ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
VIỆN MÔI TRƢỜNG VÀ TÀI NGUYÊN
---oOo---
NGUYỄN NHƢ HIỂN
NGHIÊN CỨU XỬ LÝ NITƠ TRONG NƢỚC THẢI
CHẾ BIẾN MỦ CAO SU KẾT HỢP QUÁ TRÌNH
NITRIT HÓA BÁN PHẦN – ANAMMOX TRONG HỆ
BÙN LƠ LỬNG VÀ BÙN GIÁ THỂ
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ KỸ THUẬT
Chuyên ngành: Công nghệ môi trường nước và nước thải
Mã số chuyên ngành: 62.85.06.01
TP. HỒ CHÍ MINH, NĂM 2017
Công trình được hoàn thành tại:
VIỆN MÔI TRƢỜNG VÀ TÀI NGUYÊN
ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Địa chỉ: 142 Tô Hiến Thành, Quận 10, TP. Hồ Chí Minh
Điện thoại: 028.38651132; Fax: 028.38655670
Người hướng dẫn khoa học 1: PGS.TS Nguyễn Phƣớc Dân
Người hướng dẫn khoa học 2: PGS.TS Lê Đức Trung
Phản biện độc lập 1: PGS.TS Trần Đức Hạ
Phản biện độc lập 2: PGS.TSKH Ngô Kế Sƣơng
Phản biện 1: ..............................................................
Nắm bắt tình hình đó cùng với các hạn chế còn tồn tại trong việc xử lý
nước thải chế biến mủ cao su, luận án “Nghiên cứu xử lý nitơ trong nước
thải chế biến mủ cao su kết hợp quá trình nitrit hóa bán phần – Anammox
trong hệ bùn lơ lửng và bùn giá thể” đã tiến hành nhằm góp phần giảm
thiểu tình trạng ô nhiễm môi trường và phát triển bền vững ngành chế biến
mủ cao su.
2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu ứng dụng quá trình kết hợp nitrit hoá bán phần – Anammox ở
điều kiện giới hạn oxy trong cùng một bể phản ứng (Oxygen Limited
Autotrophic Nitritation/Denitrification – OLAND) gồm hệ bùn lơ lửng và
bùn giá thể xử lý nitơ trong nước thải chế biến mủ cao su đã tiền xử lý COD.
3. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Luận án được thực hiện với các nội dung như sau:
- Luận án tổng quan các tài liệu về thành phần, tính chất nước thải chế
biến mủ cao su, các công nghệ xử lý nước thải chế biến mủ cao su đang
được áp dụng tại Việt Nam và các công nghệ mới tiềm năng đang được
nghiên cứu trong và ngoài nước.
- Luận án lựa chọn quá trình kết hợp nitrit hoá bán phần – Anammox ở
điều kiện giới hạn oxy trong cùng một bể phản ứng (Oxygen Limited
Autotrophic Nitritation/Denitrification – OLAND) gồm hệ bùn lơ lửng và
bùn giá thể để tiến hành các thí nghiệm đánh giá hiệu quả xử lý và hiệu quả
kinh tế của quá trình trên.
- Luận án làm giàu bùn mô hình OLAND bằng nước thải nhân tạo, với
bùn Anammox được làm giàu từ bùn bể IC xử lý nước rỉ rác và bùn AOB từ
2
bùn bể SBR xử lý nước rỉ rác đạt tại phòng thí nghiệm khoa Môi trường và
Tài nguyên – trường Đại học Bách Khoa TP.HCM.
- Luận án nghiên cứu mô hình OLAND chế độ thổi khí liên tục ở các giá
mô hình OLAND trong nước thải chế biến mủ cao su.
Các thông số động học của mô hình OLAND gồm hệ bùn lơ lửng và bùn
giá thể được xác định và mô phỏng bởi mô hình toán học làm cơ sở tính toán
khả năng áp dụng cho nước thải ô nhiễm nitơ.
