VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
HOÀNG PHAN BÁ PHƯƠNG
DOANH NGHIỆP XÃ HỘI THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
TỪ THỰC TIỄN TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI, 2017
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
HOÀNG PHAN BÁ PHƯƠNG
DOANH NGHIỆP XÃ HỘI THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
TỪ THỰC TIỄN TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành:
Luật Kinh tế
Mã số:
60.38.01.07
Chương 2
THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN TỔ CHỨC, HOẠT ĐỘNG
CỦA DOANH NGHIỆP XÃ HỘI TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
2.1. Thực trạng pháp luật về doanh nghiệp xã hội ở Việt Nam ................ 37
2.1.1. Một số vấn đề chung của pháp luật về doanh nghiệp xã hội ....... 37
2.1.2. Đánh giá chung ............................................................................... 39
2.1.3. Những vấn đề hạn chế về pháp luật doanh nghiệp xã hội ........... 43
2.2. Tổ chức và hoạt động của doanh nghiệp xã hội theo pháp luật Việt Nam
từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh .......................................................... 49
2.2.1. Tình hình kinh tế, xã hội trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh .. 49
2.2.2. Tình hình doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh ... 51
Chương 3
ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ
DOANH NGHIỆP XÃ HỘI TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
3.1. Một số định hướng hoàn thiện pháp luật về doanh nghiệp xã hội từ thực
tiễn thành phố Hồ Chí Minh ....................................................................... 58
3.1.1. Hoàn thiện pháp luật về doanh nghiệp xã hội ở Việt Nam phải xuất
phát từ đường lối, chính sách của Đảng và nhu cầu quản lý xã hội của Nhà
nước ........................................................................................................... 58
3.1.2. Hoàn thiện pháp luật về doanh nghiệp xã hội ở Việt Nam phải xuất
phát từ góc độ thực tiễn ............................................................................ 60
3.2. Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về doanh nghiệp xã hội ....... 63
3.2.1. Những kiến nghị về cơ chế, chính sách của Nhà nước đối với doanh
nghiệp xã hội ............................................................................................. 63
3.2.2. Hoàn thiện quy định của pháp luật về doanh nghiệp xã hội ........ 65
KẾT LUẬN ................................................................................................... 79
ra quan điểm: “Doanh nghiệp xã hội là một khái niệm dùng để chỉ hoạt động của
các doanh nhân xã hội dưới nhiều hình thức khác nhau tùy thuộc vào mục đích
và điều kiện hoạt động cụ thể. Doanh nghiệp xã hội lấy lợi ích xã hội làm mục
tiêu chủ đạo, được dẫn dắt bởi tinh thần doanh nhân nhằm đạt được cả mục tiêu
xã hội / môi trường và mục tiêu kinh tế”.
Mặc dù có nhiều quan điểm khác nhau, nhưng nhìn chung, doanh nghiệp
xã hội có các đặc điểm cơ bản sau đây: (i) Phải có hoạt động kinh doanh; (ii) Đặt
1
mục tiêu xã hội lên hàng đầu; (iii) Tái phân phối lợi nhuận; (iv) Sở hữu mang
tính xã hội; (v) Phục vụ nhu cầu của người nghèo, yếu thế trong xã hội. Từ kết
quả hoạt động của các doanh nghiệp xã hội ở một số nước thế giới như: Anh, Mỹ,
Hàn Quốc, Thái Lan… cho thấy doanh nghiệp xã hội cùng với Nhà nước đã và
đang giải quyết khá hiệu quả các vấn đề xã hội, ví dụ như: Giải quyết công ăn
việc làm cho người lao động, ổn định cuộc sống và nâng cao thu nhập thông qua
giáo dục, đào tạo nghề, cung cấp các dịch vụ thân thiện với môi trường và tăng
cường nhận thức trong cộng đồng trong việc bảo vệ môi trường.
