm công tác
này là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, là nhiệm vụ của mọi
cấp mọi ngành trong mọi lĩnh vực, của mọi cán bộ đảng viên,
trong đó tổ chức và cán bộ chuyên trách làm công tác Phật giáo
có nhiệm vụ trực tiếp. Ngoài ra, Sở Nội vụ đã tham mưu cho Tỉnh
ủy, UBND tỉnh ban hành Kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ,
công chức, trong đó chú trọng đến những nơi có đông tín đồ và cơ
sở thờ tự Phật giáo. Bên cạnh đó, MTTQVN tỉnh và các đoàn thể
đã chủ động đưa nội dung công tác tôn giáo và QLNN về Phật
giáo vào các khóa bồi dưỡng cho cán bộ các cấp trong tỉnh; chú
trọng quy hoạch và cử cán bộ, công chức làm công tác tôn giáo
tham gia đầy đủ các khóa bồi dưỡng về công tác tôn giáo.
cơ quan chức năng của tỉnh Trà Vinh cũng đẩy mạnh thông tin tuyên
truyền về chính sách tôn giáo của Đảng, Nhà nước; đấu tranh làm
thất bại những luận điệu tuyên truyền, xuyên tạc, vu khống của các
17
thế lực thù địch bên ngoài với tình hình tôn giáo và công tác tôn giáo
ở nước ta.
Quan hệ đối ngoại tôn giáo luôn được tỉnh Trà Vinh quan tâm.
Tỉnh đã tạo điều kiện thuận lợi cho tổ chức tôn giáo, tín đồ, nhà tu
hành, chức sắc thực hiện các hoạt động quan hệ quốc tế theo quy
định của hiến chương, điều lệ hoặc giáo luật của tổ chức Phật giáo và
phù hợp với pháp luật Việt Nam, qua đó, giới thiệu, quảng bá hình
ảnh của đất nước, của tỉnh với các nước bạn bè trên thế giới phục vụ
cho công tác đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta.
2.3 Đánh giá chung và những kinh nghiệm rút ra từ thực
tiễn QLNN về Phật giáo ở Trà Vinh
Trong những năm qua, số lượng cơ sở thờ tự, chức sắc, chức
việc, tín đồ của Phật giáo trên địa bàn tỉnh Trà Vinh đều tăng. Có
nhiều nguyên nhân dẫn đến sự biến động trên, trong đó nguyên nhân
chủ yếu là do có sự đổi mới về quan điểm, chính sách tôn giáo của
Đảng; quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và tự do không tín ngưỡng,
tôn giáo đã được khẳng định trong các Nghị quyết của Đảng, Hiến
pháp, pháp luật của Nhà nước.
* Nguyên nhân thành công
- Chức sắc và tín đồ Phật giáo tin tưởng vào sự lãnh đạo của
Đảng, hoạt động tôn giáo tuân thủ Hiến chương, Nội quy, điều lệ của
tổ chức giáo hội; tuân thủ pháp luật của Nhà nước; đoàn kết, tham
gia xây dựng hệ thống chính trị ở địa phương; có sự đoàn kết gắn bó
còn thiếu đồng bộ.
- Chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác Phật giáo
còn nhiều hạn chế, giảm dần theo từng cấp; xuống đến cấp cơ sở về
cơ bản năng lực chuyên môn chưa bảo đảm. Công tác đào tạo cán bộ
QLNN về Phật giáo cũng chưa được chú trọng đúng mức.
19
- Thiếu một chiến lược mang tính tổng thể của ngành QLNN về
Phật giáo từ công tác tổ chức, con người, nguyên tắc xử lý công việc.
Công tác phối hợp giữa các cơ quan chức năng trong giải quyết các
vụ việc Phật giáo phát sinh nhiều lúc chưa thật sự đồng bộ, tạo kẻ hở
cho các phần tử xấu lợi dụng chống phá.
Chương 3
QUAN ĐIỂM, GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ
NHÀ NƯỚC VỀ PHẬT GIÁO TỪ THỰC TIỄN
TỈNH TRÀ VINH
3.1 Các quan điểm về nâng cao hiệu quả QLNN về Phật giáo
từ thực tiễn tỉnh Trà Vinh
Thứ nhất, để nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về Phật giáo
phải thực sự tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo
và không tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân theo quy định của pháp
luật
Thứ tư, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về Phật giáo đòi
hỏi phải có sự tham gia và phát huy tinh thần trách nhiệm của cả hệ
thống chính trị ở cơ sở
Thứ năm, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về Phật giáo đòi
hỏi phải bảo đảm sự bình đẳng giữa Phật giáo và các tôn giáo khác
Thứ sáu, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về Phật giáo đòi
đoàn thể đối với công tác tôn giáo
Hai là, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục và phổ biến
pháp luật về tôn giáo cho cán bộ và người dân
3.2.3 Nhóm giải pháp hoàn thiện cơ chế quản lý
Thứ nhất, kiện toàn cơ chế lãnh đạo, chỉ đạo, phối hợp giữa các
cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị tham gia vào quản lý Phật
giáo
21
Thứ hai, nâng cao chất lượng hoạt động của đội ngũ cán bộ
chuyên trách làm công tác quản lý Phật giáo
Thứ ba, củng cố các quy định về tổ chức bộ máy QLNN về
tôn giáo
3.2.4 Nhóm các giải pháp cụ thể cho tỉnh Trà Vinh
Thứ nhất, các cơ quan QLNN về Phật giáo của tỉnh phải
khảo sát nắm tình hình, xây dựng phương án giải quyết hiệu quả
các khiếu kiện của tổ chức Phật giáo, đặc biệt là khiếu kiện đất
đai, với những giải pháp xử lý trước mắt và lâu dài. Đồng thời
phải tăng cường kiểm tra, xử lí kiên quyết ngay từ đầu, không để
tình trạng xây dựng cơ sở thờ tự trái phép trở thành sự việc đã rồi,
tuy nhiên cũng cần hạn chế sử dụng những biện pháp cưỡng chế
để tránh gây ảnh hưởng xấu tới tình cảm tôn giáo của tín đồ, tạo
dư luận không tốt.
Thứ hai, Tỉnh phải nỗ lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội,
nâng cao trình độ dân trí cho nhân dân ở các vùng có đông đồng bào
theo Phật giáo (thường là vùng nghèo) thông qua việc áp dụng những
biện pháp tích cực và vững chắc nhằm thực hiện ba mục tiêu chủ
yếu: xóa được đói, giảm được nghèo; ổn định và cải thiện được đời
công tác Phật giáo, thường xuyên quan tâm đào tạo, bồi dưỡng
cho đội ngũ cán bộ làm công tác Phật giáo.
23