Nạn nhân của tình hình tội phạm trên địa bàn thành phố đà nẵng - Pdf 49

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LÂM VĂN TIẾN

NẠN NHÂN CỦA TÌNH HÌNH TỘI PHẠM
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - năm 2018


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC

VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LÂM VĂN TIẾN

NẠN NHÂN CỦA TÌNH HÌNH TỘI PHẠM
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Chuyên ngành: Tội phạm học và phòng ngừa tội phạm
Mã ngành: 638.01.05

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. ĐINH THỊ MAI

h hình tội phạm trên địa bàn thành phố Đà Nẵng........................................33
2.2.

Thực trạng nạn nhân của tình hình tội phạm trên địa bàn thành phố Đà

Nang.. 40


CHƯƠNG 3. CÁC GIẢI PHÁP PHÒNG NGỪA NGUY CƠ TRỞ THÀNH
NẠN NHÂN CỦA TÌNH HÌNH TỘI PHẠM......................................................52
3.1.......................Hạn chế, loại trừ những yếu tố thuộc về nguyên nhân chủ quan
..................................................................................................................... 52
3.2................................Hạn chế những yếu tố thuộc về nguyên nhân khách quan
..................................................................................................................... 58
3.3..................................Tiếp thu kinh nghiệm bảo vệ nạn nhân của một số nước
..................................................................................................................... 60
KẾT LUẬN........................................................................................................... 74
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ANTT

: An ninh trật tự

CAND

: Công an nhân dân

TAND

được thuận lợi, nhanh chóng, chính xác.
Thành phố Đà Nẵng là trung tâm kinh t ế, chính trị, văn hóa, xã hội của khu v
ực miền Trung - Tây Nguyên, phía Bắc giáp với tỉnh Thừa thiên - Huế, phía Đông
giáp với biển Đông, phía Tây và Nam giáp với tỉnh Quảng Nam. Trong phạm vi khu
vực và quốc tế, thành phố Đà Nẵng là một trong những cửa ngõ quan trọng ra biển
của các tỉnh Tây Nguyên, các nước Lào, Campuchia, Thái Lan, Myanma đến các
nước vùng Đông Bắc Á thông qua hành lang kinh tế Đông - Tây. Trong những năm
qua, cùng với sự phát triển của nhà nước, tình hình kinh tế - xã hội của thành phố Đà
Nẵng đã có những bước phát triển đáng kể, đời sống vật chất và tinh thần của nhân
dân được nâng cao. Chính quyền thành phố đẩy mạnh tốc độ quy hoạch đô thị, mở
rộng, phát triển cơ sở hạ tầng, tạo nên diện mạo mới cho thành phố, điều này dẫn
đến việc di dời, giải tỏa làm cho dân cư có sự biến động; số người ở địa phương
khác đến thành phố học tập, tìm việc làm tăng, tạo áp lực về việc làm, chỗ ở, gây

1


không ít khó khăn cho công tác bảo đảm ANTT. Bên cạnh đó, mặt trái của nền kinh
tế thị trường cũng có những tác động tiêu cực đối với xã hội, đó là tình trạng phân
hóa giàu nghèo, nạn thất nghiệp... Đây chính là một trong những nguyên nhân làm
gia tăng tỉ lệ tội phạm đồng thời ảnh hưởng đến nạn nhân của tình hình tội phạm trên
địa bàn thành phố.
Dưới góc độ tội phạm học, để nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng,
chống tội phạm trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, việc nghiên cứu, phân tích, làm rõ
vấn đề nạn nhân của tình hình tội phạm có ý nghĩa đặc biệt quan trọng cả về lý luận
lẫn thực tiễn. Mặc dù vậy, đến nay chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu một
cách tổng thể, toàn diện về vấn đề nạn nhân của tình hình tội phạm trên địa bàn
thành phố Đà Nẵng với tư cách là một đề tài độc lập. Bởi các lý do nêu trên, tác giả
lựa chọn vấn đề “Nạn nhân của tình hình tội phạm trên địa bàn thành phố Đà
Nẵng” làm đề tài luận văn thạc sĩ.

phạm dưới góc độ tội phạm học và khảo sát thực tiễn nạn nhân của tình hình tội
phạm trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, đề tài luận văn đề ra những giải pháp khắc
phục những yếu tố đóng vai trò là nguy cơ trở thành nạn nhân của tội phạm và xây
dựng cơ chế bảo vệ, trợ giúp nạn nhân của tình hình tội phạm trên địa bàn thành phố
Đà Nẵng.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu trên, đề tài luận văn có các nhiệm vụ sau:
- Phân tích làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận về nạn nhân của tình hình tội
phạm dưới góc độ tội phạm học; phân tích chỉ ra vai trò của nạn nhân trong cơ chế
làm phát sinh hành vi phạm.
- Khảo sát, đánh giá thực trạng tình hình tội phạm và thực trạng nạn nhân của
tình hình tội phạm trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.

