Tổ chức bộ máy Ban quản lý khu kinh tế đặc biệt cấp tỉnh vùng kinh tế trọng điểm phía Nam (tt) - Pdf 47

BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO

BỘ NỘI VỤ

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

MAI HỮU BỐN

TỔ CHỨC BỘ MÁY BAN QUẢN LÝ
KHU KINH TẾ ĐẶC BIỆT CẤP TỈNH
VÙNG KINH TẾ TRỌNG ĐIỂM PHÍA NAM

Chuyên ngành: Quản lý công
Mã số: 62 34 04 03

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ QUẢN LÝ CÔNG

HÀ NỘI – NĂM 2017


Công trình được hoàn thành tại: Học viện Hành chính Quốc gia
Người hướng dẫn khoa học: 1. PGS.TS. Võ Kim Sơn
2. TS. Đào Đăng Kiên

Phản biện 1: PGS. TS. Lương Thanh Cường
Phản biện 2: GS. TS. Phạm Hồng Thái
Phản biện 3: PGS. TS. Trương Thị Hiền

Luận án được bảo vệ trước Hội đồng đánh giá Luận án cấp Học viện.
Địa điểm: Phòng bảo vệ Luận án Tiến sĩ - Phòng họp B, tầng 2, Nhà A,
Học viện Hành chính Quốc gia. Số 77 - Đường Nguyễn Chí Thanh Quận Đống Đa - Hà Nội.




PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Theo tinh thần Đại hội VI của Đảng (tháng 12 - 1986) về xây dựng nền
kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng nền kinh tế từng
bước CNH, HĐH, hình thành các vùng, cụm công nghiệp lớn trở thành đầu tàu
cho nền kinh tế phát triển bền vững. Sau hơn 20 năm xây dựng và phát triển,
các Khu Kinh tế (KKT), Khu Công nghiệp (KCN), Khu chế xuất (KCX), Khu
Công nghệ cao (KCNC), Khu nông nghiệp công nghệ cao (KNNCNC), Khu
công nghệ sinh thái (KCNST), KCN chuyên ngành, KKT cửa khẩu đã đóng góp
đáng kể vào phát triển kinh tế xã hội Việt Nam. Tính đến tháng 9/2016, cả nước
có 324 KCN, 9 KKT đã được Chính phủ quyết định thành lập; 3 KCNC đã
được thành lập ở 3 miền.Tất cả các loại KCN, KCX, KKT hay KCNC,
KNNCNC đều được trao những quy chế đặc biệt so với các vùng kinh tế còn
lại. Theo thông lệ quốc tế gọi các loại khu đó là Khu Kinh tế đặc biệt (viết tắt là
KKTĐB). Mặc dù, Vùng Kinh tế trọng điểm phía Nam (KTTĐPN) đã hình
thành cùng với các vùng kinh tế trọng điểm khác, nhưng chưa có một cơ quan
nào có thể thực hiện chức năng quản lý toàn bộ cả vùng kinh tế trọng điểm và
cũng chưa có một cơ chế quản lý cụ thể, mang tính đặc trưng cho loại vùng
kinh tế trọng điểm này. Để nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý, tạo môi trường
thông thoáng cho hoạt động của các KKTĐB cần có cơ quan thực hiện chức
năng QLNN các vấn đề mang tính đặc thù của KKTĐB trong mối quan hệ với
trung ương, UBND cấp tỉnh.
Xuất phát từ những yêu cầu có tính khách quan nêu trên, tác giả lựa chọn
nội dung nghiên cứu: “Tổ chức bộ máy Ban Quản lý Khu Kinh tế đặc biệt
cấp tỉnh Vùng Kinh tế trọng điểm phía Nam” làm đề tài Luận án tiến sĩ.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở lý luận về tổ chức bộ máy quản lý

Khu Kinh tế cửa khẩu, Khu Công nghệ cao, Khu Nông nghiệp công nghệ cao,
Khu Công nghiệp sinh thái, v.v...
4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
4.1. Phương pháp luận
Dựa trên chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử, các
quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam và chính sách, pháp luật
của Nhà nước, tác giả luận giải các vấn đề về tổ chức bộ máy Ban Quản lý
KKTĐB theo tư duy logic biện chứng mang tính khách quan.
4.2. Phương pháp nghiên cứu cụ thể
- Phương pháp khảo cứu tài liệu:
Luận án sử dụng phương pháp khảo cứu tài liệu nhằm xây dựng khung lý
thuyết về tổ chức bộ máy của KKTĐB được sử dụng tại chương 1 và chương 2.
2