Trong bối cảnh nước ta hiện nay đang phải đối diện với nhiều khó khăn,
thách thức trong quá trình tăng trưởng kinh tế và các vấn đề xã hội, môi trường
như: còn nhiều hộ nghèo và cận nghèo, người khuyết tật, trẻ em có hoàn cảnh
đặc biệt, người bị nhiễm chất độc màu da cam, hội chứng suy giảm miễn dịch
mắc phải ở người (human immunodeficiency virus infection / acquired
immunodeficiency syndrome - HIV/AIDS), người già neo đơn; tình trạng bạo
lực xã hội, các vấn đề về giáo dục, y tế đều ở tình trạng quá tải, bất hợp lý; tình
trạng vệ sinh an toàn thực phẩm, xử lý rác thải, ô nhiễm không khí... hiện đang ở
mức báo động. Song thực tế, Nhà nước ta vẫn chưa đủ nguồn lực để giải quyết
tốt tất cả các vấn đề nói trên. Bởi vậy, việc phát triển các doanh nghiệp xã hội là
rất cần thiết cho sự phát triển bền vững của đất nước. Cũng từ kinh nghiệm của
một số nước trên thế giới cho thấy, để thúc đẩy doanh nghiệp xã hội phát triển và
sẻ gánh nặng an sinh xã hội với Nhà nước. Luật Doanh nghiệp năm 2014 và các
văn bản hướng dẫn thi hành mặc dù mới tạo ra nền tảng cơ bản về địa vị pháp lý
của doanh nghiệp xã hội, tuy nhiên, đó mới là những cố gắng bước đầu của Nhà
nước đối với những mô hình vì xã hội và cộng đồng này, việc hoàn thiện pháp
luật là yêu cầu nhất thiết để thực hiện những mong muốn vô cùng tốt đẹp của các
sáng lập viên doanh nghiệp xã hội ở Việt Nam hiện nay.
Từ những phân tích ở trên, học viên đã mạnh dạn lựa chọn đề tài: “Doanh
nghiệp xã hội theo pháp luật Việt Nam từ thực tiễn tại thành phố Hồ Chí
Minh”, để nghiên cứu trong khuôn khổ Luận văn Thạc sĩ luật học nhằm tìm
3
kiếm các giải pháp hoàn thiện pháp luật về doanh nghiệp xã hội, góp phần thúc
đẩy doanh nghiệp xã hội ở Việt Nam ngày càng phát triển.
2. Tình hình nghiên cứu
Doanh nghiệp xã hội được hình thành từ lâu và phát triển ở Việt Nam
trong một thời kỳ nhất định, với mô hình đầu tiên là hợp tác xã. Tuy nhiên, càng
về sau, hình thức hợp tác xã dần mang tính thương mại, doanh nghiệp xã hội đã
trở lại với những định dạng khác nhau nhằm đóng góp cho xã hội. Chính vì vậy,
về tổ chức và hoạt động của doanh nghiệp xã hội được nhiều người quan tâm,
nghiên cứu và được thể hiện qua các tài liệu sau:
Trước khi Luật Doanh nghiệp 2014 thông qua có đề cập tới doanh nghiệp
xã hội, đã có một số công trình nghiên cứu về chủ đề này: Trung tâm hỗ trợ sáng
kiến cộng đồng (CSIP) và Hội đồng Anh tại Việt Nam với nghiên cứu: Khái
niệm doanh nghiệp xã hội; khảo sát về doanh nghiệp xã hội đăng trong: "Báo
cáo kết quả khảo sát doanh nghiệp xã hội Việt Nam" năm 2011… Các nghiên
cứu này mới chỉ tập trung vào khái niệm doanh nghiệp xã hội, lịch sử hình thành
và pháp triển của nó. Tuy nhiên, vì ra đời từ trước nên các công trình này mới
chỉ có giá trị về mặt lý luận nghiên cứu, chưa có tính ứng dụng vào thực tiễn cho
chế định này.
