VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN BÁ CHUẨN
VAI TRÒ CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN
TRONG PHÒNG NGỪA TÌNH HÌNH TỘI PHẠM
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2017
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN BÁ CHUẨN
VAI TRÒ CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN
TRONG PHÒNG NGỪA TÌNH HÌNH TỘI PHẠM
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành: Tội phạm học và phòng ngừa tội phạm
Mã số: 60.38.01.05
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS. TS. NGUYỄN TẤT VIỄN
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CCTP
: Cải cách tư pháp
HĐXX
: Hội đồng xét xử
NN
: Nhà nước
NNPQ
: Nhà nước pháp quyền
PNTP
: Phòng ngừa tội phạm
QLNN
: Quản lý nhà nước
TAND
: Tòa án nhân dân
Trong giai đoạn xây dựng và phát triển đất nước hiện nay, công tác
phòng ngừa tình hình tội phạm đã và đang có những bước tiến quan trọng cụ
thể thông qua những kết quả đã đạt được. Tuy nhiên tình hình tội phạm thực
tế đang có những biến động phức tạp, khó lường, cho nên việc phòng ngừa
tình hình tội phạm đang được Đảng và Nhà nước hết sức lưu tâm và chủ
trương bằng mọi phương pháp, huy động cả hệ thống chính trị vào cuộc để cải
thiện tình hình. Trong các chủ thể của công tác đấu tranh phòng ngừa tình
hình tội phạm thì vai trò của cơ quan xét xử là Tòa án nhân dân có vai trò vô
cùng lớn. Thông qua việc thực hiện chức năng và nhiệm vụ của mình thì Tòa
án nhân dân giữ vai trò giáo dục, cảm hóa và xử lý các hành vi vi phạm cụ thể
của các đối tượng phạm tội. Vai trò của Tòa án nhân dân trong giai đoạn hiện
nay và thời gian tới là chức năng riêng biệt không thể thay thế bằng một cơ
quan nào. Quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền và nâng cao chất lượng
của hoạt động cải cách tư pháp hiện nay cần thiết có sự đảm bảo quyền lực
nhà nước thống nhất có sự phân công phối hợp trong việc thực hiện các quyền
lập pháp, hành pháp, tư pháp là định hướng cơ bản thực hiện công cuộc đổi
mới hệ thống chính trị nhà nước ta trong giai đoạn hiện nay.
Thông qua nghị quyết 111/2015/NQ13 ngày 27/11/2015 của Quốc Hội
13 về công tác phòng, chống vi phạm pháp luật và tội phạm, công tác của
Viện kiểm sát nhân dân, tòa án nhân dân và công tác thi hành án năm 2016
và các năm tiếp theo [18] đã chỉ ra rõ: Tòa án nhân dân có giải pháp tiếp tục
nâng cao chất lượng xét xử, thực hiện tốt việc bảo đảm tranh tụng trong xét
xử theo quy định; hạn chế tối đa bản án, quyết định bị huỷ, sửa do vi phạm
quy định của pháp luật, bảo đảm tỷ lệ bản án, quyết định bị huỷ, sửa do
nguyên nhân chủ quan hằng năm không vượt quá 1,5%; không để xảy ra tình
1
trạng vi phạm thời hạn tạm giam bị cáo trong giai đoạn xét xử, phấn đấu
không để xảy ra việc kết án oan người vô tội hoặc bỏ lọt tội phạm; nâng cao
với yêu cầu của đất nước trong tình hình mới. Việc khẳng định vai trò của
Tòa án nhân dân cần thiết phải đưa ra những luận điểm nhằm đáp ứng với sự
thay đổi nhanh chóng của tình hình xã hội. Đây là một hoạt động rất nhạy
cảm vì nó liên quan đến tổ chức, hoạt động của cơ quan tư pháp của quốc gia.
Do vậy, hoạt động này luôn được sự quan tâm đặc biệt của Nhà nước khi
công tác đấu tranh phòng ngừa tội phạm càng trở nên cần thiết trong giai đoạn
hiện nay.
Tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân trong hoạt động phòng ngừa
tình hình tội phạm là sự thể chế hóa chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà
nước ta. Mục đích là hoàn thiện hơn nữa việc tổ chức, hoạt động xét xử của
cơ quan tư pháp, cơ quan xét xử cửa nước ta đáp ứng yêu cầu của công cuộc
cải cách tư pháp ở nước ta hiện nay. Việc quy định vai trò, trách nhiệm của
TAND trong hoạt động này là một bước tiến lớn trong công tác đấu tranh
phòng ngừa tình hình tội phạm và thực tế đã đạt được nhiều thành tích đáng
kể cũng như phát huy được hiệu quả trong thực tiễn áp dụng.
Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật trong hoạt
động phòng ngừa tình hình tội phạm trong giai đoạn hiện nay của TAND trên
thực tế chưa chưa đạt được kết quả mong muốn. Tại địa bàn thành phố Hồ
Chí Minh, thông qua công tác thực hiện chức năng nhiệm vụ được giao từ đó
góp phần quan trọng trong công tác đấu tranh phòng ngừa tình hình tội phạm
về cơ bản đã đạt được nhiều hiệu quả tích cực. Bên cạnh đó, vẫn còn tồn tại
nhiều bất cập và gặp những khó khăn, vướng mắc. Tình hình tội phạm trên
địa bàn thành phố Hồ Chí Minh trong những năm trở lại đây ngày càng tăng,
đó cũng là thách thức lớn đối với các cơ quan bảo vệ pháp luật nói chung và
Tòa án nhân dân nói riêng. Cơ quan thực hiện chức năng xét xử là Tòa án
3
phải thể hiện vai trò, vị trí của mình một cách tốt hơn nữa, hiệu quả hơn nữa
trong công tác phòng ngừa tình hình tội phạm trên địa bàn nhằm đáp ứng với
nhân dân trong giải quyết khiếu kiện hành chính”; luận án tiến sĩ của TS. Tô
Văn Hoà “Tính độc lập của Toà án- nghiên cứu pháp lý về khía cạnh lý luận,
thực tiễn ở Đức, Mỹ, Pháp, Việt Nam và các kiến nghị đối với Việt Nam”.
Ngoài ra, TAND còn là đối tượng nghiên cứu đề cập đến lĩnh vực đổi mới cải
cách bộ máy nhà nước, cải cách tư pháp, như Luận án tiến sĩ của TS. Trần
Huy Liệu “Đổi mới và tổ chức hoạt động của các cơ quan tư pháp theo
hướng xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam”; Lê Văn Quyền – Luận án
tiến sĩ luật học, 2017, Hoạt động xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của tòa án
nhân dân cấp tỉnh tại miền Đông Nam Bộ - Việt Nam hiện nay….
Ngoài ra có rất nhiều bài viết, nhiều ấn phẩm khoa học pháp lý, sách,
tạp chí, báo… đã được xuất bản như: Vai trò của Tòa án trong việc phòng
ngừa tội phạm của Thạc sỹ Lý Văn Quyền – đăng trên tạp chí luật học số 6
năm 2005; công trình nghiên cứu khoa học cấp bộ của ngành TAND: Vai trò
của tòa án nhân dân trong việc đấu tranh phòng và chống các tội phạm về
tình dục năm 2001…. Với mục đích làm phong phú thêm nội dung nghiên cứu
về công tác phòng ngừa tình hình tội phạm, người viết chọn đề tài: Vai trò
của Tòa án nhân dân trong phòng ngừa tình hình tội phạm trên địa bàn
thành phố Hồ Chí Minh làm luận văn thạc sỹ để thể hiện tâm huyết và đóng
góp của bản thân đối với vấn đề này.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Thông qua hoạt động nghiên cứu, tác giả mong muốn cung cấp cho
người đọc một cách tổng thể các quy định về vai trò của TAND trong công
tác đấu tranh phòng ngừa tình hình tội phạm. Trên cơ sở đó, nghiên cứu thực