Đồng thời luận án cũng sử dụng phương pháp này nhằm tìm kiếm các thông tin
số liệu thực tế về thực trạng cơ cấu tổ chức Ban Quản lý KKTĐB tại các tỉnh,
thành vùng KTTĐPN, được mô tả cụ thể trong chương 3. Các tài liệu được sử
dụng đều đảm bảo tính khách quan, pháp lý, cập nhật.
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi:
Mục đích sử dụng phương pháp điều tra bằng bảng hỏi nhằm chủ yếu thu
thập số liệu, thông tin về quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển KKTĐB;
quản lý về đầu tư, môi trường, xây dựng, nguồn nhân lực, trật tự an toàn xã hội
trong KKTĐB; cơ cấu tổ chức bộ máy Ban Quản lý KKTĐB.
- Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia: Luận án còn thu thập ý kiến của các
chuyên gia và các nhà quản lý có liên quan đến công tác quản lý KKTĐB, bao
gồm: công chức lãnh đạo các sở ban, ngành có liên quan và công chức đang làm
việc tại Ban Quản lý KKTĐB trên địa bàn các tỉnh thuộc Vùng KTTĐPN, để có
căn cứ khoa học cho việc rút ra các kết luận một cách chính xác và đề ra các
giải pháp hoàn thiện tổ chức bộ máy Ban Quản lý KKTĐB.

chức bộ máy quản lý các vấn đề xảy ra trên địa bàn lãnh thổ KKTĐB. Các hệ
thống tiếp cận KKTĐB cũng sẽ giúp cho các cơ quan quản lý phân định giữa
KKTĐB với cách thức phân chia đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt (Việt
Nam, Tây Ban Nha, Pháp có các đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt) Thứ hai,
luận án đã dựa vào lý thuyết tổ chức bộ máy của một tổ chức để phân tích, đánh
giá, lựa chọn cách tiếp cận, xây dựng cơ cấu tổ chức bộ máy cơ quan quản lý
KKTĐB. Thứ ba, luận án xây dựng, hình thành một cơ sở lý luận (khung lý
thuyết) để tổ chức bộ máy cơ quan quản lý từng KKTĐB phù hợp với tính chất
đặc biệt của KKTĐB. Đây là điều không chỉ ở Việt Nam, mà các nước đều
quan tâm. Tác giả khẳng định “vùng lãnh thổ đặc biệt” phải có một “tổ chức
đặc biệt” để quản lý các vấn đề xảy ra trên địa bàn lãnh thổ KKTĐB, nhưng
không phải là cấp chính quyền địa phương. Thứ tư, luận án đã phân tích chỉ ra
được những ưu điểm, hạn chế cách thức tổ chức chủ thể quản lý các KKTĐB
của nhiều nước. Từ đó, xem xét với cơ sở lý thuyết chung về cách tổ chức bộ
máy quản lý KKTĐB, để đưa ra những cách tiếp cận nhằm hoàn thiện chủ thể
quản lý KKTĐB cấp tỉnh ở Việt Nam (ở Việt Nam gọi là Ban Quản lý
KKTĐB). Thứ năm, luận án đã mạnh dạn phân tích chi tiết cụ thể cách tiếp cận
về Ban Quản lý KKTĐB ở Việt Nam từ khi hình thành đến nay và đưa ra đề
xuất về cách tổ chức lại Ban Quản lý KKTĐB trên Vùng KTTĐPN cũng như cả
nước. Đó là một chủ thể QLNN trực tiếp tất cả các vấn đề trên địa bàn lãnh thổ
KKTĐB trên cơ sở phân định nội dung QLNN của UBND cấp tỉnh với QLNN
các vấn đề trên địa bàn lãnh thổ KKTĐB. Đây là nền tảng có thể làm tài liệu
tham khảo để hướng đến xây dựng luật về KKTĐB.
7. Cấu trúc của Luận án
4


Cấu trúc của luận án gồm: Ngoài Phần mở đầu, Phần kết luận, phụ lục,
danh mục tài liệu tham khảo. Luận án gồm bốn chương như sau:
Chương 1 : Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài.



