VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN BÁ CHUẨN
VAI TRÒ CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN
TRONG PHÒNG NGỪA TÌNH HÌNH TỘI PHẠM
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành: Tội phạm học và phòng ngừa tội phạm
Mã Số: 60.38.01.05
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2017
Công trình được hoàn thành tại: Học viện Khoa học xã hội.
Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. Nguyễn Tất Viễn
Phản biện 1: TS. Đặng Quang Phương
Phản biện 2: TS. Lê Nguyên Thanh
Luận văn sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận văn thạc
sĩ họp tại Học viện Khoa học xã hội 18 giờ 00 ngày 09 tháng 10 năm
2017.
Có thể tìm hiểu luận văn tại Thư viện Học viện Khoa học xã hội
MỞ ĐẦU
Làm rõ thực trạng hoạt động của tòa án trong phòng ngừa tình
hình tội phạm trong thời gian gần đây trên địa bàn thành phố Hồ Chí
Minh.
Nêu ra các bất cập, hạn chế và đề xuất một số giải pháp nhằm
nâng cao vai trò của tòa án trong phòng ngừa tình hình tội phạm sắp
tới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là vai trò của tòa án nhân dân
trong phòng ngừa tình hình tội phạm trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh.
Phạm vi nghiên cứu:
Thời gian: Phạm vi thời gian của luận văn là từ năm 2012 đến
năm 2017.
Không gian: địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận
Luận văn được thực hiện trên cơ sở của chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được dựa trên phương pháp liên ngành khoa học xã hội
giữa các ngành luật học, xã hội học. Các phương pháp nghiên cứu cụ
thể bao gồm tổng hợp, phân tích, so sánh,...
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần làm tăng vài trò của
tòa án nhân dân trong phòng ngừa tình hình tội phạm trên cả nước
nói chung và trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh nói riêng.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo luận văn
bao gồm có 3 chương cụ thể như sau:
2
án
Phòng ngừa tình hình tội phạm là hoạt động của tất cả các cơ
quan bảo vệ pháp luật và Tòa án, các cơ quan Nhà nước và tổ chức
xã hội và của mọi công dân trong xã hội áp dụng tổng hợp và đồng
bộ các biện pháp khác nhau hướng vào thủ tiêu những nguyên nhân
và điều kiện phạm tội, cũng như loại bỏ các yếu tố tiêu cực của tội
phạm trong khoảng không gian và thời gian cụ thể. Qua đó, từng
bước hạn chế, đẩy lùi và tiến tới loại bỏ tình hình tội phạm ra khỏi
đời sống xã hội.
4
Hoạt động phòng ngừa tình hình tội phạm không phải là nhiệm
vụ của một cá nhân, cơ quan, tổ chức nào mà bản thân của hoạt động
này về cơ bản chính là nhiệm vụ chung của toàn xã hội. Dựa trên đặc
điểm này thì việc tham gia của các chủ thể là các tổ chức nhà nước,
xã hội, cá nhân về cơ bản phải có phạm vi rộng và sức điều chỉnh
rộng rãi. Việc xác định những cơ sở, nguyên tắc, chủ thể phòng
ngừa, lập và xây dựng kế hoạch một cách đầy đủ, khoa học và có hệ
thống các biện pháp phòng ngừa tội phạm để đạt hiệu quả cao.
Hoạt động phòng ngừa tình hình tội phạm của tòa án thông
qua công tác giải quyết án, công tác xét xử, công tác tuyên truyền
giáo dục pháp luật và kiểm soát việc thi hành án.
1.2.2. Các hình thức phòng ngừa tình hình tội phạm của
Tòa án
1.2.2.1. Phòng ngừa tình hình tội phạm thông qua xét xử
các vụ án hình sự
Trong quá trình xét xử có nhiệm vụ làm rõ nguyên nhân và
điều kiện phạm tội; đưa ra các yêu cầu, kiến nghị cơ quan, tổ chức
hữu quan áp dụng các biện pháp khắc phục và phòng ngừa tội phạm;
tổ chức, cá nhân chấp hành các quyết định của tòa án. Các cơ quan
nhà nước có thẩm quyền địa phương trên thực tế và theo các căn cứ
quy định của pháp luật có trách nhiệm phối hợp với tòa án, cơ quan
nhà nước có thảm quyền để đảm bảo cho hoạt động thi hành bản ản,
quyết định của tòa án được tiến hành một cách hiệu quả.