trạng về việc thực hiện vai trò, chức năng, nhiệm vụ của mình thì Tòa án nhân
5
dân giữ vị trí như thế nào trong công tác đấu tranh phòng ngừa tình hình tội
phạm để có thể đánh giá được mức độ tham gia trong hoạt động này của
vai trò của TAND thông qua các quy định của pháp luật tố tụng hình sự, dân
sự được quy định trong bộ luật tố tụng dân sự, Bộ luật tố tụng hình sự và có
sự so sánh, đối chiếu với các quy định trong giai đoạn trước đây. Thực tế áp
dụng về phòng ngừa tình hình tội phạm của ngành tòa án nhân dân thành phố
Hồ Chí Minh nhằm đánh giá thực trạng, tìm hiểu những hạn chế và khó khăn
trong quá trình áp dụng. Đề xuất một số giải pháp góp phần hoàn thiện pháp
luật về nâng cao vai trò của ngành tòa án trong phòng ngừa tình hình tội phạm
của ngành TAND thành phố Hồ Chí Minh nói riêng và cả nước nói chung
trước yêu cầu của công cuộc xây dựng và phát triển đất nước hiện nay.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu trong phạm vi các văn bản pháp luật về chức năng,
nhiệm vụ của ngành Tòa án nhân dân như: Hiến pháp 2013, Luật tổ chức Tòa
án nhân dân 2014, Bộ luật tố tụng hình sự 2003, Bộ luật tố tụng hình sự 2015,
Bộ luật tố tụng dân sự 2015, các Nghị định, Thông tư hướng dẫn thực hiện.
Nội dung đề tài chỉ giới hạn trong những vấn đề lý luận về vai trò của Tòa án
nhân dân trong phòng ngừa tình hình tội phạm và các quy định của pháp luật
về lĩnh vực này. Giới hạn khảo sát của đề tài là quá trình thực thi pháp luật về
phòng ngừa tình hình tội phạm của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh
từ 2012 đến nay.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Phương pháp sử dụng cho toàn đề tài là tác giả sử dụng phương pháp
luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Mác –
Lênin kết hợp với tư tưởng Hồ Chí Minh.
Phương pháp nghiên cứu cụ thể bao gồm:
7
- Kết hợp giữa phân tích với tổng hợp, diễn dịch với quy nạp làm rõ nội
dung cần nghiên cứu trong vấn đề nghiên cứu về vị trí, vai trò của TAND
báo cáo khoa học cấp khoa, cấp trường trong công tác nghiên cứu về đấu
tranh phòng ngừa tình hình tội phạm trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh.
Ngoài ra, đề tài còn có ý nghĩa thiết thực đối với một số đối tượng khác quan
tâm đến lĩnh vực đấu tranh phòng ngừa tình hình tội phạm.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài lời nói đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
chính của khóa luận gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về vai trò của tòa án nhân dân trong
phòng ngừa tình hình tội phạm
Chương 2: Thực trạng hoạt động của tòa án nhân dân trong phòng
ngừa tình hình tội phạm trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh
Chương 3: Những bất cập, hạn chế và giải pháp nâng cao vai trò của
Tòa án nhân dân trong phòng ngừa tội phạm
9
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ CỦA TÒA ÁN
NHÂN DÂN TRONG PHÒNG NGỪA TÌNH HÌNH TỘI PHẠM
1.1. Đặc điểm hoạt động của tòa án
Trong quá trình xây dựng và phát triển Nhà nước ta, mô hình tổ chức
bộ máy nhà nước đã có những thay đổi phù hợp với từng giai đoạn lịch sử.