Mở ra hướng áp dụng quá trình OLAND cho xử lý nước thải nhiều loại
hình sản xuất khác, đặc biệt là các ngành sản xuất ô nhiễm nitơ cao như chế
biến tinh bột sắn, thủy sản, bún, thạch dừa,…
3
- Ý nghĩa thực tiễn
Mở ra hướng giải quyết mới cho các vấn đề cấp thiết về ô nhiễm môi
trường, chủ yếu là ô nhiễm nitơ trong nước thải chế biến mủ cao su mà vẫn
đáp ứng được các vấn đề về kinh tế - xã hội.
Kết quả của nghiên cứu cũng là cơ sở tính toán cho công trình xử lý nitơ
trong nước thải chế biến mủ cao su ứng dụng mô hình OLAND hệ bùn lơ
lửng và bùn giá thể với chi phí đầu tư cơ bản và vận hành cạnh tranh hơn so
với quá trình khử nitơ truyền thống (nitrat hóa-khử nitrat).
Luận án là tài liệu tham khảo cho sinh viên, học viên cao học, cán bộ môi
trường cũng như các chuyên gia trong lĩnh vực công nghệ xử lý nước thải,
phục vụ công tác triển khai ứng dụng và đào tạo kỹ sư, thạc sĩ ngành kỹ
thuật môi trường.
CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN
1.1. Tổng quan về nƣớc thải chế biến mủ cao su và công nghệ xử lý nƣớc
thải chế biến mủ cao su
Theo các kết quả nghiên cứu của Viện nghiên cứu cao su Việt Nam,
thành phần (vật lý, hóa học và sinh học) của nước thải chế biến mủ cao su
cho thấy nước thải chế biến mủ cao su có pH trong khoảng 4,2 - 5,2 do việc
sử dụng axit để làm đông tụ mủ cao su. Hơn 90% chất rắn trong nước thải
chế biến mủ cao su là chất rắn bay hơi, chứng tỏ bản chất hữu cơ của chúng.
trước này được đặt tên là quá trình nitrit hóa bán phần. Phân loại theo lượng
bể sử dụng, ứng dụng quá trình nitrit hóa bán phần và Anammox để loại bỏ
nitơ được chia làm 2 loại:
- Quá trình nitrit hoá bán phần và quá trình Anammox trong hai bể phản
ứng riêng biệt.
- Quá trình nitrit hoá bán phần và quá trình Anammox trong một bể phản
ứng duy nhất.
1.3. Các quá trình kết hợp Anammox trong một bể phẩn ứng
Dựa trên khái niệm mới này, một số công nghệ kết hợp quá trình nitrit
hóa bán phần – Anammox trong cùng một bể phản ứng được nghiên cứu
rộng rãi trên thế giới là CANON (Complete Autotrophic Nitrogen Removal
Over Nitrite), SNAP (Single- stage Nitrogen removal using Anammox and
Partial nitritation), OLAND (Oxygen Limited Autotrophic Nitrification
Denitrification), SNAD (Simultaneous partial Nitrification, Anammox and
Denitrification).
1.4. Một số nghiên cứu ứng dụng quá trình Anammox xử lý nƣớc thải
giàu nitơ trong và ngoài nƣớc
Nhiều mô hình khác nhau đã được sử dụng để nghiên cứu quá trình
Anammox xử lý nitơ trong nước thải như sau:
Bảng 1.1. Tóm tắt các quá trình nghiên cứu và ứng dụng nhóm vi khuẩn
Anammox trong xử lý nước thải giàu ammonia ở một số quốc gia trên thế
giới
5
Quốc gia
Hà Lan
[127], [128]
Mỹ
Ứng dụng quá trình Anammox trong xử lý chất
thải chăn nuôi gia cầm.