1.2.2.4. Phòng ngừa tội phạm thông qua các hoạt động khác
của tòa án
- Yêu cầu và kiến nghị các cơ quan khắc phục nguyên nhân,
điều kiện phạm tội
Tòa án yêu cầu các cơ quan có thẩm nhà nước quyền khắc
phục các nguyên nhân, điều kiện phạm tội diễn ra trên địa bàn; đề ra
6
yêu cầu kiến nghị cụ thể, sát, đúng trong đó chú trọng làm rõ nguyên
nhân, điều kiện phát sinh vi phạm, tội phạm; trong quá trình xét xử
vụ án hình sự tích cực tổng hợp những hạn chế, thiếu sót của các cơ
quan hữu quan để đưa ra các giải pháp nhằm khắc phục những hạn
chế, thiếu sót đó.
- Tòa án tham gia tuyên truyền, phổ biến pháp luật
Thông qua xét xử, bằng thái độ khách quan, nghiêm túc của
Thẩm phán trong quá trình xét hỏi hay trong việc đảm bảo quyền
bình đẳng của các bên trong tranh luận để tìm ra sự thật của vụ án
cũng như đảm bảo đầy đủ, đúng yêu cầu các nguyên tắc của quá
trình xét xử làm cho những người tham gia tố tụng và đông đảo quần
chúng tham dự phiên tòa có thái độ đúng đắn với những hành vi vi
phạm pháp luật, giáo dục họ ý thức tuân thủ các quy phạm pháp luật
mà Nhà nước đã đề ra, mọi hành vi vi phạm pháp luật đều bị xử lí
theo từng trường hợp cụ thể mà phiên tòa là một minh chứng cho sự
nghiêm minh của pháp luật.
phạm của các tòa án có những nét đặc thù được quy định bởi các đặc
điểm kinh tế - xã hội và tình hình tội phạm trên địa bàn.
8
Chương 2
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA TÒA ÁN
NHÂN DÂN TRONG PHÒNG NGỪA TÌNH HÌNH TỘI
PHẠM TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
2.1. Thành phố Hồ Chí Minh và công tác phòng
ngừa tình hình tội phạm trên địa bàn
2.1.1. Vài nét về đặc điểm tự nhiên, xã hội Thành phố
Hồ Chí Minh
Tổng quan về địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh:
Diện tích: 2.095,06 km²
Dân số: 8.146.300 người (năm 2015)
Thành phố Hồ Chí Minh là một đầu mối giao thông quan trọng
của cả nước, là trung tâm kinh tế, chính trị và là cửa ngõ giao thương
quốc tế, trở thành một đầu mối giao thông quan trọng của Việt Nam
và Đông Nam Á.
Thành phố Hồ Chí Minh có lượng dân nhập cư lớn, thành
phần dân cư phức tạp; có số lượng người nước ngoài sinh sống và
làm việc đông.
2.1.2. Khái quát tình hình tội phạm trên địa bàn TP. Hồ Chí
Minh
Tình hình an ninh, chính trị và trật tự an toàn xã hội tuy vẫn
đảm bảo được nhưng có nhiều diễn biến phức tạp; số lượng tội phạm
tăng cao hàng năm cả về quy mô và mức độ cũng như thủ đoạn.
2.2.1. Thông qua thực tiễn xét xử của Tòa án, Tòa án nhân
dân đánh giá tình hình tội phạm, nguyên nhân và điều kiện phát
sinh tội phạm
Theo báo cáo tổng kết công tác năm 2016 thì TAND hai cấp
thành phố Hồ Chí Minh đã thụ lý 56.916 vụ việc các loại, giải quyết
55.069 vụ, đạt tỷ lệ 96,75%; số lượng vụ án còn lại chưa giải quyết
10
hầu hết là các vụ án mới thụ lý, đang trong quá trình chuẩn bị xét xử
và còn trong thời hạn giải quyết theo quy định của pháp luật. So với
cùng kỳ năm 2015, thụ lý giảm 100 vụ, giải quyết tăng 506 vụ, tỷ lệ
giải quyết tăng 1,05%. Về chất lượng xét xử, TAND hai cấp TP. Hồ
Chí Minh có 366 bản án, quyết định bị hủy, trong đó hủy do lỗi chủ
quan là 166 vụ, chiếm tỷ lệ 0,30%, giảm 0,4% so với cùng kỳ năm
2015; có 907 bản án, quyết định bị sửa, trong đó sửa do lỗi chủ quan
là 356 vụ, chiếm tỷ lệ 0,65%.
