TÀI LIỆU ÔN THI
KIẾN THỨC CHUYÊN NGÀNH
(DÙNG CHO TUYỂN VIÊN CHỨC GIẢNG DẠY TIỂU HỌC)
I. Kế hoạch bài dạy ( Giáo án)
1. Các bước thiết kế một giáo án
- Bước 1: Xác định mục tiêu của bài học căn cứ vào chuẩn kiến thức, kĩ năng và yêu cầu
về thái độ trong chương trình. Bước này được đặt ra bởi việc xác định mục tiêu của bài
học là một khâu rất quan trọng, đóng vai trò thứ nhất, không thể thiếu của mỗi giáo án.
Mục tiêu (yêu cầu) vừa là cái đích hướng tới, vừa là yêu cầu cần đạt của giờ học; hay nói
khác đó là thước đo kết quả quá trình dạy học. Nó giúp GV xác định rõ các nhiệm vụ sẽ
phải làm (dẫn dắt HS tìm hiểu, vận dụng những kiến thức, kỹ năng; phạm vi, mức độ đến
đâu; qua đó giáo dục cho HS những bài học gì).
- Bước 2: Nghiên cứu SGK và các tài liệu liên quan để: hiểu chính xác, đầy đủ những
nội dung của bài học; xác định những kiến thức, kỹ năng, thái độ cơ bản cần hình thành
và phát triển ở học sinh; xác định trình tự logic của bài học.
Bước này được đặt ra bởi nội dung bài học ngoài phần được trình bày trong SGK
còn có thể đã được trình bày trong các tài liệu khác. Trước hết nên đọc kĩ nội dung bài
học và hướng dẫn tìm hiểu bài trong SGK để hiểu, đánh giá đúng nội dung bài học rồi
mới chọn đọc thêm tư liệu để hiểu sâu, hiểu rộng nội dung bài học. Mỗi GV không chỉ có
kỹ năng tìm đúng, tìm trúng tư liệu cần đọc mà cần có kỹ năng định hướng cách chọn,
đọc tư liệu cho học sinh. GV nên chọn những tư liệu đã qua thẩm định, được đông đảo
các nhà chuyên môn và GV tin cậy. Việc đọc SGK, tài liệu phục vụ cho việc soạn giáo án
có thể chia thành 3 cấp độ sau: đọc lướt để tìm nội dung chính xác định những kiến thức,
kỹ năng cơ bản, trọng tâm mức độ yêu cầu và phạm vi cần đạt; đọc để tìm những thông
tin quan tâm: các mạch, sự bố cục, trình bày các mạch kiến thức, kỹ năng và dụng ý của
tác giả; đọc để phát hiện và phân tích, đánh giá các chi tiết trong từng mạch kiến thức, kỹ
năng.
Thực ra khâu khó nhất trong đọc SGK và các tư liệu là đúc kết được phạm vi,
mức độ kiến thức, kỹ năng của từng bài học sao cho phù hợp với năng lực của học sinh
và điều kiện dạy học. Trong thực tế dạy học, nhiều khi chúng ta thường đi chưa tới hoặc
vào những tình huống khác nhau trong học tập và trong thực tiễn; tác động đến tư tưởng
và tình cảm để đem lại niềm vui, hứng thú trong học tập cho học sinh. Trong thực tiễn
dạy học hiện nay, các GV vẫn quen với lối dạy học đồng loạt với những nhiệm vụ học
tập không có tính phân hoá, ít chú ý tới năng lực học tập của từng đối tượng học sinh.
Đổi mới phương pháp dạy học sẽ chú trọng cải tiến thực tiễn này, phát huy thế mạnh
tổng hợp của các phương pháp, phương tiện dạy học, hình thức tổ chức dạy học và cách
thức đánh giá nhằm tăng cường sự tích cực học tập của các đối tượng học sinh trong giờ
học.
- Bước 5: Thiết kế giáo án.
Đây là bước người GV bắt tay vào soạn giáo án - thiết kế nội dung, nhiệm vụ,
cách thức hoạt động, thời gian và yêu cầu cần đạt cho từng hoạt động dạy của GVvà hoạt
động học tập của học sinh.
2. Cấu trúc giáo án
Tiết thứ:................... Tên bài .............................................................
Ngày soạn:..............