[112]
Nhật
Quá trình tạo bùn dạng hạt của vi khuẩn
Anammox và ứng dụng; Các phương pháp sinh
học phân tử trong nhận dạng vi khuẩn
Anammox
[45], [93]
Hàn Quốc
Ứng dụng của quá trình Anammox trong xử lý
chất thải chăn nuôi heo
[111], [129]
Trung Quốc
Mô hình hóa quá trình Nitrat hóa – Anammox;
quá trình tạo bùn hạt vi khuẩn Anammox quy
sinh học mới loại bỏ nitơ trong nước thải trên cơ sở phản ứng Anammox sử
dụng quá trình SNAP.
Theo nghiên cứu của Phương, (2011) sử dụng mô hình Swim Bed trên
nước thải chế biến mủ cao su.
Theo nghiên cứu của Nhật, (2012) thực hiện trên mô hình PNBCR với
nước thải cao su (đầu ra sau quá trình Nitrit hóa bán phần) [132].
Theo nghiên cứu của Nhật và cộng sự (2014) [133], cho thấy khi kết hợp
hai quá trình Nitrit hóa bán phần sử dụng bể SBR theo sau là bể HAR Anammox hybrid reactor cho quá trình Anammox xử lý nước rỉ rác.
Từ các tài liệu đã tổng quan và các kết quả nghiên cứu ứng dụng quá
trình Anammox xử lý nước thải giàu nitơ trong và ngoài nước cho thấy quá
trình Anammox là quá trình tiềm năng, có nhiều khả năng trong ứng dụng xử
lý nước thải chế biến mủ cao su. Vì vậy, luận án đã tiến hành nghiên cứu
ứng dụng quá trình Anammox trong điều kiện kết hợp cùng các quá trình
nitrit hóa và khử nitrat để xác định các thông số điều kiện vận hành cũng
như đánh giá hiệu quả xử lý và hiệu quả kinh tế nhằm hoàn thiện công nghệ
xử lý nước thải chế biến mủ cao su.
CHƢƠNG 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT QUÁ TRÌNH NITRIT HÓA BÁN
PHẦN – ANAMMOX
2.1. Quá trình nitrit hóa bán phần
So sánh với quá trình loại bỏ nitơ truyền thống (nitrat hóa, khử nitrat),
thuận lợi của quá trình nitrit hóa bán phần là nhu cầu oxy thấp hơn (ít hơn
25%), nhu cầu cacbon hữu cơ thấp hơn hoặc không cần tùy thuộc sau nó là
quá trình khử nitrat hoặc Anammox [80] [134] [135]. Dựa trên khái niệm
mới này, quá trình Single reactor High activity Ammonia Removal Over
Nitrite (SHARON) được phát triển trường Đại học Delft, Hà Lan [17] [136].
Có nhiều yếu tố môi trường ảnh hưởng đến phản ứng của quá trình nitrit hóa
bán phần và một trong số chúng là thông số quan trọng để kiểm soát quá
trình nitrit hóa bán phần. Điểm quan trọng nhất của quá trình nitrit hóa bán
phần là việc tích lũy nitrit ổn định hay không.
2.2. Quá trình Anammox
tích biển [48] tại vùng nước thiếu khí dưới đáy đại dương ở Costa Rica
[194]. Các vi khuẩn Anammox thuộc một chi mới cũng phát hiện được trong
vùng nước gần đáy biển đen [194].
2.3. Động học quá trình
Động học của quá trình xử lý sinh học liên quan đến quá trình sinh
trưởng tế bào và quá trình phân hủy nội bào. Các phương trình động học cơ
bản được trình bày trong bảng 2.16
Bảng 2.16. Các phương trình động học cơ bản [285]
Mô hình
Tổng quát
Phƣơng trình động học
Ghi chú
Bậc 1
Bậc 2
( )
⁄
Tương quan giữa hiệu quả khử cơ
chất, thời gian phản ứng và hàm lượng
sinh khối.
