VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
HOÀNG TÚ LÊ
ĐIỀU KIỆN KINH DOANH XĂNG DẦU THEO PHÁP LUẬT
VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN TỈNH ĐỒNG NAI
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 60.38.01.07
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI, 2017
Công trình được hoàn thành tại: Học viện Khoa học xã hội
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Nguyễn Đức Minh
Phản biện 1: PGS.TS. Nguyễn Văn Vân
Phản biện 2: PGS.TS. Nguyễn Hữu Chí
Luận văn sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận văn
thạc sĩ họp tại Học viện Khoa học xã hội 08 giờ 00 ngày 09
tháng 10 năm 2017
Có thể tìm hiểu luận văn tại Thư viện Học viện Khoa học xã hội.
MỞ ĐẦU
luật và thực tiễn áp dụng pháp luật liên quan đến điều kiện kinh doanh và
ngành, nghề kinh doanh có điều kiện. Cụ thể, bài viết của tác giả Trần
Huỳnh Thanh Nghị đăng trên Tạp chí Luật học số 4/2015. Đề cập đến vấn
đề hoàn thiện pháp luật nhằm thúc đẩy hoạt động đầu tư kinh doanh, Luật
sư Trương Thanh Đức nêu lên sự bất cập về quyền tự do kinh doanh so với
quy định của Hiến pháp cho phép doanh nghiệp được tự do kinh doanh,
kinh doanh những gì mà pháp luật không cấm. Bài viết “Một số hạn chế
của luật doanh nghiệp và luật đầu tư 2014 còn nhiều bất cập” của tác giả
Phạm Thị Hồng Đào nêu lên những vấn đề tồn tại đang gây nhiều khó
khăn, đang gây nên sự chậm trễ, ách tắc và khiến các các doanh nghiệp
cũng như nhà đầu tư trong nước và nước ngoài lo ngại. Bài viết của tác giả
Nguyễn Dạ My “Pháp luật về điều kiện và thủ tục thành lập doanh nghiệp
theo luật doanh nghiệp 2014” và bài viết của tác giả Nguyễn Thị Anh
“Trình tự, thủ tục thành lập doanh nghiệp trong ngành, nghề kinh doanh có
điều kiện theo pháp luật Việt Nam” đã đưa ra một số khái quát về điều kiện
trong thành lập doanh nghiệp nói chung và thành lập doanh nghiệp trong
ngành, nghề kinh doanh có điều kiện nói riêng. Với nhiều bất cập về trình
tự, thủ tục thành lập doanh nghiệp đối với những ngành, nghề kinh doanh
có điều kiện, tác giả Nguyễn Thị Thu Thủy đã có bài viết “Hoàn thiện pháp
luật về đăng ký kinh doanh ở Việt Nam hiện nay” trên trang Tạp chí Dân
chủ và Pháp luật, nêu lên sự cần thiết xây dựng văn bản pháp luật chuyên
biệt cho tình tự, thủ tục ĐKKD trong ngành, nghề kinh doanh có điều kiện.
Việc tìm hiểu, nghiên cứu cụ thể về điều kiện kinh doanh xăng dầu một trong những ngành, nghề kinh doanh có điều kiện trong bối cảnh hội
nhập kinh tế như hiện nay thì chưa có bài viết nào.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu
2
Mục đích nghiên cứu làm rõ thực trạng quy định của pháp luật về điều
Để nghiên cứu đề tài, tác giả sử dụngcác phương pháp nghiên cứu
khoa học sau đây:
+ Phương pháp phân tích: Phân tích các quy định của pháp luật
hiện hành về điều kiện kinh doanh xăng dầu tại Việt Nam;
+ Phương pháp so sánh: So sánh những quy định của pháp luật về
điều kiện kinh doanh xăng dầu tại Việt Nam và các nước, qua đó,
làm rõ về những yếu tố cấu thành điều kiện kinh doanh xăng dầu.
+ Phương pháp tổng hợp: Tổng hợp các kết quả nghiên cứu.
