Điều kiện kinh doanh xăng dầu theo pháp luật Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Đồng Nai - Pdf 46

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

HOÀNG TÚ LÊ

ĐIỀU KIỆN KINH DOANH XĂNG DẦU THEO PHÁP
LUẬT VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN TỈNH ĐỒNG NAI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI, 2017


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .................................................................................................................... 1
Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ ĐIỀU KIỆN KINH DOANH XĂNG
DẦU ............................................................................................................................ 8
1.1. Khái niệm về điều kiện kinh doanh xăng dầu ............................................... 8
1.2. Lý do quy định điều kiện kinh doanh xăng dầu .......................................... 16
1.3. Nội dung điều kiện kinh doanh xăng dầu ................................................... 20
1.4. Các điều kiện cụ thể đối với hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực xăng
dầu ........................................................................................................................ 25
Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ ĐIỀU KIỆN KINH DOANH
XĂNG DẦU QUA THỰC TIỄN TỈNH ĐỒNG NAI VÀ GIẢI PHÁP HOÀN
THIỆN ...................................................................................................................... 33
2.1. Thực trạng quy định của pháp luật về điều kiện kinh doanh xăng dầu .... 33
2.2. Thực hiện pháp luật về điều kiện kinh doanh xăng dầu qua thực tiễn tại
tỉnh Đồng Nai ....................................................................................................... 40
2.3. Đánh giá thực trạng pháp luật và thực hiện pháp luật về điều kiện kinh
doanh xăng dầu.................................................................................................... 58

Tổng sản phẩm trên địa bàn

IEA

International Energy Agency (Cơ quan năng lượng quốc tế)

OPEC

Organization of Petroleum Export Countries (Tổ chức các nước
xuất khẩu dầu mỏ)

PCCC

Phòng cháy chữa cháy

Petrolimex

Tập đoàn xăng dầu Việt Nam

PV Oil

Tổng Công ty dầu Việt Nam

UBND

Ủy ban nhân dân

USD

đô la Mỹ

hiện nay, được xác định là ngành, nghề kinh doanh có điều kiện mà Nhà nước vừa
cần phải đảm bảo các nguyên tắc của nền kinh tế thị trường vừa phải điều tiết, bình
ổn để tránh những ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống kinh tế - xã hội. Hiện nay, thị
trường xăng dầu Việt Nam có 29 thương nhân đầu mối được phép xuất nhập khẩu,
kinh doanh xăng dầu và được dự báo còn tăng mạnh trong thời gian tới. Nghị định
83/2014/NĐ-CP mở ra khá nhiều điều kiện thông thoáng theo hướng thị trường
cạnh tranh, giúp các doanh nghiệp vừa và nhỏ có khả năng cạnh tranh về thị phần.
Nhà nước gần như giữ lại quyền điều hành giá và cho doanh nghiệp một mức lợi
nhuận cố định không bị chi phối bởi giá nguyên liệu đầu vào.
Hoạt động kinh doanh xăng dầu trong những năm qua dưới sự quản lý của
Nhà nước đã góp phần ổn định thị trường trong nước, thúc đẩy sản xuất phát triển
và ổn định đời sống nhân dân, kể cả trong điều kiện tình hình chính trị thế giới diễn
biến phức tạp. Ngày 26/11/2014, Quốc hội đã ban hành Luật doanh nghiệp năm

1


2014, được chính thức áp dụng từ ngày 1/7/2015 thay thế cho Luật Doanh nghiệp
2005 với nhiều đột phá trong thủ tục gia nhập thị trường cho nhà đầu tư. Đối với
các ngành, nghề kinh doanh có điều kiện, Luật đầu tư quy định 267 ngành, nghề tại
Phụ lục IV, đã giảm bớt 119 ngành, nghề so với Luật Doah nghiệp 2005 và từ ngày
01/01/2017, Luật sửa đổi, bổ sung đã giảm xuống chỉ còn 243 ngành, nghề kinh
doanh có điều kiện. Mặc dù đã giảm bớt nhưng với con số trên, danh mục ngành,
nghề kinh doanh có điều kiện vẫn được cho là quá nhiều so với các nước phát triển
trong cùng khu vực mà Việt Nam đã ký kết các Hiệp định song phương. Chính điều
này đã gây khó khăn nhiều cho các nhà đầu tư nói chung, làm ảnh hưởng tiêu cực
đến việc đăng ký kinh doanh (ĐKKD), tác động trực tiếp đến công cuộc cải cách
thủ tục hành chính và mâu thuẫn với quyền tự do kinh doanh được quy định trong
Hiến pháp. Bên cạnh đó, điều kiện kinh doanh được thể hiện dưới nhiều hình thức
khác nhau và khá phức tạp mà cụ thể là: Yêu cầu xác định vốn pháp định, Chứng