Grau và cộng sự
Monod
Tương quan giữa hiệu quả khử cơ
chất, thời gian phản ứng và hàm
lượng sinh khối
y: Hiệu quả khử COD (%)
x: Thời gian lưu nước
y: tải trọng hữu cơ được loại
bỏ (kg COD/m2. ngày) hoặc
(kg COD/m3.ngày)
x: Nồng độ cơ chất sau xử lý
Tương quan giữa tải trọng hữu cơ (đã
bị khử) và nồng độ cơ chất sau xử lý
Với
Tải trọng thủy lực và nồng độ chất
hữu cơ tương quan với tốc độ khử
chất hữu cơ và hiệu quả xử lý.
Theo phương trình:
Eckenfelder
(1970)
|
|
ln
ln
ln
gVSS/g BOD
ngày -1
ngày
g/L/ngày
g/L
g/L/ngày
ngày -1
ngày -1
ngày -1
ngày
m2
m
Nhận xét: Đối với các dạng mô hình sinh học có sử dụng hệ vi sinh tăng
trưởng lơ lửng và tăng trưởng bám dính, thì việc xác định các thông số động
học có thể phân tách riêng.
9
CHƢƠNG 3. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Nội dung nghiên cứu
Các nội dung nghiên cứu cụ thể của luận án này được trình bày trong
hình 3.1.
Làm giàu bùn Anammox
Nội dung 1. Làm giàu
bùn mô hình OLAND
Nội dung 2. Đánh giá
mô hình OLAND chế độ
thổi khí liên tục ở DO
Nội dung 4. Đánh giá
hoạt tính vi khuẩn của
mô hình OLAND
Nội dung 5. Mô phỏng
các phản ứng sinh hóa
diễn ra trong quá trình
vận hành của bể
OLAND bằng mô hình
toán học
Đánh giá hoạt tính vi khuẩn
mô hình OLAND
Xác định chủng vi khuẩn
trong mô hình OLAND
Xác định thông số động học
vi khuẩn trong mô hình
OLAND
AOB
NOB
Khử
nitrat
Xác định mức độ tương
thích của mô hình và dữ liệu
Hình 3.1. Sơ đồ nội dung nghiên cứu
3.2. Mô hình thí nghiệm
3.2.1. Nội dung 1. Làm giàu bùn mô hình OLAND
động của bể được điều khiển tự động bằng phần mềm STEP 4 qua tủ điện
PLC. Quá trình nạp nước, xả nước, phản ứng, lắng hoạt động theo 3 que điện
cực trong bể nối với PLC.
3.2.1.2. Vật liệu thí nghiệm
(a) Nước thải nhân tạo
Ở thí nghiệm làm giàu bùn, nuôi cấy bùn Anammox và AOB, nghiên cứu
sử dụng nước thải nhân tạo. Nước thải nhân tạo trong thí nghiệm ở nội dung
1 bao gồm: nước thải làm giàu bùn Anammox và bùn AOB.
(b) Bùn nuôi cấy
Bùn nuôi cấy trong mô hình OLAND gồm bùn Anammox và bùn AOB
được lấy từ phòng thí nghiệm khoa Môi trường và Tài nguyên – Đại học
Bách Khoa TP.HCM.
3.2.1.3. Điều kiện vận hành
Mô hình thí nghiệm được vận hành tại phòng thí nghiệm khoa Môi
trường và Tài nguyên – Đại học Bách Khoa TP.HCM. Nghiên cứu thực hiện
ở điều kiện nhiệt độ. Bể phản ứng được vận hành theo chế độ nạp theo mẻ
11
với thể tích nạp là 15 L, tỷ số trao đổi thể tích là 0,5. Thời gian của một chu
kỳ là 480 phút, bao gồm 4 pha: (1) pha nạp: 10 phút, (2) pha phản ứng: 420
phút, (3) pha lắng: 40 phút, (4) pha xả: 10 phút. Thời gian lưu nước là 0,6
ngày. Điều kiện vận hành ở thí nghiệm làm giàu bùn được trình bày trong
bảng 3.4.
