BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NỘI VỤ
…………/…………
……/……
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
JANG TAI MIN
SO SÁNH PHÁP LUẬT VỀ PHÒNG, CHỐNG THAM
NHŨNG CỦA VIỆT NAM VÀ HÀN QUỐC
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH QUẢN LÝ CÔNG
TP. HỒ CHÍ MINH - NĂM 2017
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NỘI VỤ
…………/…………
……/……
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
JANG TAI MIN
Jang Tai Min
ii
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn “So sánh pháp luật về phòng, chống tham
nhũng của Việt Nam và Hàn Quốc” là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Nội dung của Luận văn dựa trên quan điểm cá nhân của học viên, trên cơ sở
nghiên cứu lý luận, tổng hợp thực tiễn với sự hƣớng dẫn khoa học của PGS.
TS. Phạm Minh Tuấn.
Các số liệu đƣợc trình bày trong luận văn đƣợc thu thập từ nhiều nguồn
số liệu và liên hệ thực tế để viết ra. Không sao chép bất kỳ công trình của tác
giả nào. Các số liệu kết quả trong luận văn đều trung thực và có nguồn gốc rõ
ràng. Tôi xin chịu trách nhiệm về đề tài nghiên cứu của bản thân.
Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2017
Học viên
Jang Tai Min
iii
DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Tóm tắt chế độ phòng, chống tham nhũng của Hàn Quốc ............. 27
Bảng 2.2: Bảng các hành vi xâm phạm lợi ích công cộng............................. 55
iv
1.1.2.4 Nguyên nhân tham nhũng ở Việt Nam và Hàn Quốc ................... 16
1.1.3 Hậu quả của tham nhũng .................................................................. 17
1.1.4 Các dạng của tham nhũng ................................................................. 19
1.2 Cơ sở khoa học về phòng, chống tham nhũng .................................. 20
1.2.1 Phòng ngừa tham nhũng ................................................................... 21
1.2.1.1 Quản lý nguồn nhân lực ............................................................. 21
1.2.1.2 Lãnh đạo .................................................................................... 22
1.2.1.3 Xây dựng văn hoá đạo đức và tính chuyên nghiệp ...................... 22
1.2.1.4 Tham gia của cộng đồng............................................................. 22
1.2.2 Trừng phạt tham nhũng .................................................................... 23
1.2.2.1 Các chế tài nghiêm khắc hơn ...................................................... 23
1.2.2.2 Trách nhiệm nội bộ..................................................................... 24
1.2.2.3 Giám sát bên ngoài..................................................................... 24
Chƣơng 2 NỘI DUNG SO SÁNH QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ PHÒNG,
CHỐNG THAM NHŨNG VIỆT NAM VÀ HÀN QUỐC ............................ 27
2.1 Khái lƣợc pháp luật phòng, chống tham nhũng Việt Nam và Hàn Quốc . 27
2.1.1 Pháp luật phòng, chống tham nhũng Hàn Quốc ................................ 27
2.1.2 Pháp luật về phòng chống tham nhũng ở Việt Nam .......................... 32
2.2. Nội dung so sánh pháp luật về phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam và
Hàn Quốc ..................................................................................................... 36
2.2.1. Chế định về hối lộ và nhận hối lộ .................................................... 36
2.2.2. Chế định về công khai tài sản đối với công chức ............................. 40
vi
2.2.3. Chế độ công khai thông tin hành chính ............................................ 45
2.2.4. Mua sắm công ................................................................................. 49
2.2.5. Chế định về tố cáo và bảo vệ ngƣời tố cáo ....................................... 51
2.2.6. Các cơ quan phòng, chống tham nhũng ........................................... 57
Nam cũng hợp tác với quốc tế để nâng cao hiệu quả công cuộc đấu tranh
chống tham nhũng, điển hình tham gia Công ƣớc Liên hiệu quốc về chống
tham nhũng. Ngày 30/06/2009 Chủ tịch nƣớc Nguyễn Minh Triết đã ký Quyết
định số 950/2009/QĐ-CTN về việc phê chuẩn Công ƣớc Liên Hiệp Quốc về
chống tham nhũng và có hiệu lực thi hành đối với Việt Nam từ ngày
18/09/2009. Tuy nhiên, ngoài những kết quả đã đạt đƣợc, tình trạng tham
nhũng đã, đang diễn ra hết sức phức tạp và kéo dài trong bộ máy của hệ thống
chính trị từ trung ƣơng đến địa phƣơng và trong nhiều tổ chức kinh tế. Tham
2
nhũng đang trở thành một trong những nguy cơ đe doạ sự sống còn của chế
độ, Nhà nƣớc Việt Nam. Bởi vậy, đấu tranh chống tham nhũng đã đƣợc Đảng
Cộng sản Việt Nam xác định một trong những yêu cầu cấp bách có ý nghĩa
quan trọng hàng đầu trong giai đoạn hiện nay.