Thông qua tổng quan các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về tổ
chức bộ máy Ban Quản lý KKTĐB vùng kinh tế trọng điểm, tác giả luận án
nhận thấy có thể kế thừa từ các tác giả đi trước một số nội dung lý luận sau: Các
công trình nghiên cứu nói trên đã cung cấp cho tác giả một cơ sở lý luận khá
toàn diện về các loại KKTĐB về hình thức, mô hình, bản chất, vai trò của các
KKTĐB; Các công trình nghiên cứu của nước ngoài đã cung cấp cho tác giả
kinh nghiệm về tổ chức bộ máy quản lý KKTĐB. Những kinh nghiệm đó giúp
cho nghiên cứu tổ chức bộ máy quản lý KKTĐB ở Việt Nam nhằm phát triển
kinh tế, nâng cao mức sống cho người dân và tạo công bằng xã hội, năng lực
cạnh tranh và hiệu quả quản lý các KKTĐB; Thực trạng tổ chức bộ máy Ban
Quản lý KKTĐB vùng kinh tế trọng điểm đã được các công trình phân tích làm
rõ, với nguồn số liệu dồi dào, phong phú. Qua đó, tác giả có được cái nhìn khái
quát về thực trạng vấn đề tổ chức bộ máy Ban Quản lý KKTĐB, xác định được
những hướng nghiên cứu thực tiễn chính, những số liệu cần tiếp cận, cũng
thông qua đây, tác giả có cơ sở để xây dựng kế hoạch điều tra, khảo sát địa bàn
nghiên cứu trong lĩnh vực tổ chức bộ máy Ban Quản lý KKTĐB Vùng
KTTĐPN.
Luận án sẽ kế thừa các quan điểm khác nhau về tổ chức bộ máy Ban
Quản lý KKTĐB, để từ đó đưa ra cách hiểu riêng về thuật ngữ này trong luận
án và luận án kế thừa các nghiên cứu đã có trước để luận giải riêng về tổ chức
bộ máy Ban Quản lý KKTĐB Vùng KTTĐPN.
1.2.2. Những vấn đề liên quan đến luận án chưa được đề cập
Có thể nhận thấy, các công trình nghiên cứu trong nước và ngoài nước có
liên quan đến tổ chức bộ máy KKTĐB khá đa dạng và phong phú. Đối với
nhóm công trình ngoài nước, các công trình nghiên cứu tương đối sâu và cụ thể
về tổ chức bộ máy quản lý ở KKTĐB. Tuy nhiên, các nội dung nghiên cứu chủ
yếu đối với các KKTĐB ở nước ngoài như Trung Quốc, Hồng Kông,
Singapore, v.v... Những mô hình tổ chức bộ máy và cơ chế hoạt động của cơ

- Phân tích, đánh giá thực trạng về tổ chức bộ máy Ban Quản lý KKTĐB
Vùng KTTĐPN để chỉ ra những ưu điểm, các kết quả đạt được, các hạn chế cần
khắc phục trong quá trình hoạt động của các cơ quan quản lý này.
- Đề xuất các giải pháp hoàn thiện tổ chức bộ máy Ban KKTĐB cấp tỉnh
theo hướng QLNN trực tiếp tất cả các vấn đề trên KKTĐB.
Chương 2 : CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC BỘ MÁY BAN QUẢN LÝ
KHU KINH TẾ ĐẶC BIỆT CẤP TỈNH
2.1. Khu Kinh tế đặc biệt
2.1.1. Quan niệm về Khu Kinh tế đặc biệt
Từ nhiều cách hiểu khác nhau của cụm từ KKTĐB, và để tránh nhầm với
7


đơn vị hành chính- kinh tế đặc biệt, tác giả luận án quan niệm rằng: “Khu kinh
tế đặc biệt là không gian lãnh thổ xác định nằm trong lãnh thổ quốc gia (nếu
là khu kinh tế đặc biệt cấp quốc gia); lãnh thổ vùng (khu kinh tế đặc biệt cấp
vùng) hoặc lãnh thổ cấp tỉnh được quản lý theo quy chế đặc biệt cho các hoạt
động kinh tế - xã hội nhằm thu hút các nhà đầu tư đến đầu tư sản xuất, kinh
doanh, cung cấp dịch vụ góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội quốc
gia, vùng hoặc tỉnh”. Đây cũng là cơ sở để luận án nghiên cứu các nội dung
liên quan đến tổ chức bộ máy Ban Quản lý KKTĐB.
2.1.2. Phân loại Khu Kinh tế đặc biệt
Phân loại theo tên gọi: Vùng thương mại tự do- Free trade zones; Vùng
chế biến xuất khẩu - Export-processing zones (EPZ); Khu Công nghiệp hay
công viên công nghiệp - Industrial parks; Vùng phát triển công nghệ và kinh tế
- Economic and technology development zones; Khu công nghệ cao - High-tech
zones; Công viên hay khu khoa học và đổi mới - Science and innovation parks;
Cảng tự do- Free ports; Khu Công nghiệp - Enterprise zones; Khu Công nghiệp
sinh thái (Eco-industrial Zone).
Phân loại theo quy mô vùng: KKTĐB quốc gia; KKTĐB nằm ở vùng