Bảng 3.4. Điều kiện vận hành của thí nghiệm nội dung 1
Thông số
Đơn vị
DO
3.2.2.3. Điều kiện vận hành
Sau khi kết thúc thí nghiệm làm giàu bùn, luận án tiếp tục nghiên cứu với
nước thải chế biến mủ cao su chế độ thổi khí liên tục ở các giá trị DO lần
lượt là: 0,4 – 0,8 mg/L, 0,2 – 0,4 mg/L, 0,1 – 0,2 mg/L. Giá trị DO trong bể
phản ứng được duy trì hệ thống thổi khí dưới đáy bể với sự điều chỉnh của
bộ điều khiển DO.
Nghiên cứu thực hiện ở điều kiện nhiệt độ phòng. Bể phản ứng được vận
hành theo chế độ nạp theo mẻ với thể tích nạp là 15 L, tỷ số trao đổi thể tích
là 0,5. Thời gian của một chu kỳ là 480 phút, bao gồm 4 pha: (1) pha nạp: 10
phút, (2) pha phản ứng: 420 phút, (3) pha lắng: 40 phút, (4) pha xả: 10 phút.
Giá trị pH được duy trì trong suốt thí nghiệm là 7,5 – 7,8 và thời gian lưu
nước HRT = 0,6 ngày.
12
3.2.3. Đánh giá mô hình OLAND ở các chế độ thổi khí gián đoạn khác
nhau
3.2.3.1. Mô hình OLAND
Sau khi kết thúc thí nghiệm ở nội dung 2, mô hình OLAND được tiếp tục
nghiên cứu trong nội dung 3.
3.2.3.2. Vật liệu thí nghiệm
(a) Nước thải chế biến mủ cao su
Nước thải chế biến mủ cao su đã tiền xử lý COD của nhà máy xử lý
nước thải mủ cao su thuộc Công ty Cổ phần Cao su Phước Hòa (Ấp 1B,
Chánh Phú Hòa, Bến Cát, Bình Dương).
(b) Bùn nuôi cấy
Bùn nuôi cấy được tiếp tục duy trì từ thí nghiệm của nội dung 2 của mô
hình OLAND, các đặc tính bùn được trình bày trong chương 4.
3.2.3.3. Điều kiện vận hành
Thí nghiệm thực hiện ở điều kiện nhiệt độ phòng. Bể phản ứng được vận
7. Van xả khí dư
8.Nút cao su châm ammonia
và rút mẫu
Hình 3.5. Mô hình dạng mẻ
Bình phản ứng là bình kín hình trụ bằng nhựa acrylic có dung tích hiệu
dụng là 2L, chiều cao 150 mm, đường kính trong 140mm, mặt bích vát
nghiêng 20o để loại bỏ yếu tố oxy hòa tan vào nước từ mặt thoáng. Mô hình
được khuấy trộn liên tục bằng cá từ ở tốc độ 200 vòng/phút. Các thông số
nhiệt độ và DO được đo bằng điện cực WTW DurOx 325. Mô hình bao gồm
một van xả khí dư, một van cấp khí từ bình khí nén và nối với hệ thống phân
phối khí trong bình bằng đá bọt, một lỗ gắn nút cao su để thuận tiện cho việc
bổ sung ammonia và lấy mẫu bằng syringe 60 ml.
3.2.4.2. Vật liệu thí nghiệm
Nước thải nhân tạo
Nước thải nhân tạo dùng để xác định hoạt tính của vi khuẩn Anammox
SAA, vi khuẩn oxy hóa ammonia AOB, vi khuẩn oxy hóa nitrit NOB và vi
khuẩn khử nitrat được chia làm 03 nhóm: Nhóm 1: dung dịch cơ chất phản
ứng; Nhóm 2: dung dịch rửa bùn; Nhóm 3: dung dịch vi lượng.
