BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NỘI VỤ
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
TRẦN THẢO NGUYÊN
XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH
TRONG LĨNH VỰC GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ
Ở TỈNH TUYÊN QUANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH
MÃ SỐ: 60 38 01 02
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. NGUYỄN MINH SẢN
Hà Nội, năm 2017
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến Ban Giám đốc Học viện
Hành chính quốc gia, khoa sau đại học cùng các thầy, cô giáo của Học viện
Hành chính quốc gia đã tận tình giảng dạy cho tôi học tập chương trình Thạc
sĩ luật Hiến pháp và luật hành chính.
Tôi xin chân thành cảm ơn thầy giáo TS. NGUYỄN MINH SẢN đã
tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi hoàn thiện luận văn này.
Tôi xin cảm ơn lãnh đạo, cán bộ Phòng Cảnh sát giao thông tỉnh
Tuyên Quang đã tạo điều kiện cho tôi trong quá trình thu thập tài liệu và
nghiên cứu luận văn.
1.2. Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ ... 25
1.2.1. Khái niệm xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao
thông đường bộ ......................................................................................... 25
1.2.2. Đặc điểm xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao
thông đường bộ ......................................................................................... 26
1.2.3. Hình thức, nguyên tắc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh
vực giao thông đường bộ .......................................................................... 28
1.2.4. Thẩm quyền, thủ tục xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh
vực giao thông đường bộ .......................................................................... 37
1.3. Các yếu tố ảnh hưởng tới xử phạt vi phạm hành chính trong
lĩnh vực giao thông đường bộ.................................................................... 46
1.3.1. Chất lượng của pháp luật ................................................................ 46
1.3.2. Tổ chức thực hiện pháp luật pháp luật ............................................ 47
1.3.3.Công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện pháp luật và xử phạt
nghiêm minh những vi phạm pháp luật .................................................... 48
1.3.4.Ý thức pháp luật của cán bộ công chức và nhân dân....................... 49
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 ............................................................................ 50
Chương 2. THỰC TRẠNG XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH
TRONG LĨNH VỰC GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ Ở TỈNH TUYÊN
QUANG .......................................................................................................... 51
2.1. Khái quát tình hình giao thông đường bộ ở tỉnh Tuyên Quang..... 51
2.1.1. Vị trí địa lý ...................................................................................... 51
2.1.2.Dân cư .............................................................................................. 54
2.2. Phân tích thực trạng xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh
vực giao thông đường bộ ở tỉnh Tuyên Quang ....................................... 56
2.2.1.Tình hình vi phạm hành chính trong giao trong đường bộ
những năm gần đây ................................................................................... 56
2.2.2.Thực trạng hoạt động xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực
KẾT LUẬN .................................................................................................. 112
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ....................................................... 1
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
ATGT
: An toàn giao thông
ATGTĐB : An toàn giao thông đường bộ
GTĐB
: Giao thông đường bộ
QLNN
: Quản lý nhà nước
QPPL
: Quy phạm pháp luật
TNGT
: Tai nạn giao thông
TNGTĐB : Tai nạn giao thông đường bộ
TTATXH : Trật tự an toàn xã hội
UBND
kinh tế, hoạt động giao thông được xem như mạch máu của nền kinh tế quốc
dân. Sự hình thành, tồn tại và phát triển ở mỗi vùng đô thị, khu kinh tế phụ
thuộc vào quy mô tổ chức hoạt động giao thông và yêu cầu đảm bảo trật tự,
an toàn giao thông của quốc gia đó. Đảm bảo trật tự, an toàn giao thông là yêu
cầu, nhiệm vụ cơ bản của mọi quốc gia; là điều kiện để phát triển kinh tế,
củng cố an ninh, quốc phòng và ổn định trật tự xã hội.