đang theo xu hướng phát triển nhanh chóng và theo đó, xuất hiện nhiều tồn tại, phức
tạp nhất định. Đây cũng chính là lý do tác giả lựa chọn đề tài “Điều kiện kinh
doanh xăng dầu theo pháp luật Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Đồng Nai” để làm đề
tài luận văn tốt nghiệp của mình.
2. Tình hình nghiên cứu
Thúc đẩy nền kinh tế phát triển luôn là ưu tiên hàng đầu của bất kỳ quốc gia
nào trên Thế giới và Việt Nam cũng không ngoại lệ. Đại hội lần thứ X của Đảng
Cộng sản Việt Nam đã nêu ra tính nguyên tắc trong thời kỳ công nghiệp hóa - hiện
đại hóa và hội nhập quốc tế của đất nước giai đoạn hiện nay là phải bảo đảm sự gắn
kết giữa nhiệm vụ phát triển kinh tế là trung tâm, xây dựng Đảng là then chốt và
phát triển văn hóa - nền tảng tinh thần của xã hội. Việt Nam coi các doanh nghiệp là
“trụ cột”, là “nền móng” của phát triển kinh tế và để thực hiện tốt mục tiêu này,
Đảng và Nhà nước luôn chú trọng xây dựng một môi trường kinh doanh lành mạnh,
cạnh tranh, cùng các cơ chế quản lý thông thoáng, tạo điều kiện tối đa cho các
Doanh nghiệp phát triển tiềm lực của mình.
Pháp luật và áp dụng pháp luật đối với quy định về ngành, nghề kinh doanh có điều
kiện là một vấn đề tương đối mới và vẫn đang trong giai đoạn hoàn thiện nhằm bắt kịp với
xu thế về nền kinh tế thị trường phát triển trên Thế giới. Về kinh nghiệm lập pháp cũng
như thực tiễn áp dụng pháp luật trong lĩnh vực này vẫn còn nhiều hạn chế và đang được

3


nhận được sự quan tâm nghiên cứu nhiều nhà khoa học. Cho đến nay, đã có một số nghiên
cứu, luận bàn đề cập đến vấn đề pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật liên quan đến
điều kiện kinh doanh và ngành, nghề kinh doanh có điều kiện. Cụ thể, bài viết của tác giả
Trần Huỳnh Thanh Nghị đăng trên Tạp chí Luật học số 4/2015 đã phân tích một số cải
cách thủ tục thành lập doanh nghiệp theo Luật doanh nghiệp 2014 trong việc cải thiện môi
trường thứ hạng kinh doanh của Việt Nam trong năm 2016, qua đó chỉ ra một số trở ngại
của Việt Nam trong thời gian tới, đó là tốc độ cải cách thủ tục thành lập doanh nghiệp vẫn

những nội dung liên quan đến các ngành, nghề kinh doanh có điều kiện theo Luật Doanh
nghiệp và Luật Đầu tư hiện hành, tuy nhiên, tìm hiểu, nghiên cứu cụ thể về điều kiện kinh
doanh xăng dầu, một trong những ngành, nghề kinh doanh có điều kiện trong bối cảnh hội
nhập kinh tế như hiện nay thì chưa có bài viết nào.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu làm rõ thực trạng quy định của pháp luật về điều kiện kinh
doanh xăng dầu ở nước ta hiện nay qua lăng kính thực hiện của một địa phương là
Đồng Nai, từ đó đề xuất giải pháp hoàn thiện chế định pháp luật này.
Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ những vấn đề chung mang tính lý thuyết về điều kiện kinh doanh
xăng dầu.
- Phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật; kết quả đã đạt được cũng như khó
khăn, vướng mắc trong thực tiễn thực hiện pháp luật về điều kiện kinh doanh xăng
dầu qua trường hợp tỉnh Đồng Nai.
- Đưa ra phương hướng, giải pháp hoàn thiện cũng như thực thi pháp luật về
điều kiện kinh doanh xăng dầu tại Việt Nam.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là pháp luật về điều kiện kinh doanh xăng dầu tại
Việt Nam.
Phạm vi nghiên cứu
Thực tiễn thực hiện pháp luật về điều kiện kinh doanh xăng dầu được đánh giá qua
thực tế ở tỉnh Đồng Nai từ năm 2014 đến nay (theo hiệu lực của Luật Doanh nghiệp và
Luật Đầu tư).
5