Nghiên cứu về tham nhũng và đấu tranh chống tham nhũng là cả một
hệ thống biện pháp, tìm tòi, sáng tạo, trên cơ sở phát huy vai trò tích cực của
toàn thể đội ngũ cán bộ, công chức, nhân dân. Chính vì vậy, tìm hiểu về pháp
luật phòng, chống tham nhũng, công tác phòng, chống tham nhũng của Việt
Nam và các nƣớc ở Đông Á, nhất là của Hàn Quốc; từ đó so sánh, vận dụng
linh hoạt, có hiệu quả vào tình hình thực tế của mỗi quốc gia là nội dung quan
trọng, cần thiết. Qua đó, có thể đánh giá, rút ra bài học để mỗi quốc gia tham
khảo, học hỏi các kinh nghiệm phòng, chống tham nhũng của nhau là vấn đề
có ý nghĩa lý luận và thực tiễn, chính trị - pháp lý cả Việt Nam và Hàn Quốc.
Với truyền thống hợp tác tốt đẹp giữa hai nƣớc trên mọi lĩnh vực,
chống tham nhũng là một trong những lĩnh vực mà cả Việt Nam và Hàn Quốc
đều quan tâm thì sự trao đổi, nghiên cứu kinh nghiệm và thực tiễn của hai
nƣớc sẽ giúp ích rất nhiều cho công tác phòng, chống tham nhũng.
Trong nghiên cứu này tác giả sẽ so sánh pháp luật phòng, chống tham
không bị trừng phạt.
Những vƣớng mắc về hành chính nhƣ: kê khai tài sản, trách nhiệm của
ngƣời đứng đầu cơ quan, đơn vị nơi để xảy ra hành vi tham nhũng, các hình
thức xử lý kỷ luật đƣợc áp dụng nhằm thực hiện những quy định này còn yếu
và không thực sự hiệu quả. Những quy định về xử lý kỷ luật hiện có trong các
văn bản pháp luật về công chức, viên chức lẽ ra nên đƣợc quy định trong Luật
phòng, chống tham nhũng.
4
Các cơ quan điều tra chuyên trách của Việt Nam thiếu một số quyền
hạn cần thiết và năng lực để tiến hành điều tra tội phạm về tham nhũng có
hiệu quả. Nhƣ quyền tiếp cận các báo cáo, quyết toán và giao dịch tài chính
đáng ngờ và quyền đƣợc ghi âm bí mật.
Các luật và quy định về điều tra, truy tố, xét xử của Việt Nam chƣa chú
trọng đảm bảo “tính độc lập”. Các cơ quan chống tham nhũng còn bị chi phối
bởi nhiều bên liên quan, quá trình xử lý tham nhũng cũng trải qua trình tự kéo
dài và dễ bị tác động tới kết quả xử lý. Đối với việc điều tra và truy tố những
vụ án tham nhũng, phải có quy định riêng tăng cƣờng sức mạnh cho các cơ
quan điều tra, truy tố và xét xử hành vi tham nhũng; bảo đảm sự vô tƣ, khách
quan ở mức cao nhất có thể, đồng thời xây dựng cơ chế theo dõi và giám sát
có hiệu quả nhằm ngăn ngừa sự lạm quyền.
(2) Bài viết “Nghiên cứu về chiến lƣợc phòng, chống tham nhũng ở
Hàn Quốc” của Yoo Mun Mu đã nhận định rằng Hàn Quốc là một trong
những quốc gia tham nhũng nhất ở Châu Á. Tham nhũng ở Hàn Quốc làm sai
lệch toàn bộ cấu trúc của xã hội, làm suy thoái nền kinh tế thông qua việc biến
dạng môi trƣờng kinh doanh, làm suy yếu sự ổn định chính trị và có những
ảnh hƣởng gây tổn hại nhất đến các giá trị xã hội thông qua nguy cơ về đạo
đức.
độ của mình để thúc đẩy sự tôn trọng pháp luật. Để phòng ngừa các hành vi
tham nhũng có hiệu quả, việc vi phạm pháp luật và các quy định của các cơ
quan tƣ pháp cần phải bị trừng phạt, cho phép ngƣời Hàn Quốc tin tƣởng vào
vai trò và quyền hạn của các cơ quan tƣ pháp, từ đó sẽ tiêu diệt tham nhũng
trong xã hội Hàn Quốc.