Văn bản pháp luật xác lập chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của cơ quan
quản lý KKTĐB; Văn bản pháp luật xác lập về nguồn lực của cơ quan QLNN
KKTĐB; Văn bản pháp luật xác lập mối quan hệ của cơ quan QLNN KKTĐB
với các cơ quan khác trong quản lý ngành và lãnh thổ
2.2.1.2. Thực hiện quản lý nhà nước đối với Khu Kinh tế đặc biệt theo
nguyên tắc “quản lý ngành, lĩnh vực kết hợp với lãnh thổ”
Trên nguyên tắc quản lý ngành, lĩnh vực gắn liền với lãnh thổ nhất định,
quản lý KKTĐB là quản lý những vấn đề thuộc về ngành, lĩnh vực trên địa bàn
ranh giới KKTĐB.
2.2.2. Quản lý hoạt động đầu tư, phát triển, vận hành khai thác và cung
cấp dịch vụ trên địa bàn Khu Kinh tế đặc biệt
Nội dung này có thể chia thành hai phần: Nhóm các hoạt động liên quan
đến cấp phép; Nhóm hoạt động thứ hai gắn liền với các hoạt động đầu tư phát
triển hạ tầng KKTĐB;
2.2.2.1. Quản lý hoạt động cấp phép cho các chủ đầu tư phát triển hạ
tầng, vận hành khai thác, cung cấp dịch vụ : Đây là công việc của cơ quan
QLNN KKTĐB. Như trên đã nêu, tên gọi có thể là Ban Quản lý KKTĐB.
2.2.2.2. Quản lý hoạt động đầu tư phát triển hạ tầng Khu Kinh tế đặc biệt
và cung cấp dịch vụ
Đây là những hoạt động mang tính chất chuyên môn nghiệp vụ nhằm tạo
ra điều kiện để các nhà sản xuất, kinh doanh có thể thực hiện hiệu quả hoạt
động của mình trên địa bàn KKTĐB.
9


2.2.2.3. Chủ thể khai thác, vận hành Khu Kinh tế đặc biệt
Mỗi một KKTĐB sẽ chọn một nhà khai thác, vận hành khu đó. Nhà khai
thác vận hành có thể cùng đồng thời là nhà đầu tư phát triển; hoặc có một chủ
thể khác được nhà đầu tư phát triển ký thỏa thuận để khai thác vận hành
KKTĐB sau khi đã hoàn thành đầu tư phát triển hạ tầng. Nhà khai thác có