5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Phương pháp luận

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, phần chính của
Luận văn có 02 chương với những nội dung cơ bản như sau:
Chương 1: Khái quát chung về điều kiện kinh doanh xăng dầu.
Chương 2: Thực trạng pháp luật về điều kiện kinh doanh xăng dầu qua thực tiễn
tỉnh Đồng Nai và giải pháp hoàn thiện.

7


Chương 1
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ ĐIỀU KIỆN KINH DOANH XĂNG DẦU
1.1. Khái niệm về điều kiện kinh doanh xăng dầu
1.1.1. Khái niệm xăng dầu
Xăng dầu là tên chung để chỉ các sản phẩm của quá trình lọc dầu thô, dùng
làm nhiên liệu, bao gồm: Xăng động cơ, dầu điêzen, dầu hỏa, dầu ma-dút, nhiên liệu
bay; nhiên liệu sinh học và các sản phẩm khác dùng làm nhiên liệu động cơ, không
bao gồm các loại khí hóa lỏng và khí nén thiên nhiên [5]. Tùy theo công dụng, xăng
dầu được chia thành: các loại xăng, dầu hỏa thông dụng, nhiên liệu phản lực, nhiên
liệu diezel và dầu bôi trơn. Đặc điểm chung của nhóm sản phẩm này là dễ cháy, đặc
biệt khí nén ở áp suất cao chuyển thành thể khí. Khi cháy chúng phát sáng, thể tích
tăng đột ngột và sinh nhiệt.
Xăng dầu là một loại hàng hóa được sử dụng rất rộng rãi trong cuộc sống và
trong các ngành công nghiệp, được dùng để thắp sáng và tạo nhiệt (xăng, dầu hỏa,
nhiên liệu diezel, nhiên liệu phản lực). Xăng dầu dùng cho các loại động cơ đốt
trong, làm nhiêu liệu dùng cho động cơ nổ diezel, nhiên liệu dùng cho động cơ phản
lực. Nhóm dầu nhờn dùng trong các động cơ nổ với mục đích làm mát động cơ, bôi
trơn làm giảm ma sát cho các bộ phận và chi tiết chuyển động làm tăng tuổi thọ
thiết bị. Xăng dầu dùng làm dung môi trong nhiều ngành công nghiệp đặc biệt là
công nghiệp sơn do có khả năng hòa tan nhiều chất hữu cơ.


pháp về kỹ thuật, tổ chức quản lý trong quá trình kinh doanh xăng dầu.
Xăng dầu là một loại hoá chất độc hại đối với con người, là một hợp chất có
phản ứng hoá học mạnh, thường gây nên ô nhiễm môi trường. Vì vậy, quá trình
kinh doanh xăng dầu phải đặc biệt chú ý đến việc bảo vệ môi trường và cần phải có
các biện pháp phù hợp để hạn chế tối đa tác động tới môi trường.
Vai trò của xăng dầu được thể hiện ở những khía cạnh
- Đối với kinh tế
+ Xăng dầu là đầu vào quan trọng cho nhiều ngành sản xuất - kinh doanh
Muy-lơ đvanh-xi, nhà nghiên cứu xã hội Pháp đã nhận xét: “Thế kỷ XX nếu
không có dầu mỏ không ai có thể hình dung được diện mạo của thế giới sẽ như thế
nào, chỉ cần ngừng dòng chảy xăng dầu, cả thế giới sẽ ngừng hoạt động” [14]. Có
thể thấy, nguyên - nhiên liệu là một yếu tố thiết yếu trong giá thành của sản xuất,
kinh doanh của nền kinh tế. Khi giá xăng dầu có sự biến động, sẽ tác động đến giá
cả của các sản phẩm có liên quan và kéo theo sự tác động của các sản phẩm này đến
các sản phẩm khác trong một chuỗi quan hệ kinh tế hàng hóa. Xăng dầu tác động
một cách toàn diện đến tất cả các lĩnh vực của nền kinh tế, từ nông nghiệp, công
nghiệp đến thương mại, dịch vụ. Sản xuất càng phát triển, mức độ chuyên môn hoá,
hợp tác hoá diễn ra ngày càng mạnh mẽ sẽ dẫn đến giao lưu về hàng hoá với mức
độ ngày càng lớn và phạm vi ngày càng được mở rộng mà hiện nay nguồn cung cấp
nhiên liệu cho các phương tiện vận tải phục vụ cho giao lưu hàng hóa chủ yếu là
xăng dầu.