Nhận thức vai trò quan trọng của trật tự, an toàn giao thông đường bộ,
những năm qua, Đảng, Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản chỉ đạo và các
văn bản quy phạm pháp luật như: Chỉ thị số 22-CT/TW ngày 22/4/2003, Chỉ
thi ̣ số 18-CT/TW ngày 04/9/2012 của Ban Bí thư Trung ương Đảng; Luật
giao thông đường bộ năm 2001, năm 2008; các Nghị quyết số 14/2002/NQQH11 ngày 16/12/2002 của Quốc hội; Nghị quyết số 13/2002/NQ-CP ngày
19/11/2002, Nghị quyết số 32/2007/NQ-CP ngày 29/6/2007 và Nghị quyết số
88/2011/NQ-CP ngày 24/6/2011 của Chính phủ về một số giải pháp cấp bách
nhằm kiềm chế tai nạn giao thông và ùn tắc giao thông, v.v… Đặc biệt, quy
hoạch phát triển giao thông vận tải đường bộ Việt Nam đến năm 2020, định
hướng đến năm 2030; Chiến lược quốc gia bảo đảm trật tự, an toàn giao thông
đường bộ đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030, được xây dựng nhằm
thiết lập kỷ cương và từng bước ổn định tình hình trật tự, an toàn giao thông
đường bộ trên phạm vi cả nước.
1
Tuy nhiên, trong điều kiện kết cấu hạ tầng giao thông nói chung, kết
cấu hạ tầng giao thông đường bộ nói riêng chưa đáp ứng được yêu cầu phát
triển kinh tế, xã hội thì hoạt động quản lý nhà nước về trật tự, an toàn giao
thông đường bộ đã và đang bộc lộ nhiều yếu kém, bất cập; hệ thống văn bản
quy phạm pháp luật về giao thông đường bộ và xử phát vi phạm hành chính
(XPVPHC) trong trong lĩnh vực giao thông đường bộ (GTĐB) thiếu tính
đồng bộ, tính thống nhất; quy định về XPVPHC trong trong lĩnh vực GTĐB
3.704.806 xe mô tô, xe gắn máy và trên 61 nghìn phương tiện khác. Phân tích
các hành vi vi phạm cho thấy: vi phạm chạy quá tốc độ quy định chiếm
16,85%; vi phạm đi không đúng phần đường, làn đường chiếm 10,87%; vi
phạm tránh, vượt không đúng quy định chiếm 0,35%; vi phạm chở quá số
người quy định chiếm 1,58%; vi phạm quy định về nồng độ cồn khi điều
khiển phương tiện chiếm 1,64%; vi phạm chở hàng quá tải chiếm 1,39%; xe ô
tô vi phạm không đảm bảo hoặc không đủ thiết bị an toàn chiếm 1%; vi phạm
chuyển hướng không đúng nơi quy định chiếm 0,46%; điều khiển phương tiện
không có giấy phép lái xe chiếm 3,5%; không chấp hành tín hiệu giao thông
chiếm 0,4%; người ngồi trên xe mô tô, xe gắn máy không đội mũ bảo hiểm
hoặc đội mũ bảo hiểm không đúng quy cách chiếm 37,23%, v.v... Mặc dù,
Chính phủ, Bộ Công an, Bộ Giao thông vận tải và Uỷ ban nhân dân các cấp
đã huy động các lực lượng Cảnh sát cơ động, Cảnh sát hình sự, Cảnh sát trật
tự, Cảnh sát cơ động phản ứng nhanh, Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự
xã hội, lực lượng Công an xã, Thanh tra giao thông và các lượng khác tham
gia thực hiện nhiệm vụ bảo đảm trật tự, an toàn giao thông đường bộ, tuần tra,
kiểm soát, thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm theo quy định của pháp luật
nhưng tình hình vi phạm pháp luật về trật tự, an toàn giao thông đường bộ vẫn
còn diễn biến phức tạp và ngày càng gia tăng.
Đề quản lý nhà nước về trật tự, an toàn giao thông đường bộ
(TTATGTĐB) có sự đổi mới cơ bản, bền vững và tăng cường hiệu lực, hiệu
quả xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực GTĐB đã đặt ra nhiều vấn đề lý
3
luận, pháp lý cần phải giải đáp thấu đáo, có căn cứ khoa học và thực tiễn. Vì
vậy, việc nghiên cứu đề tài "Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực
giao thông đường bộ ở Tỉnh Tuyên Quang" là yêu cầu tất yếu khách quan,
cấp thiết cả về lý luận và thực tiễn.