(4) Hai tác giả Kim Yoo Keun và An Su Gil đã nghiên cứu về “cải cách
luật chống tham nhũng” đã nhận định: Tham nhũng có thể đƣợc định nghĩa là
6
hành vi của một nhân viên có lợi từ ngƣời thứ ba và cho ngƣời thứ ba lợi ích
bằng cách vi phạm nghĩa vụ của mình. Nếu ngƣời tham nhũng là công chức
thì tham nhũng đƣợc phân loại là “tham nhũng trong khu vực công”. Ngƣời
tham nhũng và ngƣời hối lộ đều là dân thƣờng, tham nhũng thuộc “tham
nhũng trong khu vực tƣ nhân”.
Tham nhũng trong khu vực tƣ nhân có thể đƣợc tìm thấy trong thực tế
là tham nhũng vi phạm nghĩa vụ quản lý kinh doanh của ngƣời khác, vi phạm
công bằng hoặc cản trở cạnh tranh công bằng. Trong lĩnh vực tƣ nhân, tham
nhũng thƣơng mại phải bị buộc tội để đảm bảo công bằng. Các nhà lập pháp
không chỉ bảo vệ công bằng trong kinh doanh mà còn trong các lĩnh vực khác
của đời sống xã hội.
Tham nhũng trong khu vực tƣ nhân, đƣợc phân chia trong nhiều luật
khác nhau, thành ba nhóm: các điều khoản để bảo vệ hàng hoá hợp pháp
“quản lý kinh doanh công bằng”, quy định để bảo vệ sự hợp pháp “cạnh tranh
công bằng” và các quy định để bảo vệ hai hàng hoá hợp pháp cùng một lúc.
Điều này có thể giúp cải thiện và hệ thống hoá các quy định chống lại tham
nhũng trong khu vực tƣ nhân.
(5) You Hee Sang nghiên cứu về “vai trò của Viện thanh tra và kiểm
soát Hàn Quốc (BAI)” cho rằng: nhận thức của ngƣời dân về tham nhũng
vụ sau:
Thứ nhất, trình bày cơ sở khoa học về tham nhũng và phòng, chống
tham nhũng;
Thứ hai, so sánh luật phòng, chống tham nhũng Việt Nam và Hàn Quốc;
8
Thứ ba, nêu lên một số bài học kinh nghiệm và khuyến nghị chính sách
về xây dựng và áp dụng pháp luật về phòng, chống tham nhũng đối với Hàn
Quốc và Việt Nam.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng của nghiên cứu
Đối tƣợng nghiên cứu của đề tài là so sánh các quy định của pháp luật
về phòng, chống tham nhũng của Hàn Quốc và Việt Nam.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung: Phạm vi nghiên cứu đƣợc giới hạn là hệ thống pháp luật
về phòng, chống tham nhũng của Hàn Quốc và Việt Nam.
Về thời gian: Đề tài nghiên cứu hệ thống pháp luật về phòng, chống
tham nhũng của Việt Nam kể từ khi Luật Phòng, chống tham nhũng năm
2005 ra đời và của Hàn Quốc từ năm 2001 đến nay.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phƣơng pháp luận chủ nghĩa duy vật biện chứng và
chủ nghĩa duy vật lịch sử khi nghiên cứu, phân tích, đánh giá và so sánh
trong đó, phƣơng pháp so sánh là chủ yếu. Sử dụng các phƣơng pháp chuyên
ngành của khoa học hành chính nhƣ:
Phƣơng pháp luận biện chứng.
Phƣơng pháp phân tích – tổng hợp.
Phƣơng pháp lịch sử, so sánh, đối chiếu.
Phƣơng pháp quy nạp – diễn dịch.
CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ THAM NHŨNG VÀ PHÒNG,
CHỐNG THAM NHŨNG
1.1 Cơ sở khoa học về tham nhũng
1.1.1 Định nghĩa
Tham nhũng là thuật ngữ đƣợc sử dụng phổ biến trong khoa học chính
trị, luật, hành chính... Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về tham nhũng,
chẳng hạn: Theo Liên hiệp quốc (1969, dẫn theo Thanh tra Chính phủ 2011),
tham nhũng trong phạm vi hẹp là sự lợi dụng chức vụ để trục lợi riêng. Theo
Khoản 2 Điều 1 Luật Phòng, chống tham nhũng Việt Nam năm 2005 thì tham
nhũng là hành vi của ngƣời có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền
hạn đó vì vụ lợi.