3


- Nghiên cứu đề ra hệ thống các giải pháp nhằm phòng ngừa nguy cơ trở
thành nạn nhân của tội phạm; xây dựng cơ chế bảo vệ, trợ giúp nạn nhân của tình
hình tội phạm.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
- Lý luận về nạn nhân của tình hình tội phạm dưới góc độ tội phạm học;
- Thực tiễn nạn nhân của tình hình tội phạm trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Đề tài luận văn nghiên cứu nạn nhân của tình hình tội phạm
trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.
- Về địa bàn: Thành phố Đà Nẵng.
- Về thời gian: Từ năm 2013 đến năm 2017.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
Luận văn được nghiên cứu dựa trên phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác Lênin; tư tưởng Hồ Chí Minh; quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp

thống về vấn đề nạn nhân của tình hình tội phạm. Những kết quả nghiên cứu của
luận văn có ý nghĩa lý luận và thực tiễn quan trọng sau:
Về lý luận: Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ đóng góp nhất định vào phát
triển khoa học chuyên ngành nạn nhân học.
Về thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể được vận dụng vào thực
tiễn phòng ngừa tình hình tội phạm cũng như bảo vệ, trợ giúp nạn nhân của tình hình
tội phạm trên địa bàn thành phố Đà Nẵng và trong phạm vi cả nước. Ngoài ra, luận
văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo tại các cơ sở nghiên cứu và đào tạo
chuyên ngành luật ở nước ta.
Những điểm mới của luận văn
Luận văn có những điểm mới cụ thể sau:

5


Thứ nhất, luận văn đã xây dựng, bổ sung, hoàn thiện lý luận về nạn nhân của
tình hình tội phạm, bao gồm: Nạn nhân của tội phạm; nạn nhân của tình hình tội
phạm; vai trò của nạn nhân trong tình hình tội phạm; nguyên nhân trở thành nạn
nhân của tình hình tội phạm; cơ chế bảo vệ, trợ giúp nạn nhân của tội phạm.
Thứ hai, luận văn tập trung khảo sát, đánh giá thực trạng nạn nhân của tình
hình tội phạm trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, đây là cơ sở để đề ra các giải pháp
nhằm phòng ngừa nguy cơ trở thành nạn nhân của tội phạm.
Thứ ba, luận văn đề xuất các giải pháp nhằm phòng ngừa nguy cơ trở thành
nạn nhân của tội phạm, xây dựng cơ chế bảo vệ, trợ giúp nạn nhân của tình hình tội
phạm.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của
luận văn gồm 3 chương:
Chương 1 : Những vấn đề lý luận về nạn nhân của tình hình tội phạm.
Chương 2: Thực trạng nạn nhân của tình hình tội phạm trên địa bàn thành phố

nạn nhân, sử dụng từ những năm 1962. Theo ông, nạn nhân của tội phạm là những
người bị hành vi phạm tội gây thiệt hại đối với các quyền và lợi ích hợp pháp và trên
thực tế phải chịu đựng những tổn hại về vật chất hoặc sức khoẻ, tính mạng, tinh thần
[42]. Theo quan điểm của Haiz Zipf thì nạn nhân của tội phạm trong tội phạm học là
tất cả những người bị hành vi phạm tội xâm hại, bất kể người phạm tội có bị truy
cứu trách nhiệm hình sự hay không bị truy cứu trách nhiệm hình sự (trong những
trường hợp người bị hại không yêu cầu khởi tố vụ án) [42]. Điều 1, Hiệp định khung
về địa vị của nạn nhân trong tố tụng hình sự ở châu Âu đã định nghĩa: “Nạn nhân
được hiểu theo nghĩa là thực thể tự nhiên đã bị xâm phạm gây tổn thất về thể chất,
tinh thần, tình cảm hoặc về kinh tế có nguyên nhân trực tiếp từ hành vi vi phạm luật
hình sự của một nước thành viên ’’ [56, tr.2].
Từ các quan điểm và định nghĩa nêu trên, có thể định nghĩa nạn nhân của tội
phạm theo nghĩa hẹp như sau:

7


“Nạn nhân của tội phạm là những cá nhân chịu thiệt hại về tính mạng, sức
khỏe, tinh thần, tình cảm, tài sản hoặc các quyền và lợi ích hợp pháp khác do hành
vi phạm tội trực tiếp gây ra ".
Quan điểm thứ hai, xác định nạn nhân của tội phạm theo nghĩa rộng:
Theo nghĩa rộng, nạn nhân của tội phạm không chỉ bao gồm thể nhân mà còn
bao gồm cả pháp nhân bị hành vi phạm tội xâm hại. Người đầu tiên xác định nạn
nhân của tội phạm bao gồm cả các tổ chức đó là Fritz R. Paasch khi ông bàn đến nạn
nhân của các tội phạm về kinh tế. Theo ông, nạn nhân của các tội phạm về kinh tế là
các cá nhân con người (thể nhân) và các pháp nhân bị xâm hại các quyền và lợi ích
được pháp luật ghi nhận [42]. Văn bản quan trọng làm cơ sở cho việc định nghĩa nạn
nhân của tội phạm theo nghĩa rộng là Tuyên bố về các nguyên tắc cơ bản về tư pháp
đối với nạn nhân của tội phạm và nạn nhân của sự lạm dụng sức mạnh của Liên hợp
quốc ban hành ngày 29/11/1985. Điều 1 của Tuyên bố xác định: “Nạn nhân của tội

chức phải chịu những thiệt hại trực tiếp về tính mạng, sức khoẻ, tinh thần, tình cảm,
tài sản hoặc các quyền và lợi ích hợp pháp khác do hành vi phạm tội gây ra” [42,
tr.50].
Theo tác giả, định nghĩa nạn nhân của tội phạm theo quan điểm của nhà
nghiên cứu Nguyễn Hữu Tráng là định nghĩa cơ bản, tổng hợp và toàn diện nhất.
Theo đó nạn nhân của tội phạm bao gồm hai nét đặc trưng cơ bản sau:
Một là, nạn nhân của tội phạm có thể là cá nhân hoặc tổ chức.
Cá nhân là nạn nhân của tội phạm phải là những người đang tồn tại vào thời
điểm hành vi phạm tội xảy ra, nghĩa là hành vi phạm tội phải xâm hại đến một người
đang tồn tại trong thế giới khách quan để gây thiệt hại hoặc đe doạ gây thiệt hại. Còn
đối với nạn nhân là tổ chức phải là những tổ chức hợp pháp có tài sản, còn tồn tại
vào thời điểm hành vi phạm tội xảy ra.

9


Hai là, cá nhân, tổ chức đó phải chịu những thiệt hại trực tiếp về tính mạng,
sức khoẻ, tinh thần, tình cảm, tài sản hoặc các quyền và lợi ích hợp pháp khác do
hành vi phạm tội gây ra.

1.1.2 Phân loại
Trong tội phạm học, có nhiều cách phân loại nạn nhân của tội phạm. Tùy vào
mục đích nghiên cứu khác nhau mà có các căn cứ phân loại khác nhau, cho ra những
cách phân loại khác nhau. Trong đó, có những cách phân loại phổ biến sau:
Thứ nhất, căn cứ vào địa vị pháp lý của nạn nhân, có thể chia nạn nhân của
tội phạm thành 02 nhóm:
- Nhóm nạn nhân là cá nhân: Đây là nhóm nạn nhân phổ biến của tội phạm.
Nhóm nạn nhân này có thể bị hành vi phạm tội xâm hại về cả tính mạng, sức khoẻ,
danh dự, nhân phẩm, tinh thần, tình cảm, tài sản và các quyền, lợi ích hợp pháp
khác. Nhóm nạn nhân là cá nhân không chỉ bao gồm những nạn nhân trực tiếp mà