Cuốn sách chuyên khảo về “Trật tự, an toàn giao thông đường bộ trên
địa bàn 5 thành phố trực thuộc Trung ương - Thực trạng và giải pháp”, Nxb.
Công an nhân dân, Hà Nội năm 2014 của tập thể tác giả: Đại tá, PGS,TS.
Phạm Đình Xinh; Thượng tá, ThS. Phùng Xuân Hào; Thiếu tá, TS. Lê Huy
Trí; Đại úy, TS. Nguyễn Thành Trung; Đại úy, ThS. Đặng Đức Minh; Trung
úy, ThS. Nguyễn Đức Khiêm; Trung úy, ThS. Nguyễn Thế Anh và cán bộ
Trung tâm Nghiên cứu An toàn giao thông, Học viện Cảnh sát nhân dân đã
tập trung làm rõ đặc điểm, tình hình TTATGTĐB trên địa bàn 5 thành phố
trực thuộc Trung ương về vị trí địa lý, dân cư, tình hình kinh tế - xã hội; kết
cấu đường bộ; số lượng, hoạt động vận tải của phương tiện giao thông trên
mạng lưới đường bộ; phân tích thực trạng bảo đảm TTATGTĐB trên địa bàn
5 thành phố trực thuộc Trung ương trong giai đoạn 2011-2013; đánh giá
chung về tình hình TTATGT đường bộ và thực trạng bảo đảm TTATGTĐB
trên địa bàn 5 thành phố trực thuộc Trung ương; dự báo xu hướng phát triển
của loại hình GTĐB và đề xuất giải pháp bảo đảm TTATGTĐB trên địa bàn 5
thành phố trực thuộc Trung ương trong thời gian tới, gồm: tăng cường lãnh
đạo, chỉ đạo của các cấp ủy đảng trên địa bàn các thành phố; xác định rõ trách
nhiệm quản lý của chính quyền các cấp; xây dựng và hoàn thiện hạ tầng
GTĐB và tổ chức GTĐB; giảm thiểu tai nạn GTĐB, ùn tắc giao thông
(UTGT) và đấu tranh phòng chống tội phạm hoạt động trên các tuyến GTĐB
của lực lượng Cảnh sát nhân dân: tăng cường công tác tuần tra, kiểm soát trên
các tuyến và địa bàn trọng điểm thường xảy ra tai nạn GTĐB; xây dựng các
chuyên đề và mở các cao điểm tuần tra kiểm soát, tập trung xử lý các hành vi
vi phạm TTATGTĐB; tăng cường công tác điều tra cơ bản về tổ chức giao
5
thông trên các tuyến, địa bàn trọng điểm thường xảy ra tai nạn giao thông;
đấu tranh phòng, chống tội phạm hoạt động trên các tuyến GTĐB.
năm 2015 tại Trường Đại học Giao thông vận tải. Luận án đã xây dựng cơ sở
lý luận về an toàn GTĐB thông qua việc phân tích, làm rõ khái niệm an toàn
GTĐB; các điều kiện bảo đảm an toàn GTĐB và các yếu tố ảnh hưởng đến an
toàn GTĐB, trong đó phân tích sâu về các khía cạnh kết cấu hạ tầng, phương
tiện, người điều khiển phương tiện và môi trường; luận án phân tích thực
trạng an toàn GTĐB ở Việt Nam và đưa ra kết luận: tai nạn giao thông thường
xảy ra do sự kết hợp của nhiều yếu tố chủ quan và khách quan, vì vậy cần
phải có giải pháp đồng bộ mới có thể phát huy tối đa hiệu quả của từng giải
pháp; trên cơ sở đó, luận án đề xuất các giải pháp có tính đồng bộ, hệ thống
nhằm bảo đảm GTĐB ở Việt Nam đến năm 2020 và định hướng đến năm
2030. Đồng thời, luận án đã đề xuất một số kiến nghị với Quốc hội, Chính
phủ, các bộ, ban ngành, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố về việc bổ sung
những quy định trong luật, nghị định, thông tư, cũng như phối hợp thực hiện,
v.v… nhằm triển khai thực hiện các giải pháp trên trong điều kiện Việt Nam.