pháp luật nhà nước trao trên lĩnh vực QLNN các vấn đề thuộc KKTĐB. Đây là
một trong những thách thức của nhiều cơ quan QLNN. Họ không làm hết và
không làm được những gì pháp luật nhà nước trao. Hiện tượng bỏ sót, làm
không đến kết quả cuối cùng hoặc làm theo “hình thức, phong trào” đã và đang
xảy ra ở Việt Nam trên nhiều lĩnh vực. Hiệu lực không có (hay còn gọi là hiệu
lực thấp). Hiệu quả là một vấn đề sống còn của hoạt động quản lý nói chung,
đặc biệt trong các tổ chức nhà nước. Hiệu quả đồng nghĩa với việc thực hiện
đúng, đủ chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn nhưng với chi phí thấp nhất, trong
đó chi ngân sách nhà nước một cách hợp lý nhất. Điều này đồng nghĩa với việc
càng tiết kiệm hay chi phí ngân sách thấp có thể coi hiệu quả cao.
2.3.2.2. Nguyên tắc Ban Quản lý Khu Kinh tế đặc biệt cấp tỉnh là cơ quan
quản lý nhà nước đa ngành, đa lĩnh vực.
QLNN KKTĐB trên địa bàn lãnh thổ các KKTĐB bao gồm: quy hoạch,
xây dựng, đầu tư, môi trường, lao động, xuất nhập khẩu, an ninh, trật tự, thương
mại, v.v..., nên có thể nói QLNN KKTĐB là quản lý các vấn đề của các ngành,
lĩnh vực xảy ra trên địa bàn lãnh thổ KKTĐB.
2.3.2.3. Nguyên tắc phân định rõ vai trò trách nhiệm của từng chủ thể
quản lý nhà nước Khu Kinh tế đặc biệt: Chính phủ, chính quyền địa phương và
Ban Quản lý Khu Kinh tế đặc biệt.
Để quản lý KKTĐB có hiệu lực, hiệu quả cần xác định rõ chức năng,
nhiệm vụ và quyền hạn của các chủ thể có liên quan đến quản lý các vấn đề
thuộc KKTĐB.
2.3.2.4. Nguyên tắc phối hợp giữa Ban Quản lý Khu Kinh tế đặc biệt cấp
tỉnh với các chủ thể quản lý khác có liên quan đến quản lý nhà nước các vấn đề
trên địa bàn lãnh thổ nói chung.
Ban Quản lý KKTĐB là chủ thể QLNN trực tiếp các vấn đề ngành, lĩnh
vực trên địa bàn lãnh thổ KKTĐB. Tuy nhiên, có thể có những vấn đề, đặc biệt
là những vấn đề liên quan đến đất đai, môi trường, nguồn nhân lực làm việc
trong các KKTĐB, có thể không chỉ xảy ra trên địa bàn lãnh thổ KKTĐB mà có

định mối quan hệ giữa các bộ phận đó. Xác định quan hệ là trực tuyến, quan hệ
là tham mưu.
2.3.4.3. Xác lập mối quan hệ giữa Ban Quản lý KKTĐB với các cơ quan,
tổ chức khác
Để thực hiện cơ chế phối hợp giữa Ban Quản lý KKTĐB cấp tỉnh với các
chủ thể quản lý khác có liên quan đến QLNN các vấn đề trên địa bàn lãnh thổ
KKTĐB, cần phải xác định được mối quan hệ giữa Ban Quản lý KKTĐB với
các cơ quan, tổ chức khác cụ thể, rõ ràng.
2.4. Kinh nghiệm Tổ chức bộ máy quản lý Khu Kinh tế đặc biệt của
một số quốc gia và các giá trị tham khảo cho Việt Nam
12


2.4.1. Kinh nghiệm tổ chức bộ máy quản lý Khu Kinh tế đặc biệt của
các nước
Các quốc gia được lựa chọn mang tính khu vực; lịch sử phát triển cũng
như loại hình và có những nét đặc trưng riêng. Mặt khác, mỗi quốc gia có một
thể chế chính trị, nhà nước khác nhau nên cách thức tổ chức bộ máy QLNN
KKTĐB cũng khác nhau. Tác giả chọn 7 nước để xem xét cách tổ chức bộ máy
QLNN KKTĐB, trong đó có những nước đi đầu trong phát triển KKTĐB như
Trung Quốc, Ấn Độ. Có những nước mới nổi lên như Lào, Cộng hòa Nam Phi.
Hàn Quốc, Philippine và Mỹ có cách tổ chức bộ máy khác với các nước cả
truyền thống lẫn mới nổi.
2.4.2. Các giá trị tham khảo cho Việt Nam khi thành lập tổ chức bộ máy
quản lý Khu Kinh tế đặc biệt
Một là, cần một thể chế QLNN chung cho tất cả các KKTĐB; Hai là, Cần
xác định chức năng, nhiệm vụ thẩm quyền của Chính phủ, chính quyền địa
phương cấp tỉnh và Ban Quản lý KKTĐB trong QLNN đối với KKTĐB hiệu
lực, hiệu quả thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, vùng và cả
nước; Ba là, Cần xác định cơ cấu tổ chức hợp lý, gọn nhẹ, đủ đầu mối đáp ứng

