BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
………………../………………
BỘ NỘI VỤ
……/……
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
PHAN QUỐC DŨNG
QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ TẠM TRÚ, TẠM VẮNG
CỦA CHÍNH QUYỀN CẤP XÃ TRÊN ĐỊA BÀN
THỊ XÃ HÀ TIÊN, TỈNH KIÊN GIANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG
TP. HỒ CHÍ MINH - NĂM 2017
i
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NỘI VỤ
………………../………………
……/……
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
PHAN QUỐC DŨNG
PHAN QUỐC DŨNG
ii
LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi và được sự
hướng dẫn khoa học của PGS. TS. Nguyễn Bá Chiến. Các nội dung, kết quả
nghiên cứu có tính độc lập và chưa được công bố dưới bất kỳ hình thức nào.
Số liệu được sử dụng trung thực, rõ ràng, minh bạch và được cơ quan cung
cấp cho phép công bố. Một số nội dung của đề tài có mang tính kế thừa, phát
triển từ các tài liệu, tạp chí, công trình nghiên cứu đã được công bố.
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm với lời cam đoan của tôi.
Kiên Giang, ngày 15 tháng 8 năm 2017
Tác giả luận văn
Phan Quốc Dũng
i
MỤC LỤC
Lời cam đoan
MỞ ĐẦU ....................................................................................................... 1
1. Tính cấp thiết của đề tài .............................................................................. 1
2. Tình hình nghiên cứu đề tài ........................................................................ 3
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu ................................................................. 3
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu............................................................... 4
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu .......................................... 4
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn ........................................................................ 5
7. Cấu trúc của đề tài ...................................................................................... 5
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ TẠM
TIỂU KẾT CHƢƠNG 1............................................................................. 31
Chƣơng 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ TẠM TRÚ,
TẠM VẮNG CỦA CHÍNH QUYỀN CẤP XÃ TRÊN ĐỊA BÀN THỊ XÃ
HÀ TIÊN, TỈNH KIÊN GIANG ................................................................ 32
2.1. Tình hình, đặc điểm liên quan đến quản lý nhà nƣớc về tạm trú, tạm
vắng trên địa bàn thị xã Hà Tiên ............................................................... 32
2.1.1. Tình hình vị trí địa lý, kinh tế, xã hội có liên quan đến vấn đề tạm
trú, tạm vắng .......................................................................................... 32
2.1.2. Đặc điểm dân cư trên địa bàn thị xã Hà Tiên ................................. 34
2.1.3. Tình hình an ninh, trật tự ở địa bàn thị xã Hà Tiên ......................... 35
2.1.4. Tình hình quần chúng chấp hành các quy định về quản lý tạm trú,
tạm vắng ................................................................................................. 38
2.2. Thực trạng về nhân khẩu tạm trú, tạm vắng tại thị xã Hà Tiên và
tình hình tội phạm lợi dụng tạm trú, tạm vắng trên địa bàn thị xã Hà
Tiên để hoạt động ....................................................................................... 40
2.2.1. Khái quát về nhân khẩu tạm trú, tạm vắng trên địa bàn thị xã Hà
Tiên ........................................................................................................ 40
2.2.1.1. Khái quát về tình hình nhân khẩu tạm trú ............................ 40
iii
2.2.1.2. Khái quát về tình hình nhân khẩu tạm vắng......................... 41
2.2.2. Tình hình các đối tượng lợi dụng tạm trú, tạm vắng để hoạt động
phạm tội, trốn thi hành án ....................................................................... 41
2.2.2.1. Số đối tượng ở nơi khác đến tạm trú hoạt động phạm tội .... 41
2.2.2.2. Tình hình đối tượng truy nã, trốn thi hành án đến thị xã Hà
Tiên trà trộn, ẩn náo, hoạt động vi phạm pháp luật ........................... 42
2.3. Tình hình quản lý nhà nƣớc về tạm trú, tạm vắng của chính quyền
cấp xã trên địa bàn thị xã Hà Tiên ............................................................ 45
2.3.1. Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về tạm trú, tạm vắng ở thị xã Hà
3.2.3. Xây dựng quy chế phối hợp chặt chẽ giữa Chính quyền cấp xã với
lực lượng an ninh cơ sở và ban ngành có liên quan trong quản lý nhân
khẩu tạm trú ........................................................................................... 83
3.2.4. Nâng cao trình độ chuyên môn cho lực lượng làm công tác quản lý
nhà nước về tạm trú, tạm vắng................................................................ 86
3.2.5. Tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra ........................................ 92
TIỂU KẾT CHƢƠNG 3............................................................................. 96
KẾT LUẬN ................................................................................................. 97
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................... 99
PHỤ LỤC
v
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Quản lý nhà nước về cư trú, trong đó có tạm trú, tạm vắng là một trong
những lĩnh vực trọng yếu của nền hành chính mọi quốc gia, trong đó có Việt
Nam. Việc nắm chắc và cập nhật thường xuyên thông tin, dữ liệu về tình hình
dân cư, góp phần quan trọng đem lại hiệu quả cao trong quản lý nhà nước,
làm tăng mối quan hệ giữa nhà nước và công dân. Từ xưa đến nay, quản lý
nhà nước về tạm trú, tạm vắng được coi là một công cụ để nhà nước bảo vệ
quyền nhân dân và hoạch định chính sách kinh tế - xã hội, an ninh, quốc
phòng.