10


+ Xăng dầu là hàng hóa có giá trị đóng góp vào GDP của nhiều quốc gia, đặc
biệt thông qua hoạt động xuất khẩu
Từ khi dầu mỏ xuất hiện đã làm đảo lộn trật tự kinh tế thế giới, một số quốc
gia nghèo khó bỗng chốc trở nên giàu có nhờ nguồn dầu mỏ dồi dào dưới lòng đất
và ngoài khơi. C. Max từng cho rằng sự ra đời đầu máy hơi nước là mốc quan trọng

sống của nhân dân mà nó còn đặc biệt quan trọng trong lĩnh vực an ninh, quốc
phòng. Song song với việc trang bị các máy móc, thiết bị, khí tài thì việc cung cấp
xăng dầu, nguồn nhiên liệu chính để vận hành các phương tiện, thiết bị này cũng vô
cùng quan trọng. Xăng dầu là yếu tố bảo đảm việc phát huy sức mạnh chiến đấu và
khả năng phòng thủ bảo vệ đất nước. Trong thời chiến, phần lớn các xe tăng, máy
bay, tàu chiến,... không thể hoạt động nếu không có xăng dầu. Trong thời bình, xăng
dầu vẫn đóng vai trò quan trọng trong việc bảo dưỡng thiết bị, khí tài và luyện tập
sẵn sàng chiến đấu. Hầu như tất cả các quốc gia đều xác lập một cơ chế bảo đảm và
cung cấp xăng dầu riêng cho lĩnh vực an ninh, quốc phòng.
Tóm lại, trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, xăng dầu giữ một vị trí
đặc biệt quan trọng vì xăng dầu là yếu tố đầu vào quan trọng và là nguyên, nhiên
liệu chưa thể thay thế được của sản xuất; xăng dầu là năng lượng phục vụ dân sinh
và an ninh, quốc phòng [9, tr. 12]. Xăng dầu không chỉ là yếu tố bảo đảm cho các
hoạt động sản xuất và đời sống được tiến hành bình thường mà còn tham gia vào
việc tạo ra giá trị xã hội làm cho đời sống xã hội ngày càng được cải thiện. Dầu mỏ
nói chung và xăng dầu nói riêng từ khi xuất hiện cho đến ngày nay và cả nhiều năm
tiếp theo đã và sẽ còn là một sản phẩm chiến lược hàng đầu của các quốc gia. Do
đó, các quốc gia đều có chính sách, chiến lược và các biện pháp quản lý sản xuất,
kinh doanh và dự trữ xăng dầu.
1.1.2. Khái niệm kinh doanh xăng dầu
“Kinh doanh” là thuật ngữ được sử dụng rất phổ biến trong đời sống kinh tế
của các nước trên thế giới cũng như ở Việt Nam. Kinh doanh được giải thích trong
Luật Công ty năm 1990 và Luật Doanh nghiệp tư nhân năm 1990 là các hoạt động
nhằm tìm kiếm lợi nhuận thông qua việc mua, bán hàng hóa. Theo cách hiểu này thì
kinh doanh đồng nhất với khái niệm về thương mại được nêu trong Luật Thương
mại Việt Nam năm 1997.