A. Mục tiêu: 1. Kiến thức
2. Kỹ năng
3. Thái độ
B. Chuẩn bị của GV, HS (tài liệu, phương tiện, thiết bị... )
1. Chuẩn bị của GV:
2. Chuẩn bị của HS:
C. Phương pháp – Phương tiện
D. Tiến trình dạy học:
* HOẠT ĐỘNG 1: Khởi động
1. Ổn định lớp
2. Kiểm tra bài cũ
3. Bài mới (Giới thiệu)
*HOẠT ĐỘNG 2: Hình thành kiến thức
*HOẠT ĐỘNG 3: Luyện tập
* HOẠT ĐỘNG 4: Vận dụng
GV hướng dẫn HS củng cố, khắc sâu những KT, KN, thái độ đã có thông qua hoạt động
thực hành luyện tập có tính tổng hợp, nâng cao theo những hình thức khác nhau.
d. Đánh giá
- Trên cơ sở đối chiếu với mục tiêu bài học, GV dự kiến một số câu hỏi, bài tập và tổ
chức cho HS tự đánh giá về kết quả học tập của bản thân và của bạn.
- GV đánh giá, tổng kết về kết quả giờ học.
e. Hướng dẫn HS học bài, làm việc ở nhà
- GV hướng dẫn HS luyện tập, củng cố bài cũ (thông qua làm bài tập, thực hành, thí
nghiệm,...).
- GV hướng dẫn HS chuẩn bị bài học mới.
II. Phương pháp dạy học tích cực
1. Phương pháp dạy học tích cực là gì?
PPDH tích cực là một thuật ngữ để chỉ những phương pháp giáo dục, dạy học
theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học.
"Tích cực" trong PPDH - tích cực được dùng với nghĩa là hoạt động, chủ động, trái nghĩa
với không hoạt động, thụ động chứ không dùng theo nghĩa trái với tiêu cực.
2. Những dấu hiệu nào biểu hiện tính tích cực nhận thức?
Tính tích cực nhận thức thể hiện ở những dấu hiệu sau:
- Hăng hái trả lời các câu hỏi của giáo viên.
- Bổ sung các câu trả lời của bạn.
- Thích phát biểu ý kiến của mình trước vấn đề nêu ra.
3
- Hay nêu thắc mắc, đòi hỏi giải thích cặn kẽ những vấn đề chưa đủ rõ.
- Chủ động vận dụng kiến thức, kỹ năng đã học để nhận thức vấn đề mới.
- Tập trung chú ý vào vấn đề đang học.
- Kiên trì hoàn thành các bài tập, không nản trước những tình huống khó khăn…
3. PPDH truyền thống và PPDH tích cực khác nhau như thế nào?
PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
ý, kiểm tra, thi cử linh hoạt, gắn với thực tiễn.
10) HS không có cơ hội bày tỏ nguyện 10) HS có cơ hội bày tỏ nguyện vọng và tham
vọng, tham gia tranh luận.
gia tranh luận.
11) …
11) …
4. Đặc trưng của các PPDH tích cực
a. Dạy và học thông qua tổ chức các hoạt động học tập của HS
Trong PPDH tích cực, người học - đối tượng của hoạt động "dạy", đồng thời là chủ
thể của hoạt động "học":
- Được cuốn hút vào các hoạt động học tập do GVtổ chức và chỉ đạo, thông qua đó
tự lực khám phá những điều mình chưa rõ.
- Được đặt vào những tình huống của đời sống thực tế, người học trực tiếp quan sát, thảo
luận, làm thí nghiệm, giải quyết vấn đề đặt ra theo cách suy nghĩ của mình.
- Được bộc lộ và phát huy tiềm năng sáng tạo.
Dạy theo cách này thì GVkhông chỉ giản đơn truyền đạt tri thức mà còn hướng dẫn
hành động (dạy cách học).
b. Dạy và học chú trọng rèn luyện phương pháp tự học
- Phương pháp tích cực xem việc rèn luyện phương pháp học tập cho HS không chỉ
là một biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học mà cc̣n là một mục tiêu dạy học.
4
- Sự bùng nổ thông tin, khoa học, kỹ thuật khiến chúng ta không thể nhồi nhét vào
đầu óc HS khối lượng kiến thức ngày càng nhiều mà đòi hỏi phải quan tâm dạy cho HS
PP học.