+ Phương pháp lịch sử: Nhìn lại quá trình thay đổi, cải cách pháp
luật về điều kiện kinh doanh xăng dầu tại Việt Nam.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Ý nghĩa lý luận
Kết quả nghiên cứu đề tài nhằm làm rõ các khái niệm liên quan với điều
kiện kinh doanh xăng dầu, luận giải lý do quy định điều kiện kinh doanh
xăng dầu; đồng thời phân tích nội dung điều kiện kinh doanh xăng dầu và
các điều kiện cụ thể đối với hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực xăng dầu.
Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu đề tài sẽ góp phần bổ sung tư liệu cho việc đánh giá
thực trạng pháp luật về điều kiện kinh doanh xăng dầu ở nước ta hiện nay
và nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về điều kiện kinh doanh xăng dầu.
7. Cơ cấu luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo,
phần chính của Luận văn có 02 chương với những nội dung cơ bản
như sau:
Chương 1: Khái quát chung về điều kiện kinh doanh xăng dầu.
Chương 2: Thực trạng pháp luật về điều kiện kinh doanh xăng
dầu qua thực tiễn tỉnh Đồng Nai và giải pháp hoàn thiện.
4
vận tải, kỹ thuật bảo quản xăng dầu phải được nghiên cứu, tính toán
kỹ lưỡng và có những giải pháp về kỹ thuật, tổ chức quản lý trong
quá trình kinh doanh xăng dầu.
Xăng dầu là một loại hoá chất độc hại đối với con người, là một
hợp chất có phản ứng hoá học mạnh, thường gây nên ô nhiễm môi
trường. Vì vậy, quá trình kinh doanh xăng dầu phải đặc biệt chú ý
đến việc bảo vệ môi trường và cần phải có các biện pháp phù hợp để
hạn chế tối đa tác động tới môi trường.
Vai trò của xăng dầu được thể hiện ở những khía cạnh
- Đối với kinh tế
+ Xăng dầu là đầu vào quan trọng cho nhiều ngành sản xuất kinh doanh
+ Xăng dầu là hàng hóa có giá trị đóng góp vào GDP của nhiều
quốc gia, đặc biệt thông qua hoạt động xuất khẩu
- Đối với đời sống xã hội
Xăng dầu là loại nhiên liệu dùng cho các phương tiện giao thông
vận tải, đi lại hàng ngày mà hiện tại khó có thể thay thế được, vai trò
cực kỳ quan trọng của xăng dầu đối với kinh tế và đời sống xã hội
nên lĩnh vực kinh doanh xăng dầu ảnh hưởng rất lớn đến hầu như tất
cả các ngành, nghề kinh doanh khác và từ đó, tác động đến mọi khía
cạnh của đời sống xã hội.
- Đối với chính trị
Xăng dầu chính là nguyên nhân sâu xa của rất nhiều cuộc nội
chiến, chiến tranh xâm lược hoặc tranh chấp giữa các quốc gia trên
Thế giới.
- Đối với an ninh quốc phòng
Xăng dầu không chỉ có ý nghĩa quan trọng đối với phát triển kinh
tế và đời sống của nhân dân mà nó còn đặc biệt quan trọng trong lĩnh
6
7
bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp, yêu cầu về vốn pháp định hoặc
yêu cầu khác”.
Điều kiện kinh doanh được cụ thể hóa trong Luật Đầu tư 2014
(khoản 1 Điều 7) “Ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện là
ngành, nghề mà việc thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh trong
ngành, nghề đó phải đáp ứng điều kiện vì lý do quốc phòng, an ninh
quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng
đồng”.
Từ khái niệm về điều kiện kinh doanh như đã phân tích, có thể
hiểu “Điều kiện kinh doanh xăng dầu là yêu cầu do pháp luật quy
định mà chủ thể kinh doanh xăng dầu trước và trong khi kinh doanh
phải đáp ứng khi kinh doanh xăng dầu”.
1.2. Lý do quy định điều kiện kinh doanh xăng dầu
Sự cần thiết, tính tất yếu khách quan phải quy định điều kiện kinh
doanh xăng dầu cho thấy ở những điểm sau đây:
- Xăng dầu là mặt hàng chiến lược có tầm quan trọng, có tác
động mạnh mẽ tới sự phát triển kinh tế và sự ổn định xã hội của Việt
Nam.