phát triển các KCN đang được quan tâm của các tỉnh Vùng KTTĐPN.
3.1.2.3. Khu Kinh tế
KKT là một dạng khác của KKTĐB ở Việt Nam cũng như ở Vùng
KTTĐPN. Theo văn bản hiện hành, trên địa bàn Vùng KTTĐPN chưa có KKT
nào được thành lập. Hiện nay cả nước có 18 KKT đã được bàn đến và một số đã
đi vào hoạt động. Các KKT tập trung ở Miền Trung.
3.1.2.4. Khu Kinh tế cửa khẩu
Loại thứ 4 của KKTĐB ở Việt Nam và trên địa bàn Vùng KTTĐPN là
KKT cửa khẩu. Đây là một loại hình KKTĐB được thành lập ở những tỉnh có
biên giới với các quốc gia láng giềng.
3.1.2.5. Khu Công nghệ cao
KCNC là dạng thứ 5 KKTĐB trên địa bàn Vùng KTTĐPN, được thành
lập để tập trung thu hút công nghệ cao nhằm tạo ra sản phẩm hàng hóa, dịch vụ
đạt chất lượng cao tạo ra nền tảng kinh tế trí thức. KCNC trên địa bàn Vùng
KTTĐPN chưa có điều kiện phát triển như KCN.
3.1.2.6. Khu Nông nghiệp công nghệ cao
KNNCNC được quan tâm phát triển đầu tiên tại TP. Hồ Chí Minh. Đây
cũng là một dạng đặc biệt của KCNC, khi tập trung vào lĩnh vực nông nghiệp.
Trong bối cảnh là nước nông nghiệp như Việt Nam, Chính phủ quan tâm phát
triển loại KCNC này nhằm tập trung phát triển nông nghiệp [55]. Đến năm
2020 Việt Nam sẽ có 10 KNNCNC.
14


3.1.2.7. Khu Công nghiệp Việt Nam – Singapore
KCN Việt Nam – Singapore (VSIP - Vietnam Singapore Industrial Park)
là tên gọi để chỉ một loại hình KKTĐB được thành lập ở Việt Nam trên cơ sở
liên kết giữa Việt Nam và Singapore ở cấp Chính phủ. Mô hình này tương tự
như mô hình KCN Tô Châu của Trung Quốc cũng liên kết cấp Chính phủ giữa
hai quốc gia. Hiện nay Singapore đã thành lập ở Việt Nam 6 VSIP, trong đó

KCN), KKT ven biển, KKT cửa khẩu (sau đây gọi chung là KKT) và tổ chức
cung cấp dịch vụ hành chính công và dịch vụ hỗ trợ khác có liên quan đến hoạt
động đầu tư và sản xuất kinh doanh cho nhà đầu tư trong KCN, KKT; (2) Ban
Quản lý chịu sự chỉ đạo và quản lý về tổ chức, biên chế, công chức, viên chức,
chương trình kế hoạch công tác và kinh phí hoạt động của UBND cấp tỉnh; chịu
sự chỉ đạo, hướng dẫn và kiểm tra về chuyên môn nghiệp vụ của các Bộ, ngành
quản lý về ngành, lĩnh vực trong công tác quản lý KCN, KKT; có trách nhiệm
phối hợp chặt chẽ với các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh trong
công tác quản lý KCN, KKT; (3) Ban Quản lý có tư cách pháp nhân; tài khoản;
con dấu mang hình quốc huy; sử dụng kinh phí quản lý hành chính nhà nước,
kinh phí hoạt động sự nghiệp và vốn đầu tư phát triển do ngân sách nhà nước
cấp theo kế hoạch hàng năm; nguồn kinh phí khác theo quy định pháp luật.
Về nhiệm vụ và quyền hạn:
Ban Quản lý thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của pháp luật,
phân cấp, ủy quyền của cơ quan có thẩm quyền và các nhiệm vụ, quyền hạn
khác được UBND cấp tỉnh giao [7].
3.2.2.2. Chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của Ban Quản lý KKTĐB
theo dạng thứ 2
Trên địa bàn Vùng KTTĐPN có ba loại KKTĐB chưa đưa vào quy định
chung hay chưa chịu sự quản lý chung của Ban Quản lý theo quy định trong
Thông tư liên bộ: Khu Công nghệ cao TP. Hồ Chí Minh; Khu Nông nghiệp
Công nghệ cao TP. Hồ Chí Minh; VSIP tại Bình Dương.
3.2.3. Cơ cấu tổ chức bộ máy Ban Quản lý Khu Kinh tế đặc biệt
Cơ cấu tổ chức bộ máy Ban Quản lý các KKTĐB trên địa bàn lãnh thổ
Vùng KTTĐPN cũng được tiếp cận theo hai nhóm: Nhóm chung cho Ban để
chỉ chủ thể QLNN nhiều KKTĐB; Nhóm Ban Quản lý một loại KKĐB.
3.2.4. Phối hợp trong hoạt động quản lý nhà nước của Ban Quản lý Khu
Kinh tế đặc biệt cấp tỉnh với các cơ quan hành chính nhà nước khác
Phối hợp giữa Ban Quản lý KKTĐB trên địa bàn cấp tỉnh với các cơ quan
QLNN ngành, lĩnh vực - UBND cấp huyện có KKTĐB; với các cơ quan chuyên