Mục đích nghiên cứu của luận văn là nhằm làm rõ những vấn đề lý luận
pháp luật về doanh nghiệp xã hội, và từ thực tiễn thực hiện pháp luật về vấn đề
này tại thành phố Hồ Chí Minh để đưa ra định hướng, giải pháp hoàn thiện pháp
luật, nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về doanh nghiệp xã hội ở Việt Nam.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
(i) Nghiên cứu để làm rõ những vấn đề lý luận pháp luật về doanh nghiệp
xã hội như: Khái niệm, đặc điểm và phân loại doanh nghiệp xã hội; mục đích,
nguyên tắc và nội dung pháp luật về doanh nghiệp xã hội… Bên cạnh đó, để làm
sâu sắc hơn các vấn đề nghiên cứu, luận văn cũng đề cập khảo cứu kinh nghiệm
pháp luật một số nước trên thế giới về vấn đề này.
5
(ii) Khái quát, phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn thực
hiện pháp luật về doanh nghiệp xã hội tại thành phố Hồ Chí Minh chỉ ra những
ưu điểm, những vấn đề còn bất cập, vướng mắc và các nguyên nhân…
(iii) Từ các nghiên cứu lý luận và thực tiễn, luận văn đề xuất định hướng
và các giải pháp để hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật
về doanh nghiệp xã hội ở Việt Nam.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các vấn đề lý luận, hệ thống các quy
định pháp luật hướng dẫn thi hành, pháp luật liên quan đến doanh nghiệp xã hội
ở Việt Nam hiện nay và thực tiễn thực hiện pháp luật về doanh nghiệp xã hội tại
thành phố Hồ Chí Minh.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung, luận văn tập trung nghiên cứu các vấn đề pháp lý liên quan
đến tổ chức và hoạt động, địa vị pháp lý của doanh nghiệp xã hội, trong điều
kiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam và từ thực
tiễn tại thành phố Hồ Chí Minh.
nghiên cứu để bổ sung và hoàn thiện pháp luật, trong giảng dạy và học tập về
pháp luật doanh nghiệp nói chung và pháp luật về doanh nghiệp xã hội nói riêng.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của
luận văn được kết cấu 3 chương, cụ thể là:
Chương 1. Những vấn đề lý luận về doanh nghiệp xã hội và pháp luật về
doanh nghiệp xã hội.
7
Chương 2. Thực trạng pháp luật và thực hiện pháp luật về doanh nghiệp
xã hội từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh.
Chương 3. Định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về doanh
nghiệp xã hội từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh.
8
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ DOANH NGHIỆP XÃ HỘI
VÀ PHÁP LUẬT VỀ DOANH NGHIỆP XÃ HỘI
1.1. Khái quát lý luận về doanh nghiệp xã hội
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm, phân loại doanh nghiệp xã hội
1.1.1.1. Khái niệm doanh nghiệp xã hội
Doanh nghiệp là một khái niệm đã xuất hiện từ lâu và được nghiên cứu
dưới góc độ của nhiều ngành khoa học. Tuy nhiên, luật pháp các nước thông
thường không quy định khái niệm chung về doanh nghiệp, mà chỉ đưa ra định
nghĩa pháp lý về từng loại hình doanh nghiệp cụ thể. Pháp luật đa số các nước
chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký
kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động
kinh doanh”. Theo đó, chỉ có những chủ thể kinh doanh thỏa mãn những điều
kiện nhất định mới có tư cách doanh nghiệp. Phù hợp với khái niệm đó, pháp
luật đã quy định rõ tư cách doanh nghiệp cho các chủ thể kinh doanh gồm: doanh
nghiệp tư nhân, các loại công ty (quy định trong Luật Doanh nghiệp), công ty
nhà nước (quy định trong Luật Doanh nghiệp nhà nước), doanh nghiệp có vốn
đầu tư nước ngoài (quy định trong Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam). Có thể
nhận thấy, khái niệm doanh nghiệp theo Luật Doanh nghiệp 1999 và 2005 có nội
hàm hẹp hơn khái niệm theo cách hiểu trước đây.