Các hành vi tham nhũng bao gồm: Tham ô tài sản; nhận hối lộ; lạm
dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản; lợi dụng chức vụ, quyền hạn
trong khi thi hành nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi; lạm quyền trong khi thi hành
nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi; lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hƣởng với
ngƣời khác để trục lợi; giả mạo trong công tác vì vụ lợi; đƣa hối lộ, môi giới
hối lộ đƣợc thực hiện bởi ngƣời có chức vụ, quyền hạn để giải quyết công việc
của cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc địa phƣơng vì vụ lợi; lợi dụng chức vụ,
quyền hạn sử dụng trái phép tài sản của Nhà nƣớc vì vụ lợi; nhũng nhiễu vì vụ
lợi; không thực hiện nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi; lợi dụng chức vụ, quyền hạn
để bao che cho ngƣời có hành vi vi phạm pháp luật vì vụ lợi; cản trở, can thiệp
trái pháp luật vào việc kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử,
thi hành án vì vụ lợi (Điều 3 Luật phòng chống tham nhũng 2005).
Khái niệm về tham nhũng thì tùy theo không gian, thời gian và bối cảnh
11
văn hóa của xã hội mà nó đƣợc nhận thức khác nhau. Trƣớc đây, những món
nhận lời giúp đỡ không minh bạch. Thông qua việc này, Hàn Quốc đang đƣợc
đánh giá là quốc gia đang làm cho chế độ phòng, chống tham nhũng tiến lên
một bƣớc vì hành vi tham nhũng không chỉ là sự tham nhũng theo khái niệm
truyền thống của nó mà nó còn là hành vi cho – nhận những vật phẩm có giá
trị, yêu cầu bất chính và cho dù không có hƣởng lợi gì từ việc nhận lời giúp đỡ
thì nó cũng đƣợc quy vào hành vi tham nhũng.
Theo David Iyanda (2012) tham nhũng là một vấn đề xã hội xảy ra với
các mức độ và hình thức khác nhau trong tất cả các xã hội. Tham nhũng đƣợc
định nghĩa là việc sử dụng bất hợp pháp quyền lực hoặc ảnh hƣởng của một
quan chức chính phủ để làm giàu cho mình hoặc tiếp tục kéo dài nhiệm kỳ của
mình hoặc cho ngƣời khác gây thiệt hại cho công chúng, vi phạm lời tuyên thệ,
vi phạm các công ƣớc hoặc luật đang có hiệu lực. Scott (1972, dẫn từ Iyanda
2012) cho rằng tham nhũng phải đƣợc hiểu là một phần thƣờng xuyên, lặp lại
và không thể tách rời trong hoạt động của hầu hết hệ thống chính trị.
Ngwakwe Ezenwa (2009, dẫn từ David Iyanda 2012) đã định nghĩa
tham nhũng từ góc độ kinh tế nhƣ sau: tham nhũng là các hoạt động phi bạo
lực và bất hợp pháp liên quan với mục tiêu làm giàu bất chính cho cá nhân
hoặc nhóm hoặc tổ chức bằng cách điều khiển hoạt động kinh tế và điều hành
của Chính phủ.
Theo Richard Record (2005) tham nhũng là một quá trình theo định
hƣớng, đó là tham nhũng bằng cách nào đó thay đổi quá trình “bình thƣờng”
của xã hội. Hành vi tham nhũng là một hành vi gây tổn hại đến lợi ích công
cộng hoặc lợi dụng vị trí vì lợi ích cá nhân. Ngoài tham nhũng kinh tế, tác giả
còn đề cập đến tham nhũng chính trị. Tham nhũng kinh tế là nơi mà việc trao
đổi diễn ra mang lại lợi ích kinh tế cho cả hai bên, chẳng hạn nhƣ việc bán
13
giấy phép của các quan chức cho các công ty.
cấp phép… sẽ dẫn đến việc tìm kiếm đặc quyền từ tƣ nhân. Điều này sẽ dẫn
đến sự thỏa hiệp của quan chức với tƣ nhân để phân chia lợi nhuận, thƣờng là
sử dụng các công ty “gia đình” để hƣởng lợi ích từ Chính phủ mà không bị
phát hiện.