- Hoạt động kinh doanh xăng dầu liên quan trực tiếp đến cơ sở hạ
tầng của nền kinh tế. Do đặc thù của ngành kinh doanh này, việc sử
dụng triệt để hiệu quả cơ sở vật chất kỹ thuật bảo đảm kinh doanh là
hết sức cần thiết.
- Xăng dầu là mặt hàng là mặt hàng có tính nhạy cảm cao, chịu
sức ép mạnh của các quan hệ kinh tế - chính trị quốc tế.
- Kinh doanh xăng dầu ở Việt Nam còn có đặc điểm là kinh
doanh hàng hoá nhập khẩu.
- Đặc điểm của sản phẩm xăng dầu là dễ cháy nổ, ảnh hưởng trực
khẩu, gia công xuất khẩu xăng dầu, nguyên liệu; sản xuất và pha chế
9
xăng dầu; phân phối xăng dầu tại thị trường trong nước; dịch vụ cho
thuê kho, cảng, tiếp nhận, bảo quản và vận chuyển xăng dầu.
- Điều kiện về địa điểm kinh doanh xăng dầu: chỉ áp dụng đối
với hình thức kinh doanh là các cửa hàng bán lẻ xăng dầu vì ảnh
hưởng trực tiếp đến các điều kiện về dân cư, cơ sở hạ tầng, nhu cầu
và đặc biệt là vấn đề PCCC và BVMT tại xung quanh khu vực có
các cửa hàng bán lẻ xăng dầu.
- Điều kiện về vốn trong kinh doanh xăng dầu: kinh doanh
xăng dầu lại không nằm trong Danh mục các ngành, nghề kinh
doanh có yêu cầu về vốn pháp định.
- Điều kiện về yêu cầu đo lường, chất lượng trong kinh doanh
xăng dầu: Thương nhân kinh doanh xăng dầu phải thực hiện các yêu
cầu về quản lý đo lường, chất lượng xăng dầu theo quy định của
pháp luật hiện hành.
- Điều kiện về phòng cháy chữa cháy và bảo vệ môi trường
trong kinh doanh xăng dầu: Đây là yếu tố quan trong cấu thành
trong điều kiện kinh doanh xăng dầu, các yêu cầu nghiêm ngặt đối
với PCCC và BVMT là thiết yếu đối với việc gia nhập thị trường
kinh doanh xăng dầu.
- Điều kiện về yêu cầu đáp ứng các tiêu chuẩn cơ sở vật chất,
kỹ thuật và trình độ chuyên môn: Đối với từng hình thức kinh
doanh xăng dầu cụ thể, sẽ có các điều kiện kinh doanh tương ứng,
phù hợp với yêu cầu.
1.4. Các điều kiện cụ thể đối với hoạt động kinh doanh trong
lĩnh vực xăng dầu
+ Có cơ sở sản xuất xăng dầu.
+ Có phòng thử nghiệm.
1.4.3. Điều kiện hoạt động pha chế xăng dầu
11
- Điều kiện về mặt chủ thể: Chỉ thương nhân đầu mối được pha
chế xăng dầu; thương nhân thuộc các thành phần kinh tế chỉ được
pha chế xăng dầu trong kho ngoại quan xăng dầu.
- Điều kiện về yêu cầu đáp ứng các tiêu chuẩn cơ sở vật chất, kỹ
thuật và trình độ chuyên môn: trong thời hạn 01 năm kể từ ngày
được cấp Giấy phép kinh doanh xuất khẩu, phải có phòng thử
nghiệm đủ năng lực để kiểm tra chất lượng xăng dầu theo quy chuẩn
kỹ thuật quốc gia.
- Ngoài ra, phải đăng ký cơ sở pha chế theo hướng dẫn của Bộ
Khoa học và Công nghệ.
1.4.4. Điều kiện đối với thương nhân phân phối xăng dầu
- Điều kiện về mặt chủ thể: doanh nghiệp được thành lập theo
quy định của pháp luật, có đăng ký kinh doanh xăng dầu.
- Điều kiện về yêu cầu đáp ứng các tiêu chuẩn cơ sở vật chất, kỹ
thuật và trình độ chuyên môn:
+ Có kho, bể dung tích tối thiểu 2.000 m3.