chuẩn mực đạo đức, pháp luật, tạo điều kiện thuận lợi hoặc thúc đẩy hành vi phạm
tội thực hiện. Những hành vi không đúng chuẩn mực có thể là những hành vi như
mất cảnh giác, coi thường sự bảo vệ tính mạng, tài sản, hành vi không phù hợp với
các chuẩn mực, thuần phong, mỹ tục thậm chí là các hành vi trái pháp luật, hành vi
phạm tội ... Nhiều nhà tội phạm học còn chia nhóm này thành hai nhóm: Nhóm nạn
nhân có lỗi nhỏ và nhóm nạn nhân có lỗi nghiêm trọng. Nạn nhân có lỗi nhỏ là
những nạn nhân có lỗi trong việc bảo vệ tính mạng, sức khỏe hay tài sản của mình
và của người thân trong gia đình. Nạn nhân có lỗi nghiêm trọng là những người có
hành vi trái đạo đức, trái thuần phong, mỹ tục thậm chí là những hành vi khiêu
khích, gây gổ hoặc tấn công người khác.
- Nạn nhân không có lỗi: Là những nạn nhân hoàn toàn xử sự đúng những
chuẩn mực đạo đức, pháp luật. Hành vi của họ hoàn toàn không tạo điều kiện thuận
lợi hay thúc đẩy hành vi phạm tội thực hiện. Nguyên nhân trở thành nạn nhân của tội
phạm hoàn toàn nằm ngoài phạm vi xử sự của họ.

1
1


Ngoài việc phân loại nạn nhân của tội phạm thành các nhóm nhất định theo
từng tiêu chí nêu trên, tội phạm học còn có nhiều sự phân loại nạn nhân của tội phạm
theo các căn cứ khác nhau, cụ thể:
Căn cứ vào khách thể của tội phạm có thể phân loại nạn nhân của tội phạm
thành: Nạn nhân của các tội xâm phạm về tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm
con người; nạn nhân của các tội phạm xâm phạm sở hữu; nạn nhân của các tội phạm
xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, nạn nhân của các tội phạm về ma túy...
Căn cứ vào giới tính có thể phân loại nạn nhân của tội phạm thành: Nạn nhân
là nữ giới, nạn nhân là nam giới.
Căn cứ vào độ tuổi có thể phân loại nạn nhân của tội phạm thành: Nạn nhân
là trẻ em; nạn nhân là người đã thành niên (trường hợp không thuộc đối tượng là

của tình hình tội phạm; các dấu hiệu khác của tình hình tội phạm như: Tình hình tội
phạm là một hiện tượng xã hội có tính lịch sử; tình hình tội phạm là một hiện tượng
xã hội mang tính giai cấp; tình hình tội phạm tồn tại trong một không gian và thời
gian nhất định. thì khái niệm chưa đề cập đến.
Nhà nghiên cứu Võ Khánh Vinh cho rằng: Phương pháp nhận thức khái niệm
tình hình tội phạm phải được hình thành bằng tư duy chuyển mức độ nhận thức từ sự
kiện, hành vi và khái niệm tội phạm đơn nhất đến một khái niệm chung hơn, khái
quát hơn, phức tạp hơn - tình hình tội phạm, tức là đi từ nhận thức cụ thể đến nhận
thức cao hơn, khái quát hơn những nhận thức đã đạt được [72, tr.2]. Theo đó, tình
hình tội phạm phải có các dấu hiệu sau:

(1)

Tình hình tội phạm là một thuộc tính của

xã hội tái sản xuất ra nhiều hành vi nguy hiểm cho con người, xã hội và Nhà nước; (2)
Tình hình tội phạm là một hiện tượng xã hội được thay đổi về mặt lịch sử;
hình tội phạm là một hiện tượng pháp luật;

(4)

(3)

Tình

Tình hình tội phạm là một hiện tượng

xã hội mang tính giai cấp; (5) Tình hình tội phạm là một hiện tượng xã hội tiêu cực;

(6)

và cả sự phát triển, tồn tại của tình hình tội phạm trong tương lai; đồng thời, trang bị
cho người nghiên cứu những hiểu biết về quy luật hình thành và phát triển của hiện
tượng xã hội đó, biết được mối liên hệ biện chứng giữa sự thay đổi về nội dung của
tình hình tội phạm với những thay đổi khác diễn ra trong xã hội và dự báo được sự
phát triển của tình hình tội phạm trong tương lai, thông qua đó để đề ra các biện
pháp, giải pháp tổng thể tác động đến tình hình tội phạm.
Ba là, việc làm sáng tỏ dấu hiệu tình hình tội phạm là một hiện tượng xã hội
gắn liền với xã hội có giai cấp, giúp cho người nghiên cứu hiểu được bản chất giai
cấp của hiện tượng đó.