- Trong các phương pháp học thì cốt lõi là phương pháp tự học. Vì vậy, ngày nay
người ta nhấn mạnh mặt hoạt động học trong quá trình dạy học, tạo ra sự chuyển biến từ
học tập thụ động sang tự học chủ động: tự học ở nhà sau bài lên lớp; tự học trong tiết học
có sự hướng dẫn của giáo viên.
+ Khẳng định hay bác bỏ giả thuyết nêu ra;
+ Phát biểu kết luận;
+ Đề xuất vấn đề mới.
b. Các mức trình độ đặt và giải quyết vấn đề
Có thể phân biệt bốn mức trình độ đặt và giải quyết vấn đề:
5
- Mức 1: GV đặt vấn đề, nêu cách giải quyết vấn đề. HS thực hiện cách giải quyết
vấn đề theo hướng dẫn của giáo viên. GV đánh giá kết quả làm việc của HS.
- Mức 2: GV nêu vấn đề, gợi ý để HS tìm ra cách giải quyết vấn đề. HS thực hiện
cách giải quyết vấn đề với sự giúp đỡ của GV khi cần. GV và HS cùng đánh giá.
- Mức 3: GV cung cấp thông tin tạo tình huống có vấn đề. HS phát hiện và xác định
vấn đề nảy sinh, tự đề xuất các giả thuyết và lựa chọn giải pháp. HS thực hiện cách giải
quyết vấn đề. GV và HS cùng đánh giá.
- Mức 4: HS tự lực phát hiện vấn đề nảy sinh trong hoàn cảnh của mình hoặc cộng
đồng, lựa chọn vấn đề giải quyết. HS giải quyết vấn đề, tự đánh giá chất lượng, hiệu quả,
có ý kiến bổ sung của GV khi kết thúc.
Trong dạy học theo phương pháp đặt và giải quyết vấn đề, HS vừa nắm được tri
thức mới, vừa nắm được phương pháp lĩnh hội tri thức đó, phát triển tư duy tích cực,
sáng tạo, chuẩn bị năng lực thích ứng với đời sống xã hội, phát hiện kịp thời và giải
quyết hợp lý các vấn đề nảy sinh.
5.2. Phương pháp hoạt động nhóm (cùng tham gia)
a. Khái niệm
Hoạt động nhóm là phương pháp tổ chức hoạt động học của HS bằng cách chia lớp
học thành từng nhóm. Tuỳ mục đích, yêu cầu của vấn đề học tập, các nhóm được phân
chia ngẫu nhiên hay có chủ định, được duy trì ổn định hay thay đổi trong từng phần của
tiết học, được giao cùng một nhiệm vụ hay những nhiệm vụ khác nhau.
b. Các cách chia nhóm
- Theo số điểm danh.
3/ Tổng kết trước lớp:
+ Các nhóm lần lượt báo cáo kết quả.
+ Thảo luận chung.
+ GV tổng kết, đặt vấn đề cho bài tiếp theo, hoặc vấn đề tiếp theo trong bài.
e. Ưu điểm của PP tổ chức hoạt động nhóm
- Giúp các thành viên trong nhóm chia sẻ các băn khoăn, kinh nghiệm của bản thân,
cùng nhau xây dựng nhận thức mới.
- Bài học trở thành quá trình học hỏi lẫn nhau.
g. Hạn chế của PP tổ chức hoạt động nhóm
- Đòi hỏi không gian lớp học phải rộng.
- Đòi hỏi thời gian nhiều.
- GVphải biết tổ chức hợp lý, HS quen với phương pháp này thì mới có kết quả.
h. Yêu cầu
- Tư duy tích cực của HS phải được phát huy.
- Phải rèn luyện năng lực hợp tác giữa các thành viên trong tổ chức lao động.
- Tránh khuynh hướng hình thức và đề phòng lạm dụng, cho rằng tổ chức hoạt động
nhóm là dấu hiệu tiêu biểu nhất của đổi mới PPDH và hoạt động nhóm càng nhiều thì
chứng tỏ PPDH càng đổi mới.
5.3. Phương pháp đóng vai
a. Khái niệm
Đóng vài là phương pháp tổ chức cho HS thực hành một số cách ứng xử nào đó
trong một tình huống giả định.
b. Ưu điểm
- HS được rèn luyện thực hành những kỹ năng ứng xử và bày tỏ thái độ trong môi
trường an toàn trước khi thực hành trong thực tiễn.