Thị xã Hà Tiên thuộc tỉnh Kiên Giang, là một trong những trung tâm
chính trị, văn hóa, xã hội, thương mại, dịch vụ của tỉnh. Là thị xã biên giới có
cửa khẩu quốc tế, là địa bàn du lịch và nghỉ dưỡng. Trong năm có trên dưới
10 lễ hội cấp tỉnh, cấp địa phương diễn ra trên địa bàn thu hút đông lượng
khách đến dự. Nhiều lễ hội mang tính tâm linh, tín ngưỡng văn hóa dân gian
được nhân dân sùng bái; là địa bàn thu hút đông khách du lịch đến tham quan,
Chính vì vậy quản lý nhà nước về cư trú nói chung, quản lý nhà nước
tạm trú, tạm vắng nói riêng phải được nhận thức rằng: nó có một vị trí hết sức
quan trọng và đây là một yêu cầu đòi hỏi khách quan của thực tiễn. Thực hiện
tốt công tác này không những có ý nghĩa trong việc đảm bảo tình hình an
ninh, trật tự nói chung mà còn phục vụ cho công tác phòng ngừa, đấu tranh
chống tội phạm nói riêng. Vì thế việc tìm ra giải pháp bảo đảm quản lý nhà
nước về tạm trú, tạm vắng là một yêu cầu không thể thiếu trong quản lý nhà
nước về an ninh, trật tự trên địa bàn thị xã.
Từ yêu cầu thực tế của công tác quản lý nhà nước về tạm trú, tạm vắng
trên địa bàn thị xã Hà Tiên, đặc biệt trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế,
nhiều khu công nghiệp phát triển, tội phạm lẩn trốn trong các cơ sở cho thuê
lưu trú có nhiều phức tạp nên tôi chọn nghiên cứu đề tài: “Quản lý nhà nước
2
về tạm trú, tạm vắng của chính quyền cấp xã trên địa bàn thị xã Hà
Tiên, tỉnh Kiên Giang”.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Đã có một số đề tài nghiên cứu dưới các góc độ khác nhau về công tác
quản lý tạm trú, tạm vắng trong những phạm vi và đối tượng nhất định như:
Trần Dân, Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhân hộ khẩu
tại khu công nghiệp tập trung ở thị xã Hà Tiên, luận văn thạc sỹ, 2006;
Đặng Thị Thanh, Quản lý người lao động tự do ngoài tỉnh của Công an
các phường Hà Nội-góp phần đảm bảo an ninh trật tự, luận văn thạc sỹ,
2003);
Lê Thị Minh Hằng, Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả công tác
quản lý hộ khẩu, nhân khẩu của lực lượng cảnh sát quản lý hành chính về trật
tự xã hội phục vụ phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm trên địa bàn thành
phố Tuy Hòa tỉnh Phú Yên, khóa luận tốt nghiệp, 2005.
- Đối tượng nghiên cứu: Quản lý nhà nước về tạm trú, tạm vắng của
chính quyền cấp xã trên địa bàn thị xã Hà Tiên
- Phạm vi nghiên cứu: Quản lý nhà nước về tạm trú, tạm vắng của
chính quyền cấp xã trên địa bàn thị xã Hà Tiên từ năm 2012 – 2016.
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
- Phương pháp luận:
Đề tài nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa duy
vật biện chứng, duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác – Lê nin, tư tưởng Hồ Chí
Minh và chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về công tác quản lý
nhà nước về an ninh – trật tự.