Hiện nay tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước được thực hiện theo
nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công phối hợp và
kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp,
hành pháp, tư pháp. Việc thực hiện quyền tư pháp là một trong những chức
năng rất quan trọng của Nhà nước, được giao cho Tòa án nhân dân. Xét về
mối tương quan giữa các cơ quan thuộc bộ máy nhà nước, có thể thấy trong
khi hoạt động chủ yếu của lập pháp và hành pháp là ban hành và tổ chức thực
điểm là sẽ bảo đảm đảm cho tòa án thực hiện chức năng, nhiệm vụ, các hoạt
động một cách độc lập. Là cơ quan duy nhất nắm quyền tư pháp, tòa án cũng
sẽ không bị can thiệp hoặc tác động tiêu cực vào quá trình xét xử. Bên cạnh
đó, những người làm công tác xét xử phải có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ
pháp lý rất cao, đủ khả năng để giải quyết các vấn đề rất phức tạp như xác
định tội phạm và người phạm tội và áp dụng hình phạt, phán quyết các tranh
chấp, các sự kiện liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tổ
chức. Bởi lao động xét xử là lao động sáng tạo trong áp dụng pháp luật, đòi
hỏi tư duy ở trình độ cao của người Thẩm phán. Thẩm phán, Hội thẩm phải
tiếp cận với một hệ thống đồ sộ các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành, kể
cả pháp luật của các quốc gia khác khi có liên quan và cả pháp luật quốc tế.
Hoạt động xét xử còn luôn luôn bị giới hạn bởi những quy định khắt khe của
pháp luật tố tụng về chứng cứ, về thời hạn, về độ chính xác của bản án, quyết
định; về việc phải tuân thủ các nguyên tắc Hiến định về tổ chức tư pháp và về
11
tố tụng. Vì vậy tòa án có những phương thức hoạt động riêng, đặc trưng cho
quyền tư pháp. Vì toà án chính là cơ quan thực thi quyền tư pháp trong bộ
máy nhà nước và việc thực thi quyền này lại ảnh hưởng trực tiếp tới mục tiêu
và các giá trị của công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam[19];
toà án cũng là nơi thể hiện sâu sắc nhất bản chất của Nhà nước và nền công lý
của chế độ, đồng thời thể hiện chất lượng hoạt động và uy tín của cả hệ thống
tư pháp trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa [9].
Không chỉ giới hạn bởi chức năng xét xử, tòa án còn có chức năng rất
quan trọng nữa là phòng ngừa tội phạm. Trong tác phẩm "Những nhiệm vụ
trước mắt của chính quyền xô viết", V.I. Lênin đã chỉ rõ cần phải có một tòa
án mới, trước hết để chống lại bọn bóc lột, tước bỏ hết đặc quyền, đặc lợi và
ngăn chặn âm mưu khôi phục lại nền thống trị của chúng. Một tác dụng quan
trọng hơn là, tòa án bảo đảm cho mọi người lao động chấp hành một cách
xử... Những nguyên tắc cơ bản này sau đó được thể hiện trong bản Hiến pháp
đầu tiên của Nhà nước ta năm 1946. Đây là những quy định tiến bộ, phù hợp
với các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp trong Nhà
nước pháp quyền, đến nay vẫn còn nguyên giá trị. Vai trò của tòa án cũng
được xác định rõ là ngăn chặn, phòng ngừa tội phạm chống lại chính quyền
dân chủ nhân dân (tội phạm quốc sự) và các tội phạm khác (tội phạm hình sự
thường).