14


Bốn là, việc làm sáng tỏ tình hình tội phạm là một hiện tượng pháp lý hình sự
và là một hiện tượng tiêu cực gây nguy hiểm lớn cho xã hội, giúp cho người nghiên
cứu hiểu được những hậu quả do tình hình tội phạm gây ra đối với quá trình phát
triển của xã hội, hiểu được các thiệt hại về mọi mặt mà xã hội, con người, tổ chức
phải gánh chịu, từ đó có thái độ nghiêm túc, tăng cường sự quan tâm, chú ý đặc biệt
đến công tác đấu tranh, phòng ngừa tình hình tội phạm.
Năm là, làm rõ dấu hiệu tình hình tội phạm là một tổng thể thống nhất biện
chứng các dấu hiệu, các đặc điểm của nó giúp người nghiên cứu hiểu được muốn tác
động đến nó, muốn khắc phục dần tình hình tội phạm trong xã hội, một mặt phải tác
động đến từng mặt, từng đặc điểm riêng của tình hình tội phạm, nhưng mặt khác
cũng phải có những biện pháp tác động tổng thể đến toàn bộ tình hình tội phạm nói
chung.
Sáu là, việc làm sáng tỏ dấu hiệu về không gian và thời gian của tình hình tội
phạm giúp cho người nghiên cứu có cơ sở trong việc đề ra các giải pháp góp phần
đấu tranh phòng, chống tội phạm sát thực tế của địa phương cụ thể và gắn với từng
thòi điểm nhất định, cũng như góp phần vào đấu tranh phòng, chống tội phạm trên
phạm vi toàn quốc.

nhận thức cơ bản về nạn nhân của tội phạm và tình hình tội phạm.
Từ những phân tích ở trên về nạn nhân của tội phạm và tình hình tội phạm,
tác giả đưa ra định nghĩa nạn nhân của tình hình tội phạm như sau: “Nạn nhân của
tình hình tội phạm là những cá nhân, tổ chức phải chịu những thiệt hại trực tiếp về
tính mạng, sức khoẻ, tinh thần, tình cảm, tài sản hoặc các quyền và lợi ích hợp pháp
khác do tổng thể các hành vi phạm tội gây ra trong một khoảng thời gian và không
gian nhất định ".
Như vậy, nạn nhân của tình hình tội phạm được hiểu là:
Thứ nhất, nạn nhân của tình hình tội phạm có thể là cá nhân hoặc tổ chức.
Cũng như nạn nhân của tội phạm, cá nhân là nạn nhân của tình hình tội phạm phải là
những người đang tồn tại vào thời điểm hành vi phạm tội xảy ra, nghĩa là hành vi
phạm tội phải xâm hại đến một người đang tồn tại trong thế giới khách quan để gây
thiệt hại hoặc đe doạ gây thiệt hại; tổ chức là nạn nhân của tình hình tội phạm phải là
những tổ chức hợp pháp có tài sản, còn tồn tại vào thời điểm hành vi phạm tội xảy
ra.

16


Thứ hai, cá nhân, tổ chức là nạn nhân của tình hình tội phạm phải chịu những
thiệt hại trực tiếp về tính mạng, sức khoẻ, tinh thần, tình cảm, tài sản hoặc các quyền
và lợi ích hợp pháp khác do tổng thể các hành vi phạm tội gây ra. Khác với nạn nhân
của tội phạm, những thiệt hại do tình hình tội phạm gây ra đối với nạn nhân phải do
tổng thể các hành vi phạm tội gây ra. Tổng thể các hành vi phạm tội ở đây có thể
được hiểu là toàn bộ các hành vi của tất cả các loại tội phạm.
Thứ ba, tổng thể các hành vi phạm tội gây ra cho nạn nhân được xác định
trong một khoảng thời gian và không gian nhất định. Xuất phát từ các dấu hiệu của
tình hình tội phạm như: Tình hình tội phạm là một hiện tượng xã hội được thay đổi
về mặt lịch sử; tình hình tội phạm tồn tại trong một không gian và thời gian nhất
định... nên những thiệt hại do tổng thể các hành vi phạm tội gây ra cho nạn nhân