- Phương pháp nghiên cứu:
+ Phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp tình hình tạm trú, tạm
vắng chung của thị xã Hà Tiên.
+ Phương pháp tổng kết thực tiễn và phương pháp nghiên cứu điển
hình: thông qua các tài liệu, khảo sát hoạt động thực tiễn Công an cấp xã.
4
+ Phương pháp tọa đàm, trao đổi lấy ý kiến để đưa ra các kinh nghiệm
làm cơ sở đề xuất giải pháp.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
- Lý luận: Hệ thống hóa các lý thuyết quản lý nhà nước về tạm trú, tạm
vắng của chính quyền cấp xã
- Thực tiễn: Những kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ là nguồn tài liệu
để UBND thị xã Hà Tiên tham khảo và vận dụng vào thực tiễn quản lý nhà
nước về tạm trú, tạm vắng. Ngoài ra, có thể là nguồn tài liệu tham khảo trong
hoạt động học tập, giảng dạy và nghiên cứu tại Học viện Hành chính Quốc
gia.
7. Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục.
khoa học. Mục đích: phục vụ bắt lính, quản dân, thực hiện các chính sách
chống cộng; miền Bắc, năm 1954 sau hòa bình lập lại Nhà nước nghiên cứu,
tổ chức chỉ đạo quản lý cư trú nhằm tăng cường quản lý xã hội, củng cố chính
quyền cách mạng. Từ năm 1955 công tác đăng ký, quản lý hộ khẩu được tiến
hành một số nơi thí điểm như: thị xã Bắc Ninh, Sơn Tây, Hà Nội, Thái
Nguyên, Hà Đông. Năm 1956 mở rộng công tác này đến Hải Phòng, Đồng
Hới, Nghệ An, Hà Tĩnh, Hưng Yên, Việt Trì. Công việc này cơ bản hoàn
thành trên phạm vi toàn miền Bắc vào năm 1959.
6
Có thể nói một số qui định điển hình về quản lý cư trú thông qua đăng
ký, quản lý hộ khẩu trong giai đoạn này như: năm 1954 Ủy ban hành chính
từng tỉnh, thành phố công bố qui định tạm thời trên địa phương mình; năm
1957 là Bản điều lệ tạm thời về đăng ký, quản lý hộ khẩu được điều chỉnh, bổ
sung; năm 1965 Hội đồng Chính phủ chính thức ban hành Bản điều lệ đăng
ký, quản lý hộ khẩu bằng Nghị định 104/CP ngày 27-6-1964 và thực hiện
thống nhất trên toàn miền Bắc; năm 1968 đáp ứng yêu cầu chống cuộc chiến
tranh phá hoại của địch, chống hoạt động tình báo, xâm nhập, hoạt động gián
điệp… lấy số liệu dân số chuẩn bị bầu cử toàn quốc, nên yêu cầu kết hợp
quản lý dân số, quản lý cư trú với quản lý đi lại. Vì thế, ngày 29-02-1968 Hội
đồng Chính phủ ban hành Nghị định 32/CP thống nhất công tác đăng ký, quản
lý hộ khẩu với thống kê dân số và công tác hộ tịch.
Khi miền Nam hoàn toàn giải phóng năm 1975, Chính phủ ban hành
Quyết định 54/CP ngày 17-8-1976 điều chỉnh công tác đăng ký, quản lý hộ
khẩu trên phạm vi toàn miền Nam; Quyết Định 167/CP ngày 18/9/1976
hướng dẫn, bổ sung và chỉ đạo công tác đăng ký, quản lý hộ khẩu phù hợp với
tình hình miền Nam. Sau nhiều năm thực hiện các qui định về đăng ký hộ
khẩu xuất hiện nhiều vấn đề mới, nhất là cần phân tách công tác hộ tịch và hộ
nước nhằm xác định việc cư trú của công dân, tăng cường quản lý xã hội, giữ
vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Do vậy Chính phủ giao cho Bộ
Nội vụ (nay là Bộ Công an) phụ trách việc đăng ký, quản lý hộ khẩu”.