Bên cạnh đó cong một số luận văn thạc sỹ của: Nguyễn Quang Huy
(2007), Thực hiện pháp luật trong lĩnh vực đảm bảo trật tự an toàn giao
thông (qua thực tế tỉnh Thái Nguyên). Luận văn thạc sỹ Luật học, Đại học
quốc gia Hà Nội; Đào Văn Minh (2008), Quản lý nhà nước bằng pháp luật về
trật tự an toàn giao thông đường bộ của chính quyền cơ sở ở tỉnh Thanh Hóa
hiện nay. Luận văn thạc sỹ bảo vệ tại Học viện Chính trị- Hành chính quốc
gia Hồ Chí Minh; Hồ Thanh Hiền (2012), Xử lý vi phạm hành chính trong
lĩnh vực giao thông đường bộ qua thực tiễn tại thành phố Đà Nẵng, Luận văn
thạc sỹ Luật Đại học quốc gia Hà Nội.
Ngoài ra, còn một số bài viết đăng trên các Tạp chí như: Lý Huy Tuấn:
Quản lý nhà nước trong lĩnh vực giao thông đô thị, Tạp chí Quản lý nhà
nước, số 3 - 2003; Nguyễn Thúy Anh: “Đổi mới quản lý nhà nước về giao
7
Thứ hai, phân tích thực trạng XPVPHC trong lĩnh vực GTĐB ở tỉnh
Tuyên Quang; đánh giá chung về những kết quả đạt được, những hạn chế, bất
cập và nguyên nhân của hạn chế, bất cập về XPVPHC trong lĩnh vực GTĐB ở
tỉnh Tuyên Quang.
Thứ ba, trên cơ sở dự báo tình hình, tổng hợp kết quả nghiên cứu, xác
định phương hướng và đề xuất các giải pháp XPVPHC trong lĩnh vực GTĐB
ở tỉnh Tuyên Quang trong thời gian tới.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1. Đối tượng nghiên cứu của luận văn
Đối tượng nghiên cứu của luận văn được xác định là hoạt động
XPVPHC trong lĩnh vực GTĐB ở tỉnh Tuyên Quang.
4.2. Phạm vi nghiên cứu của luận văn
XPVPHC trong lĩnh vực GTĐB ở tỉnh Tuyên Quang là đề tài có nội
dung rộng lớn và phức tạp, dưới góc độ khoa học Luật Hiến pháp và Luật
Hành chính, luận văn chỉ tập trung nghiên cứu hoạt động XPVPHC trong lĩnh
vực GTĐB của chủ thể quản lý là Cảnh sát giao thông ở tỉnh Tuyên Quang từ
năm 2010 đến 2016.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
5.1. Phương pháp luận nghiên cứu của luận văn
Luận văn được nghiên cứu trên cở sở phương pháp luận của chủ nghĩa
Mác - Lênin về duy vật biện chứng và duy vật lịch sử; tư tưởng Hồ Chí Minh
và các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam và pháp luật của Nhà nước
trong lĩnh vực quản lý nhà nước về trật tự, an toàn giao thông đường bộ.
5.2. Phương pháp nghiên cứu của luận văn
Luận văn sử dụng phương pháp tiếp cận của khoa học Luật Hiến pháp và
Luật Hành chính hiện đại, các lý thuyết về quản lý để xây dựng cơ sở khoa học
để giải quyết chủ đề nghiên cứu và các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau:
9
Phương pháp phân tích, tổng hợp: phương pháp này được sử dụng
trong suốt quá trình nghiên cứu đề tài luận văn để giải quyết từng nhiệm vụ
nghiên cứu cụ thể. Phương pháp này hệ thống hóa và làm sáng tỏ cơ sở lý
luận về XPVPHC trong lĩnh vực GTĐB; làm rõ thực trạng XPVPHC trong
lĩnh vực GTĐB ở tỉnh Tuyên Quang để chỉ ra các kết quả đạt được, những
hạn chế, bất cập và nguyên nhân của thực trạng này. Trên cơ sở đó, luận văn
đề xuất phương hướng và giải pháp nhằm bảo đảm hiệu lực, hiệu quả
XPVPHC trong lĩnh vực GTĐB ở tỉnh Tuyên Quang.