Bùn thí nghiệm
Thí nghiệm này được thực hiện khi giai đoạn hiệu quả xử lý tổng nitơ tốt
nhất trong mô hình OLNAD ở các thí nghiệm 1, 2 và 3, gồm bùn lơ lửng và
bùn giá thể. Giá thể trong bể phản ứng được cắt ra để đo hoạt tính bùn giá
thể. Bùn giá thể và bùn lơ lửng sau khi lấy ra khỏi bể phản ứng sẽ được rửa
ba lần bằng nước cất để loại bỏ cơ chất nền. Nồng độ bùn thí nghiệm ở mỗi
mẻ là 1g MLVSS/L.
3.2.4.3. Điều kiện vận hành
Thí nghiệm 4 xác địng hoạt tính của vi khuẩn Anammox SAA, vi khuẩn
oxy hóa ammonia AOB, vi khuẩn oxy hóa nitrit NOB và vi khuẩn khử nitrat.
Điều kiện vận hành thí nghiệm 4 được trình bày trong bảng 3.10.
4,0 – 8,0
30
120
Khử nitrat
phòng
7,5 – 7,8
< 0,1
30
120
3.2.5. Nội dung 5. Mô hình toán học để mô phỏng các phản ứng sinh hóa
diễn ra trong quá trình vận hành của bể OLAND
3.2.5.1. Cơ sở lý thuyết
Mô hình toán 1D của Volcke và cộng sự (2010) [298] ; Cema và cộng sự
(2012) [299] đã được hiệu chỉnh cho phù hợp với mô hình thực nghiệm của
đề tài và được áp dụng để đánh giá hiệu quả của quá trình xử lý nước thải
của bể OLAND. Mô hình toán học này bao gồm một hệ 8 phương trình đạo
hàm. Trong đó, 4 phương trình đầu biểu diễn: quá trình oxy hóa ammonia
thành nitrit bởi vi khuẩn AOB (phương trình 3.1), tiếp theo là quá trình
chuyển hóa NO2 sang NO3 bởi vi khuẩn NOB (phương trình 3.2), vi khuẩn
Anammox chuyển hóa NH4 và NO2 thành khí N2 (phương trình 3.3), bên
cạnh đó còn có các chủng vi khuẩn hiếu khí khác cũng tham gia vào quá
trình oxy hóa ammonia (phương trình 3.4). Các phương trình còn lại
(phương trình 3.5 – 3.8) lần lượt biểu diễn sự suy giảm của NH4, NO2, NO3
và COD gây ra do các chủng vi khuẩn AOB, NOB, Anammox và các chủng
dị dưỡng khác.
Ngoài ra, để đảm bảo tính chính xác cho quá trình tính toán, các phương
trình tính lượng suy giảm (chết) của các chủng vi khuẩn cũng được tích hợp
trong quá trình tính toán (phương trình 3.9 -3.12).
từ sinh khối bùn sử dụng FasDNA spin kit for soil (MP Biomedicals, OH,
USA) theo hướng dẫn của nhà sản xuất. Việc khuếch đại đoạn gene 16S
rDNA được thực hiện bởi công ty Macrogen (Hàn Quốc) sử dụng cặp mồi
chuyên biệt V34.
CHƢƠNG 4. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1. Nội dung 1. Làm giàu bùn mô hình OLAND
4.1.1. Làm giàu bùn Anammox
Thí nghiệm làm giàu bùn Anammox diễn ra trong 30 ngày, tải trọng nitơ
đầu vào tăng dần từ 0,08 kgN/m3.ngày, 0,16 kgN/m3.ngày và 0,42
kgN/m3.ngày tương ứng với nồng độ NO2--N = NH4+-N lần lượt là 25, 50,
125 mgN/L.
Hình 4.1. Diễn biến thành phần các hợp chất nitơ đầu ra ở các tải trọng nitơ
đầu vào khác nhau trong thí nghiệm làm giàu bùn Anammox
16
Các tỷ lệ NO2--N /NH4+-N ~1,21, NO3--N/NH4+-N ~0,22 và TN/NH4+-N ~
1,99 ổn định và tiệm cận với giá trị lý thuyết lần lượt là NO2--N /NH4+N=1,32, NO3--N/NH4+-N=0,26 và TN/NH4+-N =2,06.