+ Có phương tiện vận tải xăng dầu.
+ Có phòng thử nghiệm.
+ Có hệ thống phân phối xăng dầu trên địa bàn từ 02 tỉnh, thành
phố trực thuộc Trung ương trở lên, tối thiểu 05 cửa hàng bán lẻ; 10
cửa hàng thuộc các đại lý bán lẻ xăng dầu được cấp Giấy chứng
nhận cửa hàng đủ điều kiện bán lẻ xăng dầu.
+ Cán bộ quản lý, nhân viên trực tiếp kinh doanh phải được đào
- Điều kiện về mặt chủ thể: doanh nghiệp được thành lập theo
quy định của pháp luật, có đăng ký kinh doanh xăng dầu.
- Điều kiện về yêu cầu đáp ứng các tiêu chuẩn cơ sở vật chất, kỹ
thuật và trình độ chuyên môn:
+ Có cửa hàng bán lẻ xăng dầu được cấp Giấy chứng nhận cửa
hàng đủ điều kiện bán lẻ xăng dầu.
13
+ Cán bộ quản lý, nhân viên trực tiếp kinh doanh phải được đào
tạo, huấn luyện và có chứng chỉ đào tạo, huấn luyện nghiệp vụ về
PCCC và BVMT theo quy định của pháp luật hiện hành.
1.4.8. Điều kiện đối với cửa hàng bán lẻ xăng dầu
- Điều kiện về địa điểm kinh doanh: phải phù hợp với quy hoạch
đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
- Điều kiện về mặt chủ thể: thuộc sở hữu, đồng sở hữu của
thương nhân là đại lý hoặc tổng đại lý hoặc thương nhân nhận quyền
bán lẻ xăng dầu hoặc thương nhân phân phối xăng dầu hoặc thương
nhân kinh doanh xuất khẩu, nhập khẩu xăng dầu hoặc thương nhân
sản xuất xăng dầu có hệ thống phân phối.
- Điều kiện về yêu cầu đáp ứng các tiêu chuẩn cơ sở vật chất, kỹ
thuật và trình độ chuyên môn:
+ Được thiết kế, xây dựng và có trang thiết bị theo đúng các quy
định hiện hành.
+ Cán bộ quản lý, nhân viên trực tiếp kinh doanh phải được đào
tạo, huấn luyện và có chứng chỉ đào tạo, huấn luyện nghiệp vụ về
PCCC và BVMT theo quy định của pháp luật hiện hành.
Ngoài ra, các thương nhân kinh doanh xăng dầu, phải đăng ký
thời gian bán hàng của các cửa hàng bán lẻ xăng dầu thuộc sở hữu
hoặc đồng sở hữu đã được cấp Giấy Chứng nhận cửa hàng đủ điều
2.1. Thực trạng quy định của pháp luật về điều kiện kinh doanh
xăng dầu
2.1.1. Khái quát quá trình hoàn thiện pháp luật về điều điều
kiện kinh doanh xăng dầu
Thông tư số 14/1999/TT-BTM đã bổ sung một cách đầy đủ, chi
tiết hơn về đối tượng chịu sự điều chỉnh của các điều kiện kinh
doanh xăng dầu.
15
Trước khi Nghị định 84/2009/NĐ-CP ra đời, Nghị định số
55/2007/NĐ-CP bước đầu tạo khung pháp lý mới cho hoạt động
kinh doanh xăng dầu và đưa ra lộ trình chuyển đổi cơ chế điều hành
kinh doanh xăng dầu từ bao cấp sang cơ chế thị trường có sự kiểm
soát của Nhà nước.
Nghị định 84/2009/NĐ-CP thay thế Nghị định 55/2007/NĐ-CP,
quán triệt và cụ thể hóa quan điểm kinh doanh xăng dầu theo cơ chế
thị trường có sự quản lý của Nhà nước, tạo điều kiện hình thành môi
trường kinh doanh cạnh tranh thông qua việc mở rộng đối tượng chủ
thể kinh doanh xăng dầu.
Nghị định số 83/2014/NĐ-CP của Chính phủ về kinh doanh xăng
dầu được ban hành ngày 03/9/2014 và có hiệu lực thi hành từ ngày
01/11/2014. Trong quá trình thực hiện, thị trường xăng dầu trong
nước đã có nhiều chuyển biến tích cực, kinh doanh xăng dầu cơ bản
đã vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước.