24/2014/NĐ-CP) và nghị định về tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy
ban Nhân dân cấp huyện (Nghị định 37/2014/NĐ-CP), dù các tỉnh và các huyện
có thể mong muốn được lựa chọn một cơ cấu tổ chức phù hợp hơn với địa
phương mình, nhưng tất cả các tỉnh (tỉnh, thành phố trực thuộc TW) cũng như
tất cả các đơn vị cấp huyện đều phải tổ chức chung, giống như quy định.
Về tổ chức Ban quản lý KKTĐB cấp tỉnh cũng tương tự. Thủ tướng
Chính phủ quyết định thành lập các KKTĐB và Thủ tướng Chính phủ ban hành
quyết định quy định cơ cấu tổ chức bộ máy Ban quản lý này. Và tùy theo từng
điều kiện cụ thể có quyết định của Thủ tướng Chính phủ có những quy định
17


khác nhau. Nghị định 29/2008/NĐ-CP, quy định cách thức tổ chức bộ máy của
Ban quản lý KKTĐB và hai bộ cụ thể hóa thành Thông tư 06/2015.
3.3.2. Ưu điểm, hạn chế của tổ chức bộ máy Ban quản lý KKTĐB cấp
tỉnh tại Vùng KTTĐPN
3.3.2.1. Ưu điểm
Thứ nhất, các Ban Quản lý KKTĐB đã chuyển từ cơ quan thuộc UBND
cấp tỉnh thực hiện quản lý KKTĐB sang cơ quan trực thuộc UBND cấp tỉnh
QLNN trực tiếp các vấn đề trên địa bàn KKTĐB. Thứ hai, chức năng, nhiệm vụ
của Ban Quản lý KKTĐB cấp tỉnh đã được cụ thể hóa theo hướng xác định là
chủ thể QLNN trực tiếp KKTĐB [13]; Thứ ba, cơ cấu tổ chức của Ban Quản lý
KKTĐB cấp tỉnh dần được hoàn thiện, đáp ứng được một phần chức năng
QLNN trực tiếp các vấn đề trên địa bàn lãnh thổ KKTĐB như một cơ quan
quản lý lãnh thổ.
3.3.2.2. Hạn chế
Một là, Thông tư 06/2015/TTLT-BKHĐT-BNV quy định 12 nhóm chức
năng, nhiệm vụ và quyền hạn; Hai là, Văn phòng một cửa” trong mô hình tổ
chức bộ máy Ban Quản lý KKTĐB cũng đã được đề cập đến trong Thông tư
06/2015/TTLT-BKHĐT-BNV; Ba là, cơ chế phối hợp Ban Quản lý với các

hạ tầng KCN, nâng cao chất lượng xây dựng kết cấu hạ tầng KCN theo hướng
xây dựng một cách đồng bộ hệ thống hạ tầng kỹ thuật với các tiện nghi, tiện ích
công cộng phục vụ cho KCN; gắn kết cấu hạ tầng trong và ngoài hàng rào
KCN. Bên cạnh đó, cần đa dạng các nguồn vốn để đầu tư xây dựng kết cấu hạ
tầng KCN, hỗ trợ tối đa việc thu hút các nhà đầu tư đến tìm kiếm cơ hội kinh
doanh; Thứ tư, nâng dần tỷ lệ lấp đầy các KCN. Các địa phương cần thực hiện
nghiêm túc quy định tại Nghị định số 164/2013/NĐ-CP; Thứ năm, cải thiện
chất lượng thu hút đầu tư vào KCN. Tập trung ưu tiên thu hút các ngành nghề,
lĩnh vực có hàm lượng công nghệ tiên tiến, hiện đại, thân thiện với môi trường,
các ngành nghề xác định là mũi nhọn phát triển và có lợi thế của Việt Nam và
phù hợp với chương trình tái cơ cấu kinh tế, cơ cấu đầu tư của đất nước. Thứ
sáu, các cơ quan chức năng cần tăng cường hơn nữa công tác thanh tra, kiểm tra
pháp luật về bảo vệ môi trường tại các KCN, xử lý nghiêm các doanh nghiệp vi
phạm, cũng như kiên quyết đình chỉ hoạt động hoặc cấm hoạt động theo quy
định pháp luật.
4.1.2. Xu hướng phát triển Khu Kinh tế đặc biệt ở các địa phương trên
địa bàn Vùng Kinh tế trọng điểm phía Nam
Nằm trong tổng thể chiến lược phát triển chung của cả nước về các
KKTĐB, các tỉnh của Vùng KTTĐPN cũng đang hướng đến tận dụng những ưu
điểm, lợi thế của Quy hoạch phát triển Vùng KTTĐPN đã được Thủ tướng
19