Đến Luật Doanh nghiệp năm 2014, khái niệm về doanh nghiệp đã có một
số thay đổi nhất định. Theo khoản 7 Điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2014 thì:
“Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch được đăng
ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh”. Nhìn
chung, theo Luật Doanh nghiệp năm 2014, để trở thành một doanh nghiệp thì các
10
chủ thể kinh doanh cũng phải đáp ứng đầy đủ những điều kiện như quy định của
Luật Doanh nghiệp năm 2005 và cũng quy định rõ tư cách doanh nghiệp cho các
chủ thể kinh doanh như trên. Tuy nhiên, quy định trên có phần ngắn gọn và linh
hoạt hơn, nhưng lại có nội hàm mở rộng phạm vi các chủ thể được coi là doanh
nghiệp. Đồng thời, tăng cường tính linh hoạt đối với việc đăng ký trụ sở của
doanh nghiệp, nhất là đối với các ngành nghề kinh doanh có tính chất không ổn
định hoặc chủ sở hữu thường xuyên phải thay đổi, mở rộng địa bàn kinh doanh.
Bên cạnh các doanh nghiệp thương mại truyền thống với mục đích chính
là kinh doanh nhằm tối đa hóa lợi nhuận cho cổ đông và các chủ sở hữu. Thì
hiện nay, với khái niệm doanh nghiệp như trong quy định của pháp luật đã phần
nào đó nêu lên được bản chất của doanh nghiệp truyền thống. Tuy nhiên, doanh
đích giải quyết các vấn đề xã hội, môi trường vì lợi ích cộng đồng bằng lợi
nhuận từ hoạt động kinh doanh”.
1.1.1.2. Đặc điểm của doanh nghiệp xã hội
Đặc điểm của doanh nghiệp xã hội bên cạnh những điểm chung của doanh
nghiệp thương mại còn có những đặc điểm riêng biệt theo mục đích hoạt động
của mình. Các đặc điểm của doanh nghiệp xã hội bao gồm:
Thứ nhất: Có hoạt động kinh doanh
Như đã nói ở trên, doanh nghiệp xã hội cũng là một loại hình doanh
nghiệp. Chính vì vậy, hoạt động cơ bản và chủ yếu của doanh nghiệp xã hội là
hoạt động kinh doanh. Đây chính là đặc điểm nhằm phân biệt doanh nghiệp xã
hội với các loại hình tổ chức khác cũng có mục tiêu giải quyết các vấn đề xã hội.
Đối với các loại hình tổ chức cũng có mục tiêu giải quyết các vấn đề xã hội khác
như tổ chức phi chính phủ, các quỹ từ thiện… thì hoạt động kinh doanh không
xuất hiện trong các hoạt động của tổ chức. Những tổ chức này thường có tài trợ
từ một hoặc nhiều nguồn khác nhau. Mọi chi phí hoạt động của tổ chức đều phụ
thuộc vào những nguồn tài trợ này.
12
Ví dụ: Tổ chức từ thiện T được tài trợ bởi ba nguồn khác nhau bao gồm:
tài trợ từ nhà nước, tài trợ từ các doanh nghiệp và tài trợ từ các cá nhân. Lượng
tài trợ nhiều hay ít, tài trợ dài hạn hay ngắn hạn đều do các nguồn tài trợ đó
quyết định mà gần như phía tổ chức từ thiện không có vai trò tham gia. Vì vậy,
tổ chức từ thiện này khi thực hiện các hoạt động từ thiện (hoạt động từ thiện
cũng nhằm giải quyết một số vấn đề xã hội) thường ở thế bị động, không thể tự
chủ. Tổ chức từ thiện sẽ không thể tự quyết định được mình sẽ làm gì, mà phải
tính toán các hoạt động dựa trên sự đóng góp của các nguồn tài trợ. Đây có thể
coi là nhược điểm của các tổ chức có mục tiêu giải quyết các vấn đề xã hội mà
không phải là doanh nghiệp xã hội.