Luật cư trú quy định: Cư trú là việc công dân sinh sống tại một địa
điểm thuộc phường, xã dưới hình thức thường trú hoặc tạm trú; Đăng ký
thường trú là việc công dân đăng ký nơi thường trú của mình với cơ quan nhà
nước có thẩm quyền và được cơ quan này làm thủ tục đăng ký thường trú, cấp
sổ hộ khẩu cho họ; Đăng ký tạm trú là việc công dân đăng ký nơi tạm trú của
mình với cơ quan nhà nước có thẩm quyền và được cơ quan này làm thủ tục
đăng ký tạm trú, cấp sổ tạm trú.
8
Việc đăng ký, quản lý hộ khẩu là quá trình cơ quan Công an dựa vào
các văn bản qui phạm pháp luật của nhà nước để tiến hành đăng ký, quản lý
hoạt động cư trú của công dân, đảm bảo cho công dân thực hiện quyền và
nghĩa vụ theo pháp luật qui định. Nhằm phục vụ cho công tác quản lý xã hội
của nhà nước; công tác phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm và các phạm
pháp về an ninh, trật tự.
1.1.2. Khái niệm quản lý nhà nước về tạm trú, tạm vắng
Quản lý là sự tác động lên một hệ thống nào đó với mục tiêu đưa hệ
thống đó đến trạng thái cần đạt được. Quản lý là một phạm trù xuất hiện trước
khi có Nhà nước với tính chất là một loại lao động xã hội hay lao động chung
được thực hiện ở quy mô lớn. Quản lý được phát sinh từ lao động, không tách
rời với lao động và bản thân quản lý cũng là một loại hoạt động lao động.
“Bất kỳ lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào đó mà được tiến
hành trên quy mô tương đối lớn đều cần có sự quản lý ở mức độ nhiều hay ít
nhằm phối hợp những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng
chung... Một nhạc công tự điều khiển mình nhưng một dàn nhạc cần phải có
chính về an ninh trật tự do lực lượng Công an nhân dân tiến hành trên cơ sở
quy định của Luật cư trú, các văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước để
đăng ký, quản lý hoạt động cư trú của công dân, đảm bảo cho công dân thực
hiện quyền và nghĩa vụ theo pháp luật quy định, phục vụ yêu cầu quản lý xã
hội của Nhà nước, góp phần phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm, các hành
vi vi phạm pháp luật, đảm bảo an ninh trật tự. Quản lý cư trú đối với công dân
bao gồm các nội dung chủ yếu sau: Đăng ký, quản lý thường trú; đăng ký,
quản lý tạm trú; lưu trú và thông báo lưu trú; khai báo tạm vắng; điều chỉnh,
bổ sung những thay đổi về cư trú; xây dựng cơ sở dữ liệu về cư trú. Bộ phận
quản lý hộ khẩu sẽ quản lý các hộ gia đình thông qua sổ hộ khẩu theo mẫu
quy định của nhà nước. Khi gia đình có ai đó đi xa dài ngày thì phải đến cơ
quan địa phương, nơi công dân ấy đang cư trú để làm thủ tục xin cấp giấy tạm
vắng có thời hạn (cụ thể là tối đa 6 tháng). Nếu công dân là đối tượng đang bị
10
quản thúc tại địa phương có thời gian bị quản thúc thì không được phép xin
giấy tạm vắng trong thời gian đó. Người cần cấp giấy tạm vắng sẽ trình sổ hộ
khẩu và cung cấp thông tin cho người có thẩm quyền để được cấp giấy tạm
vắng. Khi gia đình có người nào đó chuyển đến nơi ở mới hoặc tách ra hộ
khẩu mới thì làm thủ tục chuyển khẩu theo quy định của nhà nước. Trong thời
hạn 10 ngày kể từ ngày chuyển đến nơi ở mới thì người đó phải đến trụ sở
công an xã/phường/thị trấn nơi chuyển đến để làm thủ tục đăng ký. Thủ tục
gồm: Phiếu khai báo tạm vắng, giấy chứng nhận chuyển đi của địa phương
nơi người đó đã cư trú (hoặc giấy tờ khác thay thế theo qui định), sổ hộ khẩu
gia đình và điền đầy đủ thông tin vào trong các giấy tờ sau: - Phiếu báo thay
đổi hộ khẩu, nhân khẩu; - Bản khai nhân khẩu. Như vậy, quản lý tạm trú, tạm
vắng là một trong những nội dung quan trọng của quản lý cư trú và được hiểu
như sau: Quản lý tạm trú là quá trình đăng ký, ghi nhận việc khai báo tạm trú
đối với các nhân khẩu không phải là nhân khẩu thường trú tại địa phương. Họ
pháp luật về cư trú theo quy định của pháp luật.