- Gây hứng thú và chú ý cho HS
- Tạo điều kiện làm nảy sinh óc sáng tạo của HS
- Khích lệ sự thay đổi thái độ, hành vi của HS theo chuẩn mực hành vi đạo đức và
chính trị - xã hội.
- Có thể thấy ngay tác động và hiệu quả của lời nói hoặc việc làm của các vai diễn.
- Liệt kê tất cả các ý kiến phát biểu đưa lên bảng hoặc giấy khổ to, không loại trừ
một ý kiến nào, trừ trường hợp trùng lặp.
- Phân loại ý kiến.
- Làm sáng tỏ những ý kiến chưa rõ ràng và thảo luận sâu từng ý.
5.5. Phương pháp trò chơi
a. Khái niệm
Trò chơi là phương pháp tổ chức hoạt động trò chơi cho HS để giải quyết một hoặc
một số nội dung bài học. Phương pháp trò chơi thu hút được nhiều HS vào học tập, tạo
sự chú ý cho tất cả HS, có khả năng gây hứng thú và lây lan hứng thú học tập đến mọi
HS.
b. Cách tiến hành
- Nêu yêu cầu, ý nghĩa, tác dụng.
- Phổ biến luật chơi, cách tính điểm, khen thưởng,…
- Quán triệt tinh thần, thái độ.
- Tổ chức, phân công.
- Tiến hành hoạt động chơi.
- Công bố kết quả, nhận xét, đánh giá, khen thưởng.
c. Các phương pháp trò chơi
1/ Trò chơi ghép hình: lựa chọn các mảnh ghép để hoàn thành một hình nào đó mà
việc lựa chọn phải dựa vào sự trả lời các câu hỏi.
2/ Trò chơi mở mảnh ghép: Mỗi nhóm hoàn thành một nhiệm vụ tìm hiểu vấn đề
nào đó của bài học thì mảnh ghép lựa chọn được mở ra.
8
3/ Trò chơi ô chữ: để đoán được các chữ trong các ô hàng nganh, các đội chơi phải
giải quyết các câu hỏi tương ứng.
4/ Trò chơi xanh - đỏ: mỗi đội được phát hai lá cờ: xanh và đỏ. Các đội chơi lựa
chọn các phương án trả lời cho các câu hỏi đúng - sai để đem về số cờ đỏ nhiều nhất
(đúng) và số cờ xanh ít nhất (sai).
hoàn chỉnh.
+ Những học sinh có mảnh cắt của cùng một bức hình sẽ tạo thành một nhóm.
- Chia nhóm theo sở thích: giáo viên có thể chia học sinh thành các nhóm có cùng
sở thích để các em có thể cùng thực hiện một công việc yêu thích hoặc biểu đạt kết quả
công việc của nhóm dưới các hình thức phù hợp với sở trường của các em (nhóm họa sĩ,
nhóm nhà thơ, nhóm hùng biện…)
- Chia nhóm theo tháng sinh: các học sinh có cùng tháng sinh sẽ làm thành một
nhóm. Ngoài ra còn có nhiều cách chia nhóm khác như: nhóm cùng trình độ, nhóm hỗn
hợp, nhóm theo giới tính…
2. Kĩ thuật giao nhiệm vụ
9
- Giao nhiệm vụ phải cụ thể và rõ ràng:
+ Giao nhiệm vụ cho cá nhân, nhóm nào?
+ Nhiệm vụ là gì?
+ Địa điểm thực hiện nhiệm vụ ở đâu?
+ Thời gian thực hiện nhiệm vụ là bao nhiêu?
+ Phương tiện thực hiện nhiệm vụ là gì?
+ Sản phẩm cuối cùng cần có là gì?
+ Cách trình bày đánh giá sản phẩm như thế nào?
- Nhiệm vụ phải phù hợp với: mục tiêu hoạt động, trình độ học sinh, thời gian,
không gian hoạt động và cơ sở vật chất, trang thiết bị.
3. Kĩ thuật đặt câu hỏi
- Trong dạy học theo phương pháp cùng tham gia, giáo viên thường phải sử dụng
câu hỏi để gợi mở, dẫn dắt học sinh tìm hiểu, khám phá thông tin, kiến thức, kỹ năng
mới, để đánh giá kết quả học tập của học sinh. Học sinh cũng phải sử dụng các câu hỏi
để hỏi lại, hỏi thêm giáo viên và các học sinh khác về những nội dung bài học chưa sáng
tỏ.