tiếp bị thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản hoặc là cơ quan, tổ chức bị thiệt hại về
tài sản, uy tín do tội phạm gây ra hoặc đe dọa gây ra ” [23, tr.32]. Theo quy định
này, bị hại (một dạng nạn nhân của tình hình tội phạm) có thể là cá nhân hoặc tổ
chức.
Ở đây, cần mở rộng nội hàm của khái niệm nạn nhân của tình hình tội phạm
(bị hại) bao gồm cả loại “nạn nhân trừu tượng”, bao gồm: Nhóm người, một cộng
đồng hay một tôn giáo, một sắc tộc. Chẳng hạn, tổng thể các hành vi phạm tội về
môi trường hay tổng thể các hành vi phạm tội sử dụng công nghệ cao có thể gây
thiệt hại cho các tập đoàn kinh tế xuyên quốc gia, cả hệ thống kinh tế, tiền tệ đa quốc
gia, khu vực.
Thứ hai, đặc điểm về thiệt hại:
Nạn nhân của tình hình tội phạm có thể bị thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ,
tinh thần, tình cảm, tài sản hoặc các quyền và lợi ích hợp pháp khác do hành vi phạm
tội gây ra. Những thiệt hại này có thể là thiệt hại trực tiếp hoặc thiệt hại gián tiếp
nhưng đầu tiên và tối thiểu là nạn nhân có một thiệt hại trực tiếp từ hành vi phạm tội
gây ra.
Ví dụ: Trong các vụ cố ý gây thương tích, nạn nhân không những bị thiệt hại
trực tiếp về sức khỏe, mà còn bị mất việc làm do không đủ sức khỏe, dẫn đến mất

18


thu nhập, gây ra thiệt hại gián tiếp (tài sản). Thiệt hại về tài sản không phải do hành
vi cố ý gây thương tích trực tiếp gây ra mà gián tiếp gây ra. Chính sự kiện “mất việc
làm” mới là nguyên nhân trực tiếp gây ra thiệt hại tài sản. Vì vậy, nạn nhân có thể
cùng bị hai loại thiệt hại: Thiệt hại trực tiếp (thể chất) và thiệt hại gián tiếp (tài sản)
do tội phạm cố ý gây thương tích gây ra. Trong trường hợp này không thể xem nạn
nhân chỉ có thiệt hại thể chất mà không có thiệt hại về tài sản. Nói chính xác hơn,
nạn nhân ít nhất cũng có một thiệt hại do tội phạm trực tiếp gây ra hoặc đe dọa gây
ra, ngoài ra còn có thể có một hoặc nhiều thiệt hại gián tiếp.


Quyết định truy tố, danh sách những người cần triệu tập tham gia phiên tòa được lập
bởi Viện kiểm sát;

(3)

Trong giai đoạn xét xử gồm: Quyết định đưa vụ án ra xét xử;

giấy triệu tập tham gia phiên tòa, bản án.
1.3. Vai trò của nạn nhân trong cơ chế hành vi phạm tội
Trong cuộc sống, nhiều người với những thói quen, lối sống, cách cư xử cũng
như những đặc điểm tâm sinh lý, thể chất, tinh thần cộng với một số điều kiện bên
ngoài thuận lợi rất dễ trở thành nạn nhân của tình hình tội phạm. Nạn nhân học luôn
đi sâu tìm hiểu, giải thích những nguyên nhân khiến một người trở thành nạn nhân
của tình hình tội phạm để từ đó xây dựng các biện pháp phòng ngừa nguy cơ trở
thành nạn nhân của tình hình tội phạm, hạn chế và ngăn ngừa những rủi ro có thể có
cho con người. Trong cơ chế hành vi phạm tội của các tội phạm có nạn nhân, sự tác
động qua lại chặt chẽ giữa các yếu tố chủ quan và các yếu tố khách quan của nạn
nhân có vai trò rất quan trọng làm phát sinh tội phạm. Các yếu tố chủ quan bao gồm
các đặc điểm tâm, sinh lý, thói quen, sở thích hay tính cách của nạn nhân. Các yếu tố
khách quan thuộc về môi trường bên ngoài mà đặc trưng là các yếu tố về thời gian
và không gian. Việc làm rõ các yếu tố chủ quan và khách quan sẽ góp phần đáng kể
trong quy trình xây dựng các biện pháp phòng ngừa nguy cơ trở thành nạn nhân của
tình hình tội phạm một cách hữu hiệu.

1.3.1.

Vai trò của các yếu tố chủ quan

Thứ nhất, những đặc điểm tâm, sinh lý của nạn nhân.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status