1.1.2.2 Nguyên nhân về văn hóa – xã hội
Nghiên cứu về mặt văn hóa – xã hội đã chỉ ra rằng chính sự khác biệt về
môi trƣờng xã hội và tham vọng thành công của các thành viên trong xã hội là
nguyên nhân gây ra tham nhũng. Xã hội càng đề cao sự thành công về mặt xã
hội nhƣng việc tiếp cận cơ hội thành công ấy không bình đẳng thì vấn đề tham
nhũng càng trở nên nghiêm trọng. Do đó, các thành viên trong xã hội sẽ tiếp
cận đến các mục tiêu bằng những phƣơng pháp không chính thống để đạt đƣợc
thành công (Seymour M. Lipset và Gabriel S. Lenz 2000). Hơn nữa, quốc gia
càng coi trọng chủ nghĩa bản thân thì càng có khuynh hƣớng chỉ số tham
nhũng cao, chủ nghĩa gia đình cũng bao gồm trong đó. Những thành viên trong
xã hội mà chủ nghĩa gia đình đƣợc nhấn mạnh thì họ độc đoán đối với những
cộng đồng khác và vì tinh thần trách nhiệm đối với gia đình mình do đó chỉ số
tham nhũng thì cao (Ka Sang Joon 2006).
Khi xã hội coi trọng các mối quan hệ gia đình, chủ nghĩa gia đình vẫn
còn chi phối thì xu hƣớng những ngƣời có cùng quan hệ gia đình, quê
quán…sẽ đƣợc hƣởng những ƣu tiên khi giao dịch với công chức nhà nƣớc.
Quan điểm này đƣợc thể hiện trong việc tuyển dụng nhân sự, quy hoạch và bổ
nhiệm, ƣu tiên cho các công ty “gia đình”… điều này bóp méo quy trình tuyển
dụng, bổ nhiệm và phân bổ nguồn lực.
15
1.1.2.3 Nguyên nhân thể chế
Một quan điểm khác về nguyên nhân của tham nhũng là “quan điểm thể
chế”. Nó nhấn mạnh vai trò của các thể chế (đƣợc định nghĩa rộng rãi bao gồm
dụng công cụ chính sách sẽ làm tăng quy mô bộ máy, tạo ra những nhóm
quyền lực với chung lợi ích, làm vô hiệu hóa tất cả các biện pháp chống tham
nhũng.
Ngoài ra, các cơ quan công quyền kiểm soát tham nhũng yếu kém và
không hiệu quả là nguyên nhân gây ra tham nhũng. Các tổ chức này bao gồm
các nhóm công chức có quyền lực, đảng phái chính trị và các phƣơng tiện
truyền thông có thể phơi bày những hành động sai trái và hệ thống tƣ pháp có
thẩm quyền để truy tố và phạt kẻ phạm tội.
1.1.2.4 Nguyên nhân tham nhũng ở Việt Nam và Hàn Quốc
Theo Hoàng Chí Bảo (2014) tham nhũng nặng nề ở Việt Nam có
nguyên nhân từ sự yếu kém của thể chế, tính nửa vời trong chỉ đạo thực hiện
và sự thoái hóa của không ít quan chức, công chức trong bộ máy, thậm chí
tham nhũng có cả trong hoạt động tƣ pháp, trong điều tra, truy tố, xét xử, thi
hành án. Tình trạng pháp luật có, pháp chế cũng có nhƣng pháp trị thì không
hoặc yếu kém và hình thức, là một thực tế phổ biến hiện nay. Trực tiếp dẫn
đến tham nhũng, dung dƣỡng tham nhũng, làm cho tham nhũng trở thành vấn
nạn đến mức nguy hiểm lại thuộc về chủ quan trong hệ thống tổ chức bộ máy,
trong các cơ quan lãnh đạo, quản lý với luật pháp - cơ chế - chính sách chứa
đựng rất nhiều bất ổn đang phải ra sức sửa chữa, tháo gỡ.
Tại Hàn Quốc, vấn đề kinh tế không phải là nguyên nhân chủ yếu của
tham nhũng. Đối với nguyên nhân phát sinh tham nhũng thì đa số ý kiến ngƣời
dân đều cho rằng chính văn hóa xã hội là nguồn gốc phát sinh tham nhũng.
17
Hiện nay làn sóng chỉ trích liên tục xuất hiện khi ngƣời ta cho rằng việc cải
thiện vấn nạn tham nhũng đang trở nên thấp so với qui mô phát triển kinh tế.
Trên thực tế, tổng sản phẩm quốc nội trên 1 đầu ngƣời trong năm 2016
(GDP) là hơn 27.000 USD nhƣng theo chỉ số nhận thức tham nhũng (CPI) của