Ngoài ra, luận văn còn sử dụng linh hoạt một số phương pháp bổ trợ
khác như mô hình hóa để mô phỏng hiện trạng từng nội dung nghiên cứu, sơ
đồ hóa về tổ chức bộ máy, số lượng, chất lượng cán bộ, công chức và kết quả
XPVPHC trong lĩnh vực GTĐB ở tỉnh Tuyên Quang theo thời gian.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Ý nghĩa lý luận, kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần bổ sung,
hoàn thiện lý thuyết về Luật Hiến pháp và Luật Hành chính. Hệ thống lý
thuyết này là căn cứ trực tiếp để tham chiếu thực tiễn hoạt động XPVPHC
trong lĩnh vực GTĐB ở tỉnh Tuyên Quang. Những kết quả này không chỉ góp
phần nâng cao nhận thức của các tầng lớp nhân dân và cả hệ thống chính trị
trong việc chấp hành pháp luật về TTATGTĐB và khẳng định vai trò quan
trọng của XPVPHC trong lĩnh vực GTĐB mà còn làm sáng rõ những quan
điểm, định hướng của Đảng, Nhà nước ta trong XPVPHC trong lĩnh vực
GTĐB trong thời gian qua.
Ý nghĩa thực tiễn, những kết quả nghiên cứu của luận văn, nhất là
các kết luận khoa học về thực trạng XPVPHC trong lĩnh vực GTĐB ở tỉnh
Tuyên Quang đã trực tiếp cung cấp luận cứ quan trọng cho các cơ quan nhà
nước có thẩm quyền trong hoạch định, thực thi và hoàn thiện chính sách,
pháp luật về trật tự, an toàn giao thông đường bộ và XPVPHC trong lĩnh
1.1.1. Khái niệm vi phạm hành chính
Như chúng ta đã biết, Nhà nước là một tổ chức được xã hội thành lập
nên để thực hiện việc quản lý, phát triển xã hội. Để có thể thực hiện được vai
trò đó, Nhà nước luôn phải tác động lên các quan hệ xã hội bằng một hệ thống
các quy tắc quản lý nhà nước được quy định trong các văn bản quy phạm
pháp luật. Trên thực tế, trong đời sống xã hội luôn xảy ra tình trạng vi phạm
các quy tắc quản lý nhà nước. Các vi phạm đó diễn ra hàng ngày trong đời
sống xã hội, từ những hành vi đơn giản và phổ biến như hút thuốc lá nơi công
cộng, đến những hành vi vi phạm có tính chất nguy hiểm hơn như tham gia
giao thông đường bộ không đội mũ bảo hiểm, đi ngược chiều, lạng lách đánh
võng, gây tai nạn,…hoặc hành vi làm ô nhiễm môi trường, xây dựng trái
phép, trốn thuế… Những hành vi vi phạm rất đa dạng và “có mặt” trong tất cả
các lĩnh vực quản lý nhà nước.
Dưới góc độ lý luận về pháp luật, vi phạm pháp luật được cấu thành bởi
các mặt khách quan, chủ quan, khách thể và chủ thể của nó. Tổng hợp các yếu
tố đó ta có thể hiểu vi phạm pháp luật là hành vi nguy hiểm cho xã hội do chủ
thể có năng lực trách nhiệm pháp lý thực hiện một các cố ý hoặc vô ý xâm hại
đến các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ.
Dựa theo các tiêu chí khác nhau mà vi phạm pháp luật được phân thành
nhiều loại khác nhau. Căn cứ vào khách thể vi phạm, mức độ, tính chất nguy
hiểm cho xã hội của hành vi vi phạm, vi phạm pháp luật được chia thành các
loại sau:
13
- Vi phạm hình sự (tội phạm): là những hành vi nguy hiểm cho xã hội,
có lỗi và được quy định trong bộ luật hình sự.
- Vi phạm hành chính: là những hành vi trái pháp luật, có lỗi nhưng
mức độ nguy hiểm cho xã hội thấp hơn tội phạm, xâm phạm các quan hệ
phương tiện hay mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm hành chính và
hậu quả của vi phạm hành chính.