2.1.2. Đánh giá pháp luật về điều kiện kinh doanh xăng dầu
của Việt Nam
- Tính toàn diện, đồng bộ: mỗi nhóm quy phạm có chức năng
riêng và giữa các quy phạm này nội dung không mâu thuẫn, chồng
công dân, minh bạch, không gây khó hiểu, nhầm lẫn.
- Tính khả thi: kịp thời giải quyết được nhiều vướng mắc cho
doanh nghiệp và phù hợp với nhịp độ phát triển của nền kinh tế. Tuy
nhiên, cần nhìn nhận, một số quy định về điều kiện kinh doanh xăng
dầu còn chưa thật sự phù hợp trong bối cảnh nền kinh tế.
- Trình độ kỹ thuật lập pháp: xét một cách tổng thể, đáp ứng
được tiêu chí về hình thức, ngữ nghĩa, phù hợp về nội dung, trình độ
lập pháp tương đối cao và giải quyết kịp thời những vấn đề bất cập
đã tồn tại trong thời gian dài trước đây của doanh nghiệp. Ngoài ra,
dựa vào nguyên tắc nhất quán, chỉ có Quốc hội, Ủy ban Thường vụ
17
Quốc hội và Chính phủ mới được ban hành quy định về điều kiện
kinh doanh.
- Mức độ tương đồng với pháp luật quốc tế: có phần chi tiết, rõ
ràng hơn đầy đủ và nhưng cũng thông thoáng hơn so với các nước
khác nhằm tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh và tích cực.
2.2. Thực hiện pháp luật về điều kiện kinh doanh xăng dầu
qua thực tiễn tại tỉnh Đồng Nai
2.2.1. Khái quát thị trường và tình hình kinh doanh xăng dầu ở
Việt Nam
Lĩnh vực phân phối xăng dầu hiện nay vẫn là một trong những
lĩnh vực được Nhà nước bảo hộ và chi phối. Số lượng các Doanh
nghiệp đầu mối được cấp phép phân phối và kinh doanh xăng dầu
hiện tại chỉ có 29 doanh nghiệp. Đặc biệt, lĩnh vực kinh doanh xăng
dầu hầu như chưa có sự xuất hiện của các đối thủ nước ngoài do quy
định pháp luật hiện hành. Thực hiện theo các quy định tại Nghị định
83/2014/NĐ- CP, các tổng đại lý và đại lý bán lẻ xăng dầu được tổ
chức và sắp xếp theo các Công ty đầu mối, từ đó hình thành tổ chức
đồng thời khoa học kỹ thuật phát triển cũng cho phép tạo ra những
máy móc chạy bằng các nguồn năng lượng khác.
- Những nhân tố khác:
+ Thị phần bị thu hẹp, khả năng tăng trưởng bị hạn chế, với quy
mô lớn và cạnh tranh ngày càng cao. Các doanh nghiệp kinh doanh
xăng dầu trong nước đã dần co hẹp thị phần.
+ Diễn biến giá dầu và tỷ giá là những yếu tố quyết định lên kết
quả kinh doanh.
Đồng Nai là tỉnh công nghiệp nằm trong vùng kinh tế trọng điểm
phía Nam, kết nối với ba vùng Đông Nam bộ, Nam Trung bộ và Tây
Nguyên, sát bên thành phố Hồ Chí Minh; diện tích là 5.907,2 km2.
Đồng Nai, từ kinh tế lệ thuộc nông nghiệp truyền thống, đã vươn lên
19
trở thành tỉnh có GDP bình quân đầu người cao so với cả nước. Hiện
nay Đồng Nai có tổng cộng 32 Khu Công nghiệp đang hoạt động.
Dự báo nhu cầu tiêu dùng xăng dầu tại địa bàn tỉnh Đồng Nai đến
năm 2020 sẽ tăng trưởng bình quân 7%/năm.