Hiện nay, công công cuộc cải cách tư pháp đã thu được những kết quả
bước đầu rất quan trọng, thúc đẩy nền tư pháp phát triển thêm một bước, nâng
cao vai trò và vị thế của tòa án. Tuy nhiên, bên cạnh đó, hoạt động tư pháp
còn bộc lộ nhiều hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu xây dựng và hoàn thiện
Nhà nước pháp quyền XHCN. Nghị quyết 49/NQ ngày 2/6/2005 của về Chiến
lược cải cách tư pháp đến năm 2020 (dưới đây gọi tắt là Nghị quyết số
13
49/NQ-TW) đề ra nhiệm vụ: “Xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền
và hoàn thiện tổ chức, bộ máy các cơ quan tư pháp. Trọng tâm là xây dựng,
hoàn thiện tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân”. Thể chế hóa chủ
trương cải cách tư pháp của Đảng, Hiến pháp năm 2013 đã có những sửa đổi,
bổ sung quan trọng về hệ thống tư pháp và bộ máy nhà nước. Một số tư duy
mới về tổ chức hoạt động của bộ máy nhà nước đã thể hiện rõ trong Hiến
pháp. Nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối
hợp và kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền
lập pháp, hành pháp, tư pháp được ghi nhận. Hiến pháp xác định rõ Quốc hội
thực hiện quyền lập hiến, quyền lập pháp; Chính phủ thực hiện quyền hành
pháp; Tòa án nhân dân thực hiện quyền tư pháp. Việc đổi mới tư duy về tư
pháp đã xác định được mô hình tổ chức Tòa án nhân dân theo cấp xét xử
nhằm đảm bảo nguyên tắc độc lập xét xử. Đồng thời, xác định được mô hình
tố tụng mới cho Việt Nam theo hướng kết hợp giữa mô hình tố tụng thẩm vấn
nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế
độ xã hội chủ nghĩa,bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp
của tổ chức, cá nhân”. Như vậy, từ những đặc điểm hoạt động của tòa án
được hiểu như là một sứ mệnh đặc thù mà lịch sử đã giao phó; kết hợp với các
quy định của Hiến pháp và pháp luật trong từng giai đoạn lịch sử nhất định đã
hình thành nên những đặc điểm hoạt động cụ thể của tòa án. Từ những đặc
điểm hoạt động này sẽ tạo nên vai trò của tòa án nói chung và trong hoạt động
phòng ngừa tình hình tội phạm.
1.2. Đặc điểm và các hình thức hoạt động phòng ngừa tình hình tội
phạm của Tòa án
1.2.1. Đặc điểm về phòng ngừa tình hình tội phạm của Tòa án
Các nhà nghiên cứu tội phạm học cơ thống nhất quan điểm cho rằng
phòng ngừa tội phạm là hoạt động của tất cả các cơ quan Nhà nước, các tổ
15
chức xã hội và của mọi công dân áp dụng tổng hợp và đồng bộ các biện pháp
khác nhau hướng vào việc loại trừ những nguyên nhân và điều kiện phạm tội,
từng bước hạn chế, ngăn chặn và đẩy tội phạm, loại bỏ chúng ra khỏi đời
sống xã hội. GS.TS. Nguyễn Ngọc Hòa định nghĩa: “Phòng ngừa tội phạm là
hoạt động của các cơ quan, tổ chức và công dân, thực hiện tổng thể các biện
pháp tác động trực tiếp vào các nhóm nguyên nhân của tội phạm để kiểm
soát, hạn chế tác dụng và loại trừ dần những nhóm nguyên nhân này…” [4].
Còn theo Từ điển Luật học thì phòng ngừa tội phạm là ngăn ngừa tội phạm
và loại trừ các nguyên nhân phát sinh tội phạm bằng toàn bộ những biện
pháp liên quan với nhau do cơ quan Nhà nước và tổ chức xã hội tiến hành.
Trên cơ sở tổng hợp các quan điểm khoa học đã nêu, kết hợp với thực tiễn
đấu tranh phòng và chống tội phạm ở nước ta trong thời gian vừa qua có thể
được định nghĩa cơ bản về phòng ngừa tình hình tội phạm như sau: Phòng
ngừa tình hình tội phạm là hoạt động của tất cả các cơ quan bảo vệ pháp luật
từ trung ương đến địa phương, của toàn bộ cả hệ thống chính trị. Tuy nhiên
vai trò chính vẫn là các cơ quan tư pháp như cơ quan điều tra, Viện kiểm sát,
Tòa án là những cơ quan đứng trên tuyến đầu đấu tranh phòng chống tội
phạm…. Về phần mình, Tòa án nhân dân là cơ quan trực tiếp tổ chức, triển
khai các hoạt động phòng ngừa tội phạm đã được pháp luật quy định, thông
qua hoạt động xét xử và các hoạt động khác ngoài việc xét xử, cụ thể tại Điều
6 Bộ luật tố tụng hình sự 2015: “Trong quá trình tiến hành tố tụng hình sự, cơ
quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm phát hiện nguyên nhân
và điều kiện phạm tội, yêu cầu, kiến nghị cơ quan, tổ chức hữu quan áp dụng
các biện pháp khắc phục và phòng ngừa” Như vậy, có thể thấy, Tòa án là một
chủ thể phòng ngừa đặc biệt. Hoạt động phòng ngừa tội phạm của tòa án
mang tính chất liên ngành, bao gồm các biện pháp phòng ngừa mang tính chất
17
pháp luật tố tụng và các biện pháp phòng ngừa khác. Hướng phòng ngừa tội
phạm chủ yếu của tòa án là kết hợp giữa hai loại biện pháp này.