Như vậy, đối với hoạt động quản lý nhà nước về tạm trú, tạm vắng,
UBND cấp xã có trách nhiệm:
- Tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về cư trú tại địa
phương, cụ thể về tạm trú, tạm vắng.
- Chỉ đạo việc phối hợp giữa các cơ quan hữu quan ở địa phương về
quản lý tạm trú, tạm vắng.
- Tổ chức tuyên truyền, giáo dục pháp luật về tạm trú, tạm vắng.
- Kiểm tra, thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp
luật về tạm trú, tạm vắng theo quy định của pháp luật.
1.2.2. Trách nhiệm của Công an cấp xã
Khoản 4 điều 32 Luật cư trú được Quốc Hội nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 29-11-2006, có hiệu
lực thi hành ngày 01-7-2007 quy định: “Công an xã, phường, thị trấn có trách
12
nhiệm hướng dẫn nội dung khai báo, kiểm tra nội dung khai báo, ký xác nhận
vào phần phiếu cấp cho người khai báo tạm vắng”.
Điều 36 Luật cư trú quy định về người làm công tác đăng ký, quản lý
cư trú:
1. Người làm công tác đăng ký, quản lý cư trú phải được đào tạo, bồi
dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ phù hợp với nhiệm vụ được giao.
2. Người làm công tác đăng ký, quản lý cư trú trong khi thực hiện
nhiệm vụ phải có thái độ, lời nói, cử chỉ nghiêm túc, khiêm tốn, hòa nhã; tiếp
nhận, kiểm tra hồ sơ, tài liệu liên quan, viết biên nhận, hẹn ngày trả kết quả và
giải quyết đúng thời hạn theo quy định của Luật này; trường hợp hồ sơ còn
thiếu hoặc chưa đúng thì hướng dẫn cụ thể, đầy đủ bằng văn bản và chịu trách
nhiệm trước pháp luật về việc hướng dẫn đó.
an ninh cơ sở tham gia trực tại điểm phải lập danh sách lưu tại công an
phường, xã để tiện theo dõi, kiểm tra.
Khoản 4, 5 điều 30 Luật cư trú quy định:
“Trưởng Công an xã, phường, thị trấn trong thời hạn ba ngày làm việc,
kể từ ngày nhận đủ giấy tờ quy định tại khoản 3 Điều này phải cấp sổ tạm trú
theo mẫu quy định của Bộ Công an.
Sổ tạm trú được cấp cho hộ gia đình hoặc cá nhân đã đăng ký tạm trú,
có giá trị xác định nơi tạm trú của công dân và không xác định thời hạn.
Trường hợp người đã đăng ký tạm trú nhưng không sinh sống, làm
việc, lao động, học tập từ sáu tháng trở lên tại địa phương đã đăng ký tạm trú
thì cơ quan đã cấp sổ tạm trú phải xóa tên người đó trong sổ đăng ký tạm trú”.
Công tác quản lý cư trú nói chung và công tác quản lý tạm trú, tạm
vắng nói riêng nhằm mục đích sau đây:
- Thứ nhất, thông qua công tác quản lý tạm trú, tạm vắng nắm chắc tình
hình từng hộ, từng người. Nắm vững 4 nội dung (Về lai lịch; Về nghề nghiệp,
đời sống kinh tế; Về quan hệ gia đình và xã hội, Về thái độ chính trị hiện nay)
đối với những nhân khẩu từ đủ 14 tuổi trở lên, phân biệt được người tốt,
14
người xấu, người bất mãn, lạc hậu… từ đó xác định được phương hướng
trong đấu tranh phòng chống tội phạm: Biết dựa vào ai, tranh thủ ai, cảm hóa
giáo dục ai, làm cơ sở để tạo điều kiện cho việc thực hiện tốt các yêu cầu
nghiệp vụ trong phòng ngừa, phát hiện, đấu tranh chống tội phạm và các hành
vi vi phạm góp phần bảo vệ an ninh trật tự. Để đảm bảo được mục đích này
đòi hỏi lực lượng Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội, mà cụ thể là
lực lượng Cảnh sát khu vực, Công an xã, thị trấn phải là tốt công tác nắm
người, nắm hộ. Thường xuyên bám sát địa bàn, tiến hành phân loại nhân hộ
khẩu theo định kỳ…
- Thứ hai, Công tác quản lý tạm trú, tạm vắng còn nhằm xác định đúng
ngừa, phát hiện, đấu tranh chống tội phạm và các hành vi vi phạm pháp luật
để đảm bảo an ninh quốc gia và giữ gìn trật tự an toàn xã hội; xác định nơi cư
trú của công dân, đảm bảo cho công dân thực hiện các quyền và lợi ích hợp
pháp khác theo quy định của pháp luật.