Để hoàn thành tốt các nhiệm vụ chính trị và yêu cầu cải cách
tư pháp, TAND hai cấp TP. Hồ Chí Minh đã đề ra một số nhiệm vụ
trọng tâm phải thực hiện. Cụ thể, tiếp tục triển khai thực hiện nghiêm
túc Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng; các
Nghị quyết của Đảng; các Chỉ thị của Chánh án TANDTC trong năm
công tác năm. Triển khai có hiệu quả các Bộ luật, Luật sắp có hiệu
lực thi hành. Nâng cao hiệu quả và chất lượng trong công tác xét xử,
giải quyết các loại án, đảm bảo các phán quyết của Tòa án đúng pháp
luật, đảm bảo công lý, bảo vệ các quyền con người, quyền công dân.
Đây chính là điều kiện tiên quyết trong công tác quản lý nhà
nước trong ngành Tòa án nhân dân nói chung và Tòa án nhân dân
thành phố Hồ Chí Minh trong phòng ngừa tình hình tội phạm trên địa
bàn thành phố.
của ngành Tòa án nói chung.
2.2.3. Thực tiễn xét xử các vụ án dân sự, kinh tế, lao động,
hôn nhân và gia đình, hành chính tại TP. Hồ Chí Minh
* Đối với hoạt động xét xử các vụ án dân sự, kinh tế, hôn
nhân- gia đình và lao động
Năm 2012 số thụ lý 52.269 vụ nhưng đến năm 2014 thì tăng
đến 60.543 vụ, tăng 8.274 vụ. Đây là số lượng vụ án dân sự đã được
TAND thành phố Hồ Chí Minh giải quyết. Tuy vậy từ năm 2014 đến
12
năm 2016 thì số vụ án dân sự đã có sự thay đổi khi giảm từ 60.543
vụ xuống còn 57.445 vụ.
* Hoạt động xét xử các vụ án hành chính
Số án thụ lý năm 2012 là 1.015 vụ; năm 2013 là 981 vụ; năm
2014 là 973 vụ; năm 2015 là 1.185 vụ; năm 2016 là 1.049 vụ. Số án
giải quyết đạt tỷ lệ khoảng 93%.
* Đối với hoạt động thi hành án hình sự
Công tác thực hiện, giám sát thi hành án hình sự được đảm
bảo với những số liệu cụ thể được thể hiện qua báo cáo thống kê.
Hoạt động thi hành án hình sự vẫn còn nhiều bất cập và chưa đạt
hiệu quả tương xứng với vai trò của tòa án.
2.2.4. Thực trạng hoạt động tuyên truyền, giáo dục pháp luật
về phòng ngừa tình hình tội phạm thông qua hoạt động xét xử của
tòa án nhân dân
Những năm qua thì ngành tòa án nhân thành phố Hồ Chí Minh
đã tổ chức thành công hàng ngàn buổi tuyên truyền pháp luật để
người dân hiểu rõ những quy định pháp luật thông qua các phiên tòa
xét xử án hình sự lưu động, các vụ xét xử án ly hôn, dân sự…qua đó,
phần giảm thiểu các điểm nóng có thể phát sinh dẫn đến hành vi
chống người thi hành công vụ như một số vụ việc đã xảy ra gần đây.
Bên cạnh đó, các hoạt động tổng kết thực tiễn xét xử của Tòa án
nhân dân thành phố, tăng cường các phiên tòa xét xử lưu động, sự
tham gia tích cực của các tòa án vào hoạt động phòng ngừa tội phạm
nói chung của thành phố và các quận, huyện đã có tác dụng tích cực
trong việc ngăn chặn, giảm thiểu và phòng ngừa tội phạm.
14
Chương 3
NHỮNG BẤT CẬP, HẠN CHẾ VÀ CÁC GIẢI PHÁP
NÂNG CAO VAI TRÒ CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN TRONG
PHÒNG NGỪA TÌNH HÌNH TỘI PHẠM
3.1. Những bất cập, hạn chế trong hoạt động của Tòa án
nhân dân trong phòng ngừa tình hình tội phạm
Hiệu quả hoạt động của ngành Tòa án được thể hiện thông qua
bức tranh kinh tế xã hội và tình hình tội phạm của một quốc gia. Đối
với nước ta, kể từ khi thành lập tới nay - ngành Tòa án đã đạt được
những thành quả cụ thể góp phần rất lớn vào công cuộc xây dụng và
bảo vệ tổ quốc. Trong thời kỳ đất nước hội nhập và đổi mới hiện nay,
ngành Tòa án cũng có những chức năng, vai trò phù hợp để đáp ứng
được tình hình thực tế.