12



13


xăng dầu và kinh doanh dịch vụ vận tải xăng dầu. Ngoài ra, có thể phân chia hoạt
động kinh doanh xăng dầu thành các nhóm như sau: nhóm hoạt động gia công, sản
xuất; nhóm hoạt động thương mại quốc tế (xuất nhập khẩu, tạm nhập, tái xuất,
chuyển khẩu); nhóm hoạt động thương mại nội địa (phân phối sản phẩm, cung cấp
các dịch vụ liên quan); nhóm hoạt động đầu tư trong nước và quốc tế. Các hoạt
động này, để được xem là hoạt động kinh doanh khi và chỉ khi được thực hiện với
mục đích lợi nhuận.
1.1.3. Điều kiện kinh doanh xăng dầu
Hiện thực hóa quyền tự do kinh doanh, Luật Doanh nghiệp năm 2014 và Luật
Đầu tư năm 2014 đã được xây dựng với phương thức tiếp cận theo hướng đơn giản
hóa điều kiện và thủ tục đăng ký kinh doanh, dỡ bỏ hàng loạt hạn chế, bất cập của
quy định cũ, mở rộng các nhóm quyền tự quyết, tự chủ trong hoạt động của doanh
nghiệp. Tại khoản 1 Điều 7 Luật Doanh nghiệp 2014 quy định doanh nghiệp có
quyền được “tự do kinh doanh trong những ngành, nghề mà luật không cấm” [22].
Quyền tự do kinh doanh được ghi nhận trong các văn bản pháp luật hiện hành cho
phép doanh nghiệp được quyền lựa chọn để kinh doanh tất cả các ngành, nghề; trừ
một số ngành, nghề có ảnh hưởng xấu đến an ninh quốc phòng, trật tự an toàn xã
hội, ảnh hưởng đến thuần phong mỹ tục được liệt kê trong danh mục ngành nghề
cấm kinh doanh.
Một số ngành, nghề liên quan đến môi trường, trật tự an toàn xã hội hoặc cần
phải tuân thủ những quy tắc nghề nghiệp chặt chẽ. Đối với những ngành, nghề đó,
pháp luật không cấm hoặc cản trở kinh doanh nhưng nhà nước kiểm soát chủ thể
kinh doanh bằng cách buộc họ phải đáp ứng một số điều kiện kinh doanh nhất định.
Để làm rõ khái niệm điều kiện kinh doanh, trước hết cần giải thích thuật ngữ “điều
kiện”. Theo Từ điển Tiếng Việt, điều kiện là “cái cần phải có để cho một cái khác
có thể có hoặc có thể xảy ra” [16, tr. 383]. Điều kiện chính là yếu tố tiên quyết,
mang tính quyết định đối với sự xuất hiện của một sự vật, sự việc nào đó.

Chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp; 5) Xác nhận vốn pháp định; 6)
Các hình thức văn bản khác theo quy định của pháp luật ngoài các hình thức điều
kiện trên; 7) Các điều kiện mà cá nhân, tổ chức kinh tế phải đáp ứng để thực hiện
hoạt động đầu tư kinh doanh mà không cần phải có xác nhận, chấp thuận dưới các
hình thức văn bản”.

15


Thông qua các chế định pháp luật về điều kiện kinh doanh, Nhà nước có thể
điều tiết được hoạt động sản xuất - kinh doanh, giữ được sự phát triển ổn định và
bền vững cho nền kinh tế bằng cách đề ra các chính sách, cơ chế nhằm tạo điều kiện
ưu đãi để một ngành, nghề nào đó phát triển hoặc hạn chế sự phát triển của một số
ngành, nghề.
Từ khái niệm về điều kiện kinh doanh như đã phân tích, có thể hiểu “Điều kiện
kinh doanh xăng dầu là yêu cầu do pháp luật quy định mà chủ thể kinh doanh xăng
dầu trước và trong khi kinh doanh phải đáp ứng khi kinh doanh xăng dầu”.
Theo định nghĩa trên, điều kiện thành kinh doanh xăng dầu là những yêu cầu
được quy định trong các văn bản pháp luật, đặc biệt trong các đạo luật. Cũng chính
vì được quy định bằng pháp luật nên những điều kiện này có tính áp dụng bắt buộc
đối với tất cả các doanh nghiệp khi tham gia vào thị trường kinh doanh xăng dầu.
Pháp luật quy định điều kiện kinh doanh xăng dầu gồm những nhóm điều kiện về
chủ thể kinh doanh xăng dầu; về hình thức kinh doanh xăng dầu; về địa điểm kinh
doanh xăng dầu; về vốn kinh doanh xăng dầu; về phòng cháy, chữa cháy và các
điều kiện khác.
1.2. Lý do quy định điều kiện kinh doanh xăng dầu
Hiến pháp 2013 đã thừa nhận quyền tự do kinh doanh là quyền con người và
là một trong những quyền cơ bản của công dân, tại Điều 33 quy định “Mọi người có
quyền tự do kinh doanh trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm” [18].
Đối với việc kinh doanh trong một số ngành, nghề nhất định, mặc dù trên tinh thần