Hơn nữa quan sát bùn trong bể phản ứng thấy sau 5 ngày thí nghiệm, bùn
đã bám đều trên giá thể. Kết thúc thí nghiệm làm giàu bùn anamomx, nồng
độ MLSS bùn lơ lửng duy trì khoảng 2.500 mgMLSS/L và bùn giá thể 2.000
mgMLSS/L, tỷ lệ MLVSS/MLSS là 0,62, cho thấy khả năng bám giữ và tích
lũy bùn của giá thể là rất tốt.
4.1.2. Làm giàu bùn AOB
Giai đoạn nuôi cấy và làm giàu bùn AOB diễn ra trong 60 ngày, được
thực hiện sau khi mô hình OLAND đã hoàn thành giai đoạn nuôi cấy bùn
Anammox. Giai đoạn này mô hình OLAND tiếp tục được duy trì ở tải trọng
đầu vào 0,42 kgN/m3.ngày với tổng nitơ đầu vào TN = NH4+-N = 250
mgN/L.
Hình 4.11. Sự biến thiên các hợp chất nitơ ở các giá trị DO khác nhau trong
thí nghiệm ở nội dung 2
Ở 15 ngày đầu tiên (hình 4.11), DO được kiểm soát khoảng 0,40 - 0,80
mg/L, hiệu quả xử lý ammonia không ổn định 75 ± 25%, hiệu quả xử lý TN
khoảng 63 ± 23% (n=15). Nồng độ ammonia và nitrit đầu ra còn khá cao lần
lượt là 20 ± 17 (n=15) và 15,1 ± 8,0 mg N/L (n=15). Lý giải cho vấn đề này
có thể có thể do: (1) thời gian lưu nước trong bể OLAND chưa đủ cho phản
ứng Anammox; (2) nồng độ DO trong bể khá cao 0,40- 0,80 mg N/L gây ức
chế hoạt tính Anammox.
Từ ngày 16 đến ngày 30, DO được kiểm soát khoảng 0,20- 0,40 mg/L,
hiệu quả xử lý đạt khá cao là 80 ± 14% (n=15) tăng khoảng 10% so với khi
kiểm soát ở DO 0,40- 0,80 mg/L. Hiệu quả chuyển hoá ammonia gần như
đạt 100%. Giá trị ammonia hầu như không phát hiện ở đầu ra bể phản ứng
nhưng nồng độ nitrit vẫn còn cao trong bể (14,2 ± 7,8 mg/L, n=14) cho thấy
cơ chất ammonia không đủ cho phản ứng Anammox nhằm loại bỏ phần nitrit
còn lại. Giá trị nitrat đầu ra khoảng 6,1 ± 4,6 mgN/L (n=14) thấp hơn ở giai
đoạn đầu là (11,7 ± 10,0 mg N/L, n=14), điều này chức tỏ vi khuẩn NOB
vẫn tồn tại và phát triển trong bể nhưng hoạt tính đã giảm hơn so với ở giai
đoạn đầu.
Nhằm giảm tốc độ chuyển hoá ammonia, ức chế hoạt tính NOB trong
bể, DO trong bể được kiểm soát và duy trì ớ mức 0,10- 0,20 mg/L trong bể
18
OLAND. Từ ngày 31 đến ngày 7, hiệu quả xử lý ổn định ammonia và tổng
nitơ đạt được lần lượt là 100 ± 0,0% và 92 ± 2% (n=45), tương ứng với giá
trị ammonia và TN đầu ra rất thấp lần lượt là 0,0 ± 0,0 mgN/L và 13 ± 4
mgN/L (n=45). Kết quả này cho thấy giá trị DO= 0,10- 0,20 mg/L là phù
hợp cho kiểm soát quá trình trong mô hình OLAND xử lý nước thải chế biến
mủ cao su.