2.2.3. Tình hình ban hành văn bản cụ thể hóa và quản lý nhà
nước về điều kiện kinh doanh xăng dầu ở tỉnh Đồng Nai
Từ những năm 1995, UBND tỉnh Đồng Nai đã có chỉ đạo lập Qui
hoạch mạng lưới kinh doanh xăng dầu trên địa bàn tỉnh, phân bổ
thích hợp một cách tương đối giữa các điểm kinh doanh phân theo
từng khu vực. Ngoài ra, UBND tỉnh đã có một số quy định trong
công tác quản lý về mặt hoạt động của các thương nhân kinh doanh
xăng dầu như quy định về việc đăng ký, niêm yết và thực hiện thời
gian bán hàng tại các cửa hàng bán lẻ xăng dầu, quy định về yêu cầu
PCCC, an ninh trật tự, BVMT trong kinh doanh xăng dầu và các yêu
cầu đối với kiểm định chất lượng của các cột bơm xăng dầu.
Các văn bản kinh doanh xăng dầu đã dần được hoàn thiện, chặt
chẽ hơn.
Thể hiện sự tự do hoá các thành phần kinh tế tham gia vào thị
trường kinh doanh xăng dầu.
Cơ chế chính sách về kinh doanh xăng dầu đã tự do hơn như việc
cấp giấy phép kinh doanh xăng dầu đã dễ dàng hơn.
2.3.2. Khó khăn, vướng mắc và nguyên nhân
- Về điều kiện đối với chủ thể kinh doanh xăng dầu
Dù nhà đầu tư nước ngoài không được đầu tư vào lĩnh vực phân
phối xăng dầu nhưng lại có quyền trở thành cổ đông chiến lược của
một doanh nghiệp cung ứng xăng dầu hoặc nếu doanh nghiệp xăng
dầu lên sàn, nhà đầu tư nước ngoài vẫn có thể mua đến 49% cổ phần
và về vấn đề này, chúng ta vẫn chưa có phương án xử lý.
21
Hiện tại, Giấy đăng ký doanh nghiệp không còn thể hiện ngành,
nghề kinh doanh của doanh nghiệp mà những ngành, nghề kinh
doanh chủ yếu sẽ được cập nhật tại Cổng thông tin điện tử về đăng
ký doanh nghiệp của Chính phủ.
- Về phân bố mạng lưới cửa hàng xăng dầu: còn một số địa điểm
kinh doanh đã tồn tại có sẵn trước khi quy hoạch mà chưa có điều
kiện điều chỉnh.
- Về cơ sở vật chất kỹ thuật của hệ thống cửa hàng kinh doanh
xăng dầu: vẫn còn tồn tại một số lượng cửa hàng đa số của tư nhân
đầu tư theo qui mô gia đình, sử dụng các thiết bị xưa cũ, mặt bằng
sân bãi nhỏ hẹp, hạn chế các điều kiện phục vụ.
2.4. Định hướng hoàn thiện pháp luật về điều kiện kinh
doanh xăng dầu
về điều kiện kinh doanh xăng dầu từ đó điều chỉnh, sửa đổi các quy
định vẫn còn bất cập hoặc không thiết thực.
Thứ hai, trên cơ sở hoàn thiện pháp luật về điều kiện kinh doanh
xăng dầu cần bảo đảm tối đa quyền tự do kinh doanh của các chủ thể
kinh doanh theo tinh thần của Hiến pháp năm 2013.
Thứ ba, mở rộng phạm vi đối tượng điều chỉnh của pháp luật về
chủ thể kinh doanh xăng dầu, tạo cơ hội cho để các chủ thể khác
nhau có thể tham gia vào thị trường, nâng cao năng lực cạnh tranh và
thúc đẩy sự phát triển kinh tế.
Thứ tư, tăng cường các quy định, chế tài xử phạt đối với các
doanh nghiệp vi phạm pháp luật về điều kiện kinh doanh xăng dầu.
2.6. Các giải pháp thực hiện pháp luật về điều kiện kinh
doanh xăng dầu tại Việt Nam
2.6.1. Đẩy mạnh kiểm tra, giám sát đối với các doanh nghiệp
kinh doanh xăng dầu: cần tăng cường quản lý, thanh tra, kiểm tra,
giám sát chặt chẽ hoạt động kinh doanh xăng dầu; xây dựng kế
23