3.1.1. Những bất cập, hạn chế trong hoạt động xét xử các vụ
án hình sự
* Chưa làm tốt vai trò kiến nghị: Trong quá trình giải quyết vụ
án tại tòa án, thẩm phán – người trực tiếp giải quyết cần nắm rõ được
các thông tin cần thiết phục vụ cho việc xét xử vụ án một cách đầy
đủ là rất quan trọng; trong xét xử, dựa vào hồ sơ vụ án, cùng các thủ
phiên tòa, như vậy, các bên trong tranh chấp đều hiểu được vấn đề,
hiểu được bản chất của vụ việc và có những quyết định hợp lý tránh
làm phức tạp thêm vấn đề, tránh được những hậu quả pháp lý không
mong muốn. Mặc dù ý nghĩa của vai trò hòa giải thành là rất lớn, đặc
biệt là trong phòng ngừa tình hình tội phạm có thể phát sinh khi một
bên trong tranh chấp bị ảnh hưởng quyền lợi từ phán quyết của tòa
án; có thể phán quyết đó là hợp lý, nhưng bản thân bên bị ảnh hưởng
họ không nhận ra, không hiểu vấn đề hoặc cố tình gây những mâu
thuẫn, phiền phức đến các đối tượng khác. Hiện nay công tác hòa
16
giải vẫn chưa được sử dụng đúng mực theo tinh thần phòng ngừa
tình hình tội phạm trong hoạt động của tòa án.
* Trong hoạt động xét xử các vụ án dân sự, kinh tế, lao động,
hôn nhân và gia đình thì tòa án chưa làm tốt vai trò giải thích pháp
luật:
Giải thích pháp luật rất quan trọng trong hoạt động của tòa án,
đặc biệt là các vụ án phải đem ra xét xử. Giải thích pháp luật vừa thể
hiện vai trò, vừa cũng cố trách nhiệm giải quyết của tòa vừa giúp
người dân tìn tưởng, hiểu biết hơn về quy định của pháp luật, giúp
cho các hành vi vi phạm vì thiếu hiểu biết pháp luật được hạn chế, ở
đây là những người trực tiếp tham gia phiên tòa, và sẽ lan tỏa ra
ngoài cộng đồng, xã hội. Tuy nhiên, vai trò này hiện nay của tòa án
làm chưa tốt, không chú trọng gây ra không ít những hạn chế cho
hoạt động phòng ngừa chung.
* Đối với các vụ án hành chính:
Với việc xét xử các vụ án hành chính, tòa án phải thể hiện
được là cơ quan độc lập chỉ làm việc dựa trên pháp luật, không bị chi
phòng ngừa tình hình tội phạm. Đồng thời, chưa có sự phân công rõ
ràng trách nhiệm trong công tác quản lý, giám sát, thực hiện, áp dụng
pháp luật, giáo dục người phạm tội tại các cơ quan nhà nước, tổ chức
xã hội và chính quyền địa phương.
* Tòa án tập trung quá nhiều vào việc xét xử và ít chú trọng
đến công tác tuyên tuyền:
Không thể dựa vào các số liệu thống kê để đánh giá chất lượng
xét xử các vụ án. Đặc biệt là trong việc xét xử các vụ án hình sự thì
chất lượng xét xử là rất quan trọng, nó tác động trực tiếp tâm lý
người phạm tội, những đối tượng cần được xử lý phù hợp bởi những
người tiến hành tố tụng, mà chủ yếu là vai trò của tòa án; làm sao để
thẩm phán, hội thẩm thể hiện mình như là những báo cáo viên
18
chuyển tải các tinh thần pháp luật, các chính sách hình sự của nhà
nước đến với những người tham gia phiên tòa, bị can, bị cáo. Đây là
vấn đề còn thiếu sót, hạn chế lớn trong hoạt động xét xử của tòa án
cần được cải thiện để công tác phòng ngừa tình hình tội phạm đạt
được hiệu quả hơn.
* Tòa án chưa kiểm soát tốt công tác thi hành án hình sự:
Hiện nay công tác kiểm soát thi hành án hình sự còn rất nhiều
hạn chế. Thực tế là tòa án chưa tập trung chú trọng công tác này, cho
nên sau khi ra quyết định thi hành án thì coi như mọi việc đều phó
thác hết cho các cơ quan khác, tòa án không có kế hoạch theo dõi
phạm nhân, đặc biệt là những người thi hành hình phạt tù nhưng cho
hưởng án treo, hình phạt cải tạo không giam giữ; đối với những
người này thì được giao cho chính quyền xã, phường, thị trấn hoặc
cơ quan, tổ chức nơi họ cư trú hoặc làm việc để giám sát, giáo dục.