Các biện pháp phòng ngừa mang tính chất pháp luật tố tụng bao gồm:
- Thông qua xét xử (Sự tác động về mặt pháp luật và đạo đức đối với
những người tham gia tố tụng và những người tham dự hoặc quan tâm đến
phiên tòa thông qua nguyên tắc xét xử công khai, xét xử khách quan, toàn
diện và đầy đủ vụ án; thông qua việc tòa án ra bản án nghiêm minh, đúng
người, đúng tội, đúng pháp luật);
- Thông qua phiên tòa lưu động (Tuyên truyền giáo dục pháp luật;
tuyên truyền đề phòng các hành vi, động cơ, nguyên nhân, điều kiện phạm
tội);
- Thông qua thi hành án hình sự (Giám sát, theo dõi chặt chẽ tình hình
thi hành án, đưa ra quyết định phù hợp).
Các biện pháp phòng ngừa khác của tòa án gồm:
Đồng thời phối hợp hành động vối các cơ quan, tổ chức khác trong công tác
đấu tranh và phòng ngừa tội phạm theo chức năng, nhiệm vụ của mình.
Thông qua hoạt động xét xử các vụ án hình sự thì bản án và quyết định
của Tòa án phải thực sự là kết quả của việc xem xét, thẩm tra, đối chiếu, đánh
giá các chứng cứ tài liệu đã thu thập được trong hồ sơ và qua tranh tụng tại
phiên tòa công khai; trong hoạt động tư pháp phải bảo đảm không để lọt tội
phạm nhưng không được làm oan người vô tội.
Hoạt động xét xử các vụ án hình sự của Tòa án có vai trò to lớn trong
việc bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Những hành vi vi phạm
pháp luật đều đảm bảo được xử lý một cách nghiêm khắc, đảm bảo tính
nghiêm minh của pháp luật khi các hành vi đó xâm phạm nghiêm trọng đến
các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ. Hoạt động xét xử của Tòa án có vai
trò khắc phục và chấm dứt những hành vi vi phạm pháp luật, khôi phục lại trật
19
tự pháp luật trong các lĩnh vực bị hành vi vi phạm pháp luật xâm phạm, truy
cứu trách nhiệm pháp lý các chủ thể đã có hành vi vi phạm theo đúng các quy
định của pháp luật tố tụng. Hoạt động xét xử của Tòa án còn có vai trò quan
trọng trong việc hướng chủ thể của các quan hệ pháp luật thực hiện hành vi
hợp pháp luật, bảo đảm lợi ích chính đáng của mình và tôn trọng lợi ích chính
đáng của người khác.
Việc xét xử các vụ án hình sự có vai tác dụng quan trọng trong việc góp
phần phổ biến, tuyên truyền, giáo dục pháp luật; nâng cao ý thức pháp luật
trong nhân dân bằng những vụ việc cụ thể, đặc biệt là thông qua các phiên tòa
xét xử công khai, phiên tòa lưu động. Từ những sự kiện này, không những tác
động trực tiếp tới các bị can, bị cáo, những người tham dự trực tiếp phiên tòa
mà nó có có sự lan tỏa, ảnh hưởng trong dân chúng bằng hình thức này hay
hình thức khác, từ đó sẽ tác động lên ý thức của người dân về các hành vi vi
phạm pháp luật và các hình phạt được áp dụng; rằng mọi hành vi vi phạm