Hành vi của vi phạm hành chính là những biểu hiện của con người hoặc
tổ chức tác động vào thế giới khách quan qua hình thức bên ngoài cụ thể gây
tác hại đến sự phát triển bình thường của trật tự quản lý. Những biểu hiện này
được kiểm soát và điều khiển bởi ý thức và ý chí của chủ thể vi phạm hành
chính. Hành vi là biểu hiện rõ nhất trong mặt khách quan của vi phạm hành
chính, chúng có ý nghĩa quyết định đến nội dung biểu hiện khác trong mặt
khách quan (hậu quả, công cụ phương tiện, thời gian, địa điểm); đồng thời hành
vi cũng là thể thống nhất giữa mặt khách quan và chủ quan. Hành vi khách
quan của vi phạm hành chính có thể là hành vi hành động hoặc không hành
động. Song dù biểu hiện bằng hình thức nào đi chăng nữa thì nó cũng chỉ bị coi
là vi phạm hành chính khi hành vi đó trái với pháp luật. Hành vi trái pháp luật
hành chính là dấu hiệu pháp lý cơ bản của vi phạm hành chính, nhưng đây
không phải là thuộc tính riêng của vi phạm hành chính. Rất nhiều hành vi tội
phạm cũng là hành vi trái pháp luật hành chính. Để phân biệt vi phạm hành
chính với tội phạm trong trường hợp cả hai loại hành vi có cùng chung khách
thể, người ta lấy tiêu chí là tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi. Hành vi vi
phạm hành chính ít nguy hiểm cho xã hội hơn so với tội phạm hình sự.
Hậu quả và mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm hành chính
và hậu quả của vi phạm hành chính vi phạm hành chính: Chính là tính xâm hại
khách quan của vi phạm hành chính, được thể hiện ở vi phạm hành chính đã
xâm hại hoặc đe dọa xâm hại các quan hệ đã được pháp luật quy định thành
15
quy tắc quản lý nhà nước. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp hậu quả của vi
phạm hành chính được biểu hiện ở các thiệt hại cụ thể về sức khỏe, nhân
phẩm, danh dự, về tự do thân thể của cá nhân hoặc làm thiệt hại về tài sản của
mình là nguy hiểm cho xã hội nhưng vẫn thực hiện. Lỗi vô ý trong vi phạm
hành chính là lỗi của cá nhân hoặc tổ chức thực hiện hành vi trái pháp luật do
vô tình thiếu thận trọng mà không nhân thức được nghĩa vụ pháp lý bắt buộc
mặc dù họ có đầy đủ khả năng xử sự theo đúng nghĩa vụ pháp lý quy định.
Chủ thể của vi phạm hành chính
Khác với luật hình sự xác định chủ thể tội phạm chỉ có thể là cá nhân,
trong luật hành chính chủ thể vi phạm hành chính có thể là cá nhân hoặc tổ
chức; cá nhân hoặc tổ chức chỉ có thể trở thành chủ thể của vi phạm hành
chính khi có năng lực trách nhiệm pháp lý hành chính.
Đối với cá nhân: Cá nhân là chủ thể của vi phạm hành chính bao gồm
công dân Việt Nam và người nước ngoài (trừ những người được hưởng quyền
ưu đãi, miễn trừ ngoại giao và lãnh sự) mà thực hiện hành vi vi phạm hành
chính trên lãnh thổ Việt Nam, vùng đặc quyền kinh tế, vùng tiếp giáp lãnh
hải. Những người này phải có năng lực trách nhiệm hành chính. Năng lực
trách nhiệm pháp lý hành chính thể hiện khả năng nhận thức của con người
với hành vi vi phạm, vì thế hai yếu tố để xác định năng lực pháp lý đối với cá
nhân là: Đạt độ tuổi theo quy định của pháp luật, không mắc bệnh làm mất
khả năng nhận thức của hành vi. Điều 5 Luật xử lý vi phạm hành chính năm
2012 xác định đối tượng bị xử phạt hành chính là cá nhân bao gồm: Người từ
đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi bị xử phạt hành chính về vi phạm hành chính do
cố ý; người từ đủ 16 tuổi trở lên bị xử phạt hành chính về mọi hành vi vi
phạm hành chính (điểm a khoản 1).
Người thuộc lực lượng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân vi phạm
hành chính thì bị xử phạt như đối với công dân khác; trường hợp cần áp dụng
hình thức phạt tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề hoặc đình
17