Qua công tác này nắm rõ thực trạng và sự biến động về nhân, hộ khẩu,
trên cơ sở đó bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân và gia đình, góp
phần xây dựng chính sách về kinh tế, xã hội, an ninh và quốc phòng, dân số
và kế hoạch hoá gia đình. Cũng trên cơ sở theo dõi biến động về tạm trú, tạm
vắng mà các cơ quan quản lý nhà nước xây dựng chính sách phù hợp dựa trên
dân số theo độ tuổi, giới tính nguồn nhân lực từ đó có phân tích đánh giá cụ
thể làm cơ sở để hoạch định các chính sách về phát triển kinh tế, văn hoá-xã
hội, thể dục thể thao, xây dựng cơ sở y tế, trường học, bố trí giáo viên... chăm
sóc sức khoẻ trong nhân dân, đảm bảo cân bằng giới tính phục vụ an ninh
quốc phòng, chăm sóc sức khoẻ trong nhân dân...
1.3. Nội dung quản lý nhà nƣớc về tạm trú, tạm vắng của chính
quyền cấp xã
1.3.1. Ban hành văn bản quản lý nhà nước về tạm trú, tạm vắng tại
địa phương
16
Hoạt động quản lý nhà nước nói chung và hoạt động quản lý nhà nước
về tạm trú, tạm vắng nói riêng trước hết là hoạt động thực hiện pháp luật. Để
tạo cơ sở pháp lý cho việc nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về tạm trú,
tạm vắng thì chính quyền các cấp xây dựng và ban hành văn bản quản lý nhà
nước để áp dụng thực hiện là yêu cầu tất yếu. Ngày 20/6/2013 Quốc hội thống
nhất ban hành Luật số 36/2013/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
Cư trú năm 2006. Đây là một trong các luật lớn, có tính xã hội hóa cao, phù
hợp với tình hình xã hội hiện nay, có tác động trực tiếp đến nhiều mặt của đời
văn bản đó tại địa phương. Công an là cơ quan tham mưu trực tiếp cho UBND
cùng cấp quản lý nhà nước về lĩnh vực cư trú, tạm trú, tạm vắng, tổ chức thực
hiện các văn bản quản lý nhà nước trên địa bàn của mình. Niêm niêm yết
công khai hướng dẫn người dân trong việc thực hiện các quy định về cư trú
nói chung, tạm trú, tạm vắng nói riêng. Đồng thời bố trí cán bộ có năng lực,
phẩm chất đạo đức tốt làm công tác đăng ký, quản lý tạm trú, tạm vắng.
Người làm công tác đăng ký, quản lý tạm trú, tạm vắng có nhiệm vụ tiếp
nhận, kiểm tra hồ sơ, tài liệu liên quan. Viết biên nhận, hẹn ngày trả kết quả
và giải quyết đúng thời hạn theo quy định của pháp luật. Các thủ tục khai báo
tạm vắng, tạm trú cần được công khai. Để tổ chức thực hiện đầy đủ, có hiệu
quả các văn bản quản lý nhà nước về cư trú, về tạm trú, tạm vắng cần có sự
phối hợp của các ban ngành. Tuy nhiên trên thực tế hiện nay đa phần giao
công an thực hiện.
1.3.3. Tổ chức tuyên truyền, giáo dục pháp luật
Tổ chức tuyên truyền, vận động, hướng dẫn người dân trên địa bàn
tham gia thực hiện các quy định của pháp luật về cư trú, về tạm trú, tạm vắng
là một yêu cầu tất yếu. Đây là việc quán triệt quan điểm lấy nhân dân làm gốc
của Đảng, nhà nước trên lĩnh vực quản lý nhà nước về tạm trú, tạm vắng.
Hoạt động tuyên truyền, giáo dục pháp luật về cư trú, tạm trú, tạm vắng có ý
nghĩa quyết định đến chất lượng và hiệu quả quản lý nhà nước ở lĩnh vực này.
Muốn phát huy vai trò của nhân dân trong quản lý nhà nước và tạo điều kiện
18