mà các quốc gia đều có một chiến lược riêng về khai thác, chế biến, xuất nhập khẩu,
dự trữ và kinh doanh xăng dầu. Thực tế cho thấy, các quan hệ ngoại giao và chính
sách ngoại giao của các nước có nền kinh tế phát triển luôn có ảnh hưởng sâu sắc
đến việc xuất, nhập khẩu xăng dầu. Là một mặt hàng chiến lược và cần thiết, đối
với tất cả các quốc gia, đặc biệt là các nước có tiềm lực thương mại quốc tế, mặt
hàng xăng dầu luôn sử dụng như một quân cờ chủ lực trong các quan hệ kinh tế chính trị quốc tế.
- Kinh doanh xăng dầu ở Việt Nam còn có đặc điểm là kinh doanh hàng hoá
nhập khẩu. Việt Nam là nước nhập khẩu phần lớn xăng dầu cho nhu cầu trong nước
nên không tránh khỏi những tác động mạnh mẽ hoặc liên tục của thị trường xăng
dầu thế giới. Năm 2015, tổng lượng nhập khẩu xăng dầu của cả nước là 10.039

17


ngàn tấn bằng 119,6 % so với năm 2014; giá trị nhập khẩu xăng dầu là 5,523 tỷ
USD. Xét trên góc độ toàn bộ nền kinh tế, Việt Nam đang chịu thua thiệt khi phải
xuất khẩu dầu thô và nhập khẩu xăng dầu. Theo thống kê của Tổng cục Hải quan,
Việt Nam chủ yếu nhập khẩu 05 nhóm mặt hàng chủ yếu từ thị trường các nước
ASEAN, trong đó chiếm tỷ trọng cao nhất là mặt hàng xăng dầu các loại. Năm
2016, Việt Nam nhập khẩu từ ASEAN đạt kim ngạch 3,48 tỷ USD; tăng 30,9% so
với năm 2005. Tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2005-2010 là 2,8%; giai
đoạn 2011-2016 là 2,2% [39]. Vì là hàng hoá phải nhập khẩu phần lớn nên trong
hoạt động kinh doanh luôn phải chú ý các vấn đề về xác định nguồn nhập và cơ cấu
hàng nhập hợp lý; xác định tiến độ, cơ cấu, khối lượng nhập từng thời gian hợp lý
và sử dụng nguồn vốn nhập hiệu quả; phân phối nguồn nhập hợp lý theo các vùng
khác nhau để tiết kiệm chi phí vận chuyển, giảm hao hụt và nâng cao lợi nhuận kinh
doanh.
Hiện nay, giá xăng dầu trong nước đã hoàn toàn tuân theo cơ chế thị trường
và có sự quản lý của Nhà nước. Trước diễn biến của giá dầu thế giới, giá xăng dầu
trong nước cũng có những biến động phù hợp với xu thế nhưng mức tăng/giảm khác

toàn, ổn định trật tự của toàn xã hội mà pháp luật cần phải quy định các điều kiện để
các chủ thể có thể tham gia vào thị trường kinh doanh xăng dầu, tạo nên sự cần
bằng, ổn định, giảm thiểu rủi ro cho thị trường và đảm bảo cho môi trường cạnh
tranh lành mạnh. Chính vì vậy sự chặt chẽ, đầy đủ, rõ ràng trong các quy định của
pháp luật luôn đảm bảo tính hợp pháp cho các mối quan hệ phát sinh trong các lĩnh
vực doanh nghiệp.
- Về mặt tài sản, khi thực hiện bất cứ hoạt động kinh doanh nào dù quy mô lớn
hay nhỏ nhà đầu tư cũng cần có tài sản nhất định để đầu tư cơ sở vật chất cần thiết.
Biểu hiện hình thái giá trị của các tài sản đó chính là vốn của doanh nghiệp [13, tr.
6]. Đây cũng là một trong những điều kiện có tính tiên quyết khi tham gia vào thị
trường kinh doanh xăng dầu. Vốn của doanh nghiệp có ý nghĩa quan trọng cả về
mặt pháp lý và mặt kinh tế, thể hiện giá trị toàn bộ tài sản và các nguồn lực của
doanh nghiệp trong hoạt động kinh doanh mà mặt hàng xăng dầu là ngành đặc thù
cần đủ năng lực tài chính cho sự vận động và phát triển. Vốn kinh doanh có vai trò
quyết định trong việc thành lập, hoạt động, phát triển của doanh nghiệp, là một
trong những tiềm năng quan trọng để doanh nghiệp sử dụng hiệu quả các nguồn lực