3.2. Các giải pháp nhằm nâng cao vai trò của Tòa án nhân
* Nâng cao hiệu quả của công tác xét xử lưu động: Mỗi tòa án
phải có kế hoạch xét xử lưu động cụ thể; trước khi xét xử phải chuẩn
bị tốt các vấn đề liên quan như vụ án xét xử, thẩm phán, hội thẩm
nhân dân, địa điểm tổ chức, nội dung cần tuyên truyền, các đối tượng
cần được tuyên tuyền thông qua vụ án.
* Tăng cường phối hợp hoạt động của các cơ quan có trách
nhiệm trong việc phòng ngừa tình hình tội phạm và có cơ chế giám
sát giáo dục đối với người phạm tội tại địa phương: Tòa án nhân dân
phải chỉ đạo các Tòa án trong địa bàn tỉnh phối hợp với phòng tư
pháp và các cơ quan, tổ chức giám sát tổ chức tập huấn, phổ biến
pháp luật nói chung và có hoạt động triển khai nhằm quản lý, giáo
dục người phạm tội trên địa bàn thành phố nói chung. Từ đó họ nâng
cao được trách nhiệm, hiểu biết và nắm bắt được chặt chẽ các quy
định về pháp luật.
20
* Tăng cường công tác kiểm soát thi hành án hình sự: Thông
qua xét xử thì tòa án có rất nhiều thông tin về tội phạm nhưng những
thông tin này nếu không được xử lý thích hợp thì không thể hiện
được đầy đủ vai trò của tòa án, cho nên cần tăng cường việc kiểm tra,
giám sát chặt chẻ những đối tượng thi hành án đối với những trường
hợp giao cho địa phương quản lý, giáo dục, cải tạo bằng các báo cáo
định kỳ theo dõi những đối tượng đang thi hành án; yêu cầu địa
phương cung cấp thông tin về đối tượng chấp hành án tại địa phương
để có phương pháp phối hợp cải tạo tốt.
* Nên ban hành các quy định để tòa án có thể kiểm soát việc
thi hành án dân sự, hành chính, lao động, hôn nhân- gia đình, kinh
tế:
Thông qua xét xử, tòa án nắm được nhiều thông tin liên quan
người công tác trong ngành tòa án rất lo lắng trước thực trạng tình
hình tội phạm của đất nước và có những trăn trở nhất định về hiệu
quả hoạt động của tòa án trong việc phòng ngừa tội phạm. Với kiến
thức và kinh nghiệm của bản thân, qua nghiên cứu và trao đổi đã có
một số ý kiến đóng góp nhỏ nhằm giúp cho ngành tòa án nhận biết
thêm những hạn chế bất cập và có những giải pháp cụ thể nâng cao
vai trò của tòa án trong công tác phòng ngừa tình hình tội phạm được
xứng đáng hơn nữa với vị thế của mình.
22
KẾT LUẬN
Công tác phòng ngừa tình hình tội phạm là một trong những
nội dung quan trọng trong thực hiện chức năng, nhiệm vụ của ngành
tòa án ở thành phố Hồ Chí Minh hiện nay. Thực hiện các quy phạm
pháp luật về phòng ngừa tình hình tội phạm là một chính sách quan
trọng của nhà nước ta. Thực tiễn ban hành và thực thi pháp luật về
phòng ngừa tình hình tội phạm của ngành tòa án nhân dân nói chung
và TAND thành phố Hồ Chí Minh nói riêng đã đạt được nhiều kết
quả, điều đó đã góp phần hoàn thiện hơn hệ thống pháp luật về đấu
tranh phòng ngừa tình hình tội phạm trong xã hội khi mà nước ta
đang trong trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Bên cạnh
những ưu điểm nổi bật, thì việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của
ngành tòa án nhân dân về cơ bản vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế, thiếu
sót. Công tác tổ chức thực hiện còn vướng mắc đã làm cho thực tiễn
về công tác phòng ngừa tình hình tội phạm chưa đáp ứng với yêu cầu
hiện nay cũng như được vận dụng và phát huy hết khả năng vốn có.
Ngoài ra, thông qua việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của
ngành tòa án về cơ bản đã đạt được nhiều kết quả tốt, cần tiếp tục