- Sử dụng câu hỏi có hiệu quả đem lại sự hiểu biết lẫn nhau giữa giáo viên - học sinh
- Học sinh được chia thành các nhóm, mỗi nhóm được giao giải quyết một nhiệm
vụ khác nhau. (Ví dụ: nhóm 1 thảo luận câu A, nhóm 2 thảo luận câu B, nhóm 3 thảo
luận câu C, nhóm 4 thảo luận câu D…)
- Sau khi các nhóm thảo luận và ghi kết quả thảo luận vào tờ giấy A0 xong, các
nhóm sẽ luân chuyển giấy A0 ghi kết quả thảo luận cho nhau. Cụ thể là nhóm 1 chuyển
cho nhóm 2, 2 chuyển cho nhóm 3, 3 chuyển cho nhóm 4, 4 chuyển cho nhóm 1…
- Các nhóm đọc và bổ sung ý kiến cho nhóm bạn. Sau đó lại tiếp tục luân chuyển
kết quả cho nhóm tiếp theo và nhận tiếp kết quả từ 1 nhóm khác để góp ý.
- Cứ như vậy, cho đến khi các nhóm đã nhận lại được tờ giấy A0 của nhóm mình
cùng với các ý kiến góp ý của nhóm khác. Từng nhóm sẽ xem và xử lý các ý kiến của
các bạn để hoàn thiện lại kết quả thảo luận của nhóm. Sau khi hoàn thiện xong, nhóm sẽ
treo kết quả thảo luận trên tường lớp học.
6. Kĩ thuật các “mảnh ghép”
- Học sinh được phân thành các nhóm, sau đó giáo viên phân công cho mỗi
nhóm thảo luận, tìm hiểu sâu về một vấn đề của bài học. Chẳng hạn: nhóm 1 thảo luận
vấn đề A, nhóm 2 thảo luận vấn đề B, nhóm 3 thảo luận vấn đề C, nhóm 4 thảo luận vấn
đề D…
- Học sinh thảo luận nhóm về vấn đề đã được phân công.
- Sau đó mỗi thành viên của các nhóm này sẽ tập hợp lại thành nhóm mới sẽ có
đủ các chuyên gia về vấn đề A, B, C, D… và mỗi chuyên gia về từng vấn đề sẽ có trách
nhiệm trao đổi lại với cả nhóm về vấn đề mà em đã có cơ hội tìm hiểu sâu ở nhóm cũ.
7. Kĩ thuật động não
- Động não là kĩ thuật giúp cho học sinh trong một thời gian ngắn nảy sinh được
nhiều ý tưởng mới mẻ, độc đáo về một chủ đề nào đó, các thành viên được cổ vũ tham
gia một cách tích cực không hạn chế các ý tưởng (nhằm tạo ra cơn lốc các ý tưởng).
- Động não thường được:
+ Dùng trong giai đoạn giới thiệu vào một chủ đề.
+ Sử dụng để tìm các phương án giải quyết vấn đề.
+ Dùng để thu thập các khả năng lựa chọn và suy nghĩ khác nhau.
- Động não có thể tiến hành theo các bước sau:
Bước 1: Xác định mục tiêu, xây dựng kế hoạch bài học nghiên cứu
Giáo viên (GV) cần xác định mục tiêu kiến thức và kỹ năng mà học sinh (HS) cần
đạt được khi tiến hành nghiên cứu (theo chuẩn kiến thức, kỹ năng ở từng môn
học), đảm bảo phù hợp với trình độ của HS, năng lực chuyên môn của GV.
Các GV trong tổ thảo luận chi tiết về thể loại bài học, nội dung bài học, các
phương pháp, phương tiện dạy học đạt hiệu quả cao, cách tổ chức dạy học phân
hóa theo năng lực của học sinh, cách rèn kỹ năng, hướng dẫn học sinh vận dụng
kiến thức đã học để giải quyết tình huống thực tiễn...
Dự kiến những thuận lợi, khó khăn của HS khi tham gia các hoạt động học tập và
các tình huống xảy ra và cách xử lý (nếu có)…
Tổ trưởng chuyên môn (TTCM) giao cho GV trong nhóm soạn giáo án của bài học
nghiên cứu, trao đổi với các thành viên trong tổ để chỉnh sửa lại giáo án. Các thành
viên khác có nhiệm vụ xây dựng kế hoạch chi tiết cho việc quan sát và thảo luận
sau khi tiến hành bài học nghiên cứu.
Bước 2. Tiến hành bài giảng minh họa (BGMH) và dự giờ
Sau khi hoàn thành giáo án của bài học nghiên cứu chi tiết, một GV sẽ dạy minh
họa bài học nghiên cứu (BGMH) ở một lớp học cụ thể, các GV còn lại trong nhóm
tiến hành dự giờ và ghi chép thu thập dữ kiện về bài học.
GV dự giờ phải đảm bảo nguyên tắc: Không làm ảnh hưởng đến việc học tập của
học sinh; không gây khó khăn cho giáo viên dạy minh họa; khi dự giờ phải tập
trung vào việc học của học sinh, cách phản ứng của học sinh trong giờ học, cách
làm việc nhóm HS, những khó khăn vướng mắc, thái độ tình cảm của học sinh...
Quan sát tất cả đối tượng học sinh, không được “bỏ rơi” một HS nào.
GV cần từ bỏ thói quen đánh giá giờ qua hoạt động của GV dạy, người dự cần học
tập, hiểu và thông cảm với khó khăn của người dạy. Đặt mình vào vị trí của người
dạy để phát hiện những khó khăn trong việc học của HS để tìm cách giải quyết.
Luyện tập cách quan sát và suy nghĩ về việc học của HS trong giờ học, có khả
năng phán đoán nhanh nhạy, chính xác để điều chỉnh việc dạy phù hợp, việc học
của HS.
12
4- Bước kết thúc buổi sinh hoạt chuyên đề: TTCM đánh giá những ưu điểm và tồn
tại của chuyên đề, phương hướng triển khai vận dụng kết quả của chuyên đề trong
thực tế giảng dạy.
VI. Xử lý tình huống sư phạm
- Năm vững kiến thức tâm lý học lứa tuổi trẻ mầm non, giáo dục học mầm non và giao
tiếp sư phạm
- Để xử lý tình huống sư phạm tốt đặc biệt cần nắm vững:
1. Nguyên tắc giao tiếp sư phạm.
a. Tính mô phạm trong giao tiếp.
Sự gương mẫu của giáo viên về mặt giao tiếp có ý nghĩa rất quan trọng. Sự lịch
thiệp, tế nhị của giáo viên là một nhân tố quyết định cho sự thành công của QTSP.
b. Tôn trọng đối tượng giao tiếp.
13
- Phải coi đối tượng giao tiếp là một cá nhân, một con người, một chủ thể với đầy đủ các
quyền: HT, LĐ, Vui chơi... với những đặc điểm TL riêng biệt. Các em có quyền bình đẳng
với mọi người trong quan hệ XH.
- Tạo điều kiện để các em bộc lộ hết những nét tính cách, thái độ, nhu cầu, nguyện
vọng...
- Không áp đạt bắt buộc các em tuân theo ý của giáo viên.
- Phải gây được ấn tượng tốt với các em ngay từ lần đầu gặp mặt.
- Giáo viên phải biết lắng nghe ý kiến của học sinh dù ý kiến đó là đúng hay sai cũng
không được cắt ngang, hay tỏ thái độ không hài lòng, để học sinh sợ hãi không dám đối
thoại, không bày tỏ hết nguyện vọng của mình.
- Không được xúc phạm đến danh dự, phẩm giá,... của học sinh
- Biết khích lệ những ưu điểm của học sinh.
c. Có thiện chí trong giao tiếp
- Phải luôn nghĩ tốt, luôn tạo điều kiện thuận lợi cho người mình giao tiếp.
* Kỹ năng chuyển từ sự tri giác bên ngoài vào nhận biết bản chất bên trong của nhân
cách.
Sự biểu lộ trạng thái tâm lý của con người thông qua ngôn ngữ, hành vi, cử chỉ, điệu bộ
rất phức tạp. Cùng một trạng thái tâm lý đôi khi biểu lộ ra bên ngoài bằng những hành vi,
cử chỉ, điệu bộ rất khác nhau. Ngược lại cùng một hành vi, cử chỉ, điệu bộ nhưng lại là
sự biểu hiện của nhiều tâm trạng khác nhau.
* Kỹ năng định hướng trước khi tiếp xúc và định hướng trong khi tiếp xúc với học sinh.
+ Định hướng trước khi giao tiếp (phác thảo chân dung đối tượng giao tiếp)là thói quen cần
thiết trước khi tiếp xúc với bất kỳ đối tượng giao tiếp nào.
- Khi tiếp xúc với bất kỳ em học sinh nào, giáo viên cũng cần có những thông tin cần thiết về
học sinh đó: Tên, học lớp nào, tình hình học tập, đạo đức, em có nhu cầu hay vấn đề gì, bố mẹ
em làm gì, sinh sống bằng cách nào, hoàn cảnh gia đình ra sao…Đối với tập thể học sinh hay
phụ huynh học sinh cũng cần có các thông tin như vậy.
- Việc phác thảo chân dung tâm lý càng đúng thì việc giao tiếp càng đạt kết quả. Nó giúp
cho giáo viên có những phương án ứng xử phù hợp.
+ Đinh hướng trong quá trình giao tiếp biểu hiện ra bên ngoài bằng phản ứng, hành vi, cử
chỉ, cách nối năng sao cho phù hợp với những thay đổi liên tục về thái độ, hành vi, cử chỉ,
nội dung ngôn ngữ mà học sinh phản ứng trong quá trình giao tiếp.
Kỹ năng định hướng giao tiếp rất quan trọng, nó quyết định hành vi và thái độ của giáo
viên khi tiếp xúc với học sinh. Khi tiếp xúc với học sinh, giáo viên phải biết được mình
sẽ nói gì với học sinh, và phải đoán trước được học sinh sẽ trả lời mình như thế nào thì
việc giao tiếp mới đạt kết qủa tốt được.
b. Nhóm kỹ năng định vị
Kỹ năng định vị thể hiện:
- Khả năng xây dựng mô hình nhân cách học sinh gần với hiện thực, tương đối ổn định và
giáo viên có hành vi ứng xử phù hợp với nhu cầu, nguyện vọng, đặc điểm tâm lý của học
sinh.
- Khả năng biết xác định vị trí trong giao tiếp, biết đặt vị trí của mình vào vị trí của đối
+ Ngôn ngữ độc thoại: giáo viên phải có kỹ năng làm chủ ngôn ngữ, thể hiện qua:
- Cách diễn đạt.
- Ngữ điệu.
- Giọng nói.
- Cách dùng từ.
- Sự nắm vững nội dung bài giảng một cách sâu sắc.
- Biết cách thu hút sự chú ý, tình cảm, hoạt động trí tuệ của học sinh.
+ Ngôn ngữ đối thoại:
- Nội dung của lời nói tác động vào ý thức.
- Ngữ điệu của lời nói tác động mạnh vào tình cảm của con người.
Vì vậy cùng ý và nghĩa như nhau, người thầy có kinh ngiệm bao giờ cũng biết lựa chọn
cách diễn đạt cho phù hợp với từng học sinh, từng hoàn cảnh giao tiếp cụ thể.
+ Ngôn ngữ viết:
* Kỹ năng sử dụng phương tiện phi ngôn ngữ: cử chỉ, điệu bộ, nét mặt, nụ cười, ánh
mắt...
3. Quy trình xử lý tình huống sư phạm
a. Xác định vấn đề
Nhà sư phạm phải xác định được mâu thuẫn chứa đựng trong tình huống sư phạm, ý
thức được phải giải quyết vấn đề gì trong tình huống đó và hướng giải quyết như thế nào.
b. Thu thập thông tin
Xem xét các thông tin và dữ liệu có sẵn, thu thập thêm thông tin mới; sắp xếp, phân tích
xử lý dữ liệu thu được.
c. Nêu các giả thiết
Đây là bước đề ra những giả thiết trên cơ sở vấn đề cần giải quyết đã được ý thức
rõ ràng và biểu đạt bằng ngôn ngữ. Ở bước này, óc tưởng tượng sư phạm và khả năng
linh hoạt của trí tuệ được phát huy, nhà sư phạm có thể hình dung ra tất cả các cách giải
quyết có thể có, kể cả các cách giải quyết được coi là thiếu tính sư phạm. Trong khi hình
dung các cách giải quyết đó cách giải quyết hợp lý nhất cùng với các lý do bảo vệ cho
cách xử lý này đã lộ ra.
d. Lựa chọn giải pháp