đề xã hội khác) có nhiều ưu điểm hơn. Các ưu điểm nổi bật là:
(i) Doanh nghiệp xã hội có thể tự duy trì sự hoạt động của chính mình
(thậm chí tự phát triển) nhờ lợi nhuận thu được từ hoạt động kinh doanh.
(ii) Doanh nghiệp xã hội vẫn có thể được tài trợ bởi các nhà tài trợ khác
nhau nhằm giải quyết các vấn đề xã hội, nhưng lại không bị phụ thuộc hoàn toàn
vào các nguồn tài trợ này. Từ đó việc thực hiện các mục tiêu giải quyết vấn đề xã
hội dễ dàng hơn.
(iii) Các nhà đầu tư vào doanh nghiệp xã hội vẫn có thể thu được lợi
nhuận chứ không mất hoàn toàn tài sản như khi tài trợ cho các tổ chức khác.
Thứ hai: Mục đích hoạt động vì cộng đồng xã hội (tham gia giải quyết
các vấn đề xã hội).
Các vấn đề xã hội có vai trò quan trọng đối với sự phát triển các ngành
kinh tế, các lĩnh vực xã hội. Do vị trí của con người ở mỗi chế độ khác nhau nên
vai trò, bản chất của các vấn đề xã hội cũng khác nhau.
Giải quyết tốt các vấn đề xã hội là một trong những chủ trương, giải pháp
lớn nhằm phát triển kinh tế - xã hội của Đảng ta trong thời kỳ đổi mới. Các vấn
đề xã hội mà Đại hội IX đưa ra cần giải quyết đó là: giải quyết công ăn việc làm
14
và thu nhập cho người lao động, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của
nhân dân, chăm lo giáo dục, an sinh xã hội, ngăn chặn và đẩy lùi các tệ nạn xã
hội, tội phạm, chăm lo những người thuộc nhóm yếu thế (người già, cô đơn, trẻ
em mồ côi lang thang cơ nhỡ, người tàn tật…). Tạo bước tiến rõ rệt về thực hiện
tiến bộ và công bằng xã hội, bảo đảm an sinh xã hội, giảm tỷ lệ hộ nghèo, cải
thiện điều kiện chăm sóc sức khỏe cho nhân dân. Bảo vệ môi trường, chủ động
phòng tránh thiên tai, ứng phó có hiệu quả với biến đổi khí hậu.
Đối với doanh nghiệp xã hội, khi được thành lập sẽ có động cơ nhằm giải
quyết các vấn đề xã hội, môi trường vì lợi ích cộng đồng được đặt ra trước đó.
hiệu quả và thu được lợi nhuận. Số lợi nhuận này được đưa về cho A và A sử
dụng để giải quyết các nhu cầu cá nhân của mình.
Như vậy, để phân biệt được doanh nghiệp xã hội và các doanh nghiệp
thông thường, chúng ta cần dựa trên mục tiêu cuối cùng mà các doanh nghiệp đó
hướng tới. Đối với doanh nghiệp thông thường, mục tiêu cuối cùng là lợi nhuận
của doanh nghiệp. Trong khi đó, đối với doanh nghiệp xã hội, mục tiêu cuối
cùng là giải quyết các vấn đề xã hội, môi trường vì lợi ích cộng đồng. Và mục
tiêu này là mục tiêu mà các doanh nghiệp xã hội hướng đến, là mục tiêu hàng
đầu của việc các doanh nghiệp xã hội được thành lập.
Thứ ba: Sử dụng lợi nhuận để đầu tư giải quyết các vấn đề xã hội
Đặc điểm này cũng là một đặc điểm quan trọng để phân biệt doanh nghiệp
xã hội với các doanh nghiệp thông thường và là kết quả cuối cùng khi hai loại
hình doanh nghiệp này hướng tới mục đích của chúng.