Chính phủ để định hướng phát triển các loại KKTĐB trên địa bàn của từng tỉnh.
4.1.3. Nâng cao hiệu lực hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước đối với
Khu Kinh tế đặc biệt
Để nâng cao hiệu lực, hiệu quả QLNN đối với KKTĐB, góp phần thúc đẩy
kinh tế - xã hội của địa phương thì hoàn thiện cách thức tổ chức bộ máy Ban
Quản lý KKTĐB là một đòi hỏi mang tính tất yếu khách quan. Hoàn thiện để
nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý, cách tổ chức bộ máy Ban Quản lý KKTĐB

Để thực hiện tập trung quyền hạn quyết định thành lập KKTĐB, nên
thành lập Hội đồng thẩm định, phê duyệt thành lập KKTĐB. Hội đồng làm việc
trên cơ sở ý kiến của các chuyên gia, Thủ tướng Chính phủ sẽ đóng vai trò Chủ
tịch Hội đồng quyết định sẽ mang lại hiệu quả hơn khi thành lập KKTĐB.
4.2.2.2. Giải pháp phân cấp trong việc thành lập bộ máy quản lý Khu
Kinh tế đặc biệt
Về tổ chức bộ máy quản lý KKTĐB, cần hiểu hai cấp độ khác nhau. Bộ
máy QLNN KKTĐB và bộ máy quản lý các KKTĐB trên từng địa bàn lãnh thổ
cấp tỉnh. Đây là hai vấn đề như trên đã nêu khá phức tạp hiện nay. Do đó, cần
có một tư duy thay đổi phù hợp với hoạt động quản lý KKTĐB.
a) Cơ quan quản lý nhà nước các KKTĐB cấp Trung ương: Bộ máy
QLNN KKTĐB gắn liền với việc thành lập và trao cho những ưu đãi đặc biệt
cấp độ Trung ương.
b) Ban Quản lý Khu kinh tế đặc biệt
Có hai mô hình. Mô hình thứ nhất, bộ máy quản lý từng KKTĐB đều do
Chính phủ quyết định thông qua quyết định các thành viên của Chính phủ,
chính quyền địa phương và các hiệp hội doanh nghiệp tham gia vào bộ máy
quản lý KKTĐB. Mô hình thứ 2, Chính phủ ủy quyền cho chính quyền địa
phương thành lập chủ thể quản lý KKTĐB, trên nguyên tắc chung được pháp
luật quy định. Việc quyết định thành viên của cơ quan quản lý, đều do chính
quyền địa phương quyết định.
4.2.3. Nhóm giải pháp hoàn thiện về nội dung tổ chức bộ máy Ban
Quản lý Khu Kinh tế đặc biệt cấp tỉnh
4.2.3.1.Giải pháp về sự thống nhất tên chủ thể quản lý nhà nước các loại
Khu Kinh tế đặc biệt là Ban Quản lý Khu Kinh tế đặc biệt cấp tỉnh
Việc sáp nhập tất cả các Ban Quản lý riêng lẻ thành một chủ thể QLNN
tất cả các KKTĐB cấp tỉnh sẽ phù hợp với xu hướng cải cách hành chính ở Việt
Nam cũng như nhiều nước. Cắt giảm bớt đầu mối có chức năng tương tự nhau
và hợp nhất thành một đầu mối sẽ đem lại hiệu quả kinh tế hơn. Mặt khác, sẽ có
cơ hội để phát triển nguồn nhân lực thích ứng.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status