19


hiện có và trong tương lai về sức lao động, nguồn cung ứng hàng hoá, mở rộng,
phát triển thị trường, mở rộng lưu thông hàng hoá [13, tr. 11].
- Pháp luật khi đặt ra điều kiện kinh doanh xăng dầu nhằm giữ gìn trật tự xã
hội, bảo vệ lợi ích của công dân và tạo sự bình đẳng giữa các doanh nghiệp với
nhau. Mặc dù nhà nước khuyến khích mọi công dân sử dụng quyền tự do kinh
doanh của mình và có rất nhiều chính sách ưu đãi với doanh nghiệp nhưng chỉ áp
dụng với doanh nghiệp hoạt động hợp pháp và đáp ứng các điều kiện quy định, hạn
chế thấp nhất nguy cơ gây ra đảo lộn trật tự xã hội, xâm phạm quyền con người và
thiệt hại kinh tế quốc gia. Giữa nội bộ các doanh nghiệp với nhau cũng cần có một
sự bình đẳng nhất định đó là không phân biệt doanh nghiệp trong nước hay nước

xăng dầu. Tuy nhiên, như vậy không có nghĩa các điều kiện này sẽ hoàn toàn khác
nhau ở mỗi quốc gia, mỗi nền lập pháp mà trái lại, luôn sẽ có những khung điều
kiện nhất định tương tự nhau. Các ngành, nghề hoặc lĩnh vực kinh doanh có điều
kiện luôn phải đáp ứng những quy định về mặt chủ thể; hình thức kinh doanh; địa
điểm kinh doanh; vốn; yêu cầu đáp ứng các tiêu chuẩn cơ sở vật chất, kỹ thuật và
trình độ chuyên môn; đồng thời, một số ngành nghề kinh doanh còn phải đáp ứng
được yêu cầu BVMT và PCCC trong sản xuất - kinh doanh.
Nhìn chung, các quy định pháp luật tuy có một số khác biệt qua các thời kỳ
nhưng thường cấu thành bởi những yếu tố:
- Điều kiện đối với chủ thể kinh doanh xăng dầu:
“Doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật, trong Giấy chứng
nhận đăng ký doanh nghiệp có đăng ký kinh doanh xăng dầu” [5]. Đây là điều kiện
chung về mặt chủ thể, áp dụng cho tất cả các hình thức kinh doanh xăng dầu theo
quy định tại Nghị định số 83/2014/NĐ-CP. Theo đó, doanh nghiệp kinh doanh xăng
dầu “phải là thương nhân Việt Nam theo quy định của Luật Thương mại” [5]. Có
thể thấy, đây là điều kiện có những thay đổi rõ rệt nhất, ứng với các thời kỳ kinh tế xã hội ở Việt Nam. Trước đây, nếu kinh doanh xăng dầu là ngành kinh doanh độc
quyền của Nhà nước và chỉ có Công ty Nhà nước mới được quyền kinh doanh xăng
dầu thì hiện nay, đã cho phép các thành phần kinh tế khác nhau có thể gia nhập vào
thị trường kinh doanh xăng dầu ở các hình thức kinh doanh khác nhau. Tuy đã mở

21


rộng về mặt chủ thể nhưng pháp luật vẫn quy định chủ thể trong kinh doanh xăng
dầu phải là thương nhân Việt Nam theo quy định của Luật Thương mại.
Theo quy định của Luật Thương mại 2005, tại Điều 6, Thương nhân bao gồm
“tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách
độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh” [21]. Bên cạnh đó, theo khoản 4
Điều 16 Luật Thương mại 2005 thì Thương nhân Việt Nam được định nghĩa như
sau: [21] “Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được thương nhân nước ngoài


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status