Đối với doanh nghiệp thông thường, nếu hoạt động kinh doanh có lợi
nhuận thì lợi nhuận này có thể sử dụng với nhiều mục đích khác nhau. Ví dụ như
có thể dùng lợi nhuận để tái đầu tư nhằm nâng cấp cơ sở vật chất, mở rộng thị
trường… của chính doanh nghiệp hoặc có thể chia cho chủ sở hữu nhằm đáp ứng
nhu cầu cá nhân của chủ sở hữu. Nhưng dù với mục đích gì, tựu chung lại thì lợi
nhuận thu được của doanh nghiệp thông thường đều nhằm giải quyết các vấn đề
16
nhu cầu cá nhân và vấn đề nội bộ của doanh nghiệp. Đây là biểu hiện của mục
tiêu vì lợi nhuận của các doanh nghiệp thông thường.
Đối với doanh nghiệp xã hội, lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh không
thể được tối đa hóa cho các cá nhân mà phải được tái đầu tư nhằm giải quyết các
vấn đề xã hội, môi trường vì lợi ích cộng đồng. Mức độ tái đầu tư từ lợi nhuận
có thể khác nhau đối với mỗi doanh nghiệp. Có thể là 51% tổng lợi nhuận của
doanh nghiệp, hay có thể là 75% tổng lợi nhuận của doanh nghiệp hoặc toàn bộ
người chịu thiệt thòi và dễ bị tổn thương nhất về kinh tế, những người không
được tiếp cận hay không đủ khả năng chi trả cho các dịch vụ theo mức giá thông
thường. Mục tiêu của những doanh nghiệp này là đáp ứng yêu cầu và quyền của
người dân đang bị những mô hình kinh doanh và cơ chế hiện tại bỏ qua.
- Doanh nghiệp tạo việc làm cho những nhóm yếu thế và lề hóa của xã
hội như những người khuyết tật, người nhiễm HIV/AIDS, người mãn hạn tù…
phần lớn các doanh nghiệp xã hội thuộc loại này đổi mới từ tổ chức NGO bằng
cách thành lập thêm một nhánh kinh doanh bên trong tổ chức, hoặc thành lập
một doanh nghiệp kinh doanh, với lợi nhuận được sử dụng để tài trợ một phần
chi phí của tổ chức.
Hai là: Doanh nghiệp xã hội không vì lợi nhuận
(Not-for-profit Social Enterprises)
Đa số các doanh nghiệp loại này do các doanh nhân xã hội sáng lập, với
sứ mệnh xã hội được công bố rõ ràng. Ngay từ đầu, doanh nghiệp đã xác định rõ
sự kết hợp bền vững giữa sứ mệnh xã hội với mục tiêu kinh tế, trong đó mục tiêu
kinh tế là phương tiện để đạt mục tiêu tối cao là phát triển xã hội. Lợi nhuận thu
được chủ yếu để sử dụng tái đầu tư hoặc để mở rộng tác động xã hội của doanh
nghiệp. Việc đưa ra các giải pháp sáng tạo, áp dụng đòn bẩy của thị trường để
giải quyết vấn đề xã hội và các thách thức trong lĩnh vực môi trường, là điểm
18
khác biệt so với các tổ chức xã hội từ thiện hay các doanh nghiệp thông thường.
Phần lớn các doanh nghiệp xã hội thuộc loại này có thể tự đứng vững bằng
nguồn thu từ hoạt động kinh doanh và dịch vụ của họ. Có thể nói, đây là lực
lượng “tinh túy” của khối doanh nghiệp xã hội.
Doanh nghiệp xã hội không vì lợi nhuận thường đăng ký hoạt động dưới
các hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần, hoạt động theo
Luật Doanh nghiệp. Một trong những nguyên nhân khiến cho các doanh nghiệp
này đăng ký dưới hình thức công ty là họ không muốn xã hội nhìn nhận như đơn