nước thải. Ngoài ra, quan sát được một số ngày tốc độ tiêu thụ COD theo lý
thuyết cao hơn so thực nghiệm, có thể cho thấy (1) quá trình khử nitrat trong
mô hình OLAND tiêu thụ ít COD hơn so với lý thuyết hoặc (2) trong sinh
khối bùn đã diễn ra hô hấp phân hủy chất hủy cơ và vi khuẩn khử nitrat sử
dụng chất hữu cơ này làm cơ chất. Tuy nhiên điều này chưa rõ ràng.
4.2.3. Điện năng và độ kiềm tiêu thụ
4.2.3.1. Độ kiềm tiêu thụ
Nồng độ kiềm tiêu thụ tương ứng với tải trọng nitơ. Tải trọng càng cao,
lượng kiềm tiêu thụ càng nhiều. Trung bình trong quá trình lượng kiềm bị
tiêu thụ là 4,07 ± 0,1 g CaCO3/gN.
4.2.3.2. Điện năng tiêu thụ
Điện năng tiêu thụ ở thí nghiệm này được ghi nhận liên tục trong 5 ngày
cuối ở giá trị DO từ 0,1 – 0,2 mg/L có số đo trung bình 3,26 ± 0,5 kWh/kg
N. Giá trị điện năng tiêu thụ này được đánh giá thấp hơn so với thực tế một
số nhà máy khảo sát được.
4.2.4. Đánh giá mô hình OLAND xử lý nƣớc thải cao su ở chế thổi khí
liên tục ở các giá trị DO khác nhau
Kết quả nghiên cứu cho thấy ở DO 0,10- 0,20 cho kết quả xử lý các hợp
chất nitơ và COD tốt nhất.
Kết quả cân bằng nitơ chỉ ra rằng chỉ ra rằng khoảng 82±8% nitơ được
loại bỏ bởi quá trình nitrit hoá bán phần kết hợp Anammox, khoảng 6±3%
nitơ được xử lý bởi quá trình khử nitrat và 2±1% nitơ tích lũy vào sinh khối
bùn. Nitrat tạo ra do phản ứng Anammox được sử dụng trong quá trình khử
nitrat cùng với bCOD có trong nước thải chế biến mủ cao su.
Nghiên cứu tiến hành phân tích mối tương quan giữa các yếu tố trong
mô hình OLAND ở chế độ thổi khí liên tục:
Tốc độ loại bỏ TN (mgN/L.ngày) = 0,667 x tốc độ loại bỏ NH4+-N
(mgN/L.ngày) - 0,040 x tốc độ loại bỏ COD (mg/L.ngày) + 0,074 x độ kiềm
tiêu thụ (gCaCO3/gN) – 1,061 x tốc độ sinh nitrat đầu ra (mgN/L.ngày) +
21,631
không đủ, hoạt tính AOB bị giảm xuống, thiếu cơ chất cho vi khuẩn
Anammox hoạt động. Nồng độ NO3--N đầu ra từ 5 – 14 mg/L, cho thấy xuất
hiện vi khuẩn oxy hóa nitrit NOB. Quan sát bùn trên giá thể thấy bùn đã mất
đi các đốm bùn đỏ ban đầu từ thí nghiệm 2. Bùn giá thể chuyển sang màu
đen đậm, và kết dính chặt chẽ trên giá thể. Vì vậy, thí nghiệm tiến hành rũ
bỏ bùn trên giá thể và bổ sung bùn vào ngày thứ 12 của chế độ thổi khí gián
đoạn B. Hiệu quả xử lý tổng nitơ bắt đầu tăng lên rõ rệt ở ngày thứ 13 và
tăng dần đến ngày thứ 45 nhưng vẫn còn thấp hơn chế độ thổi khí gián đoạn
21
A. Như vậy, cần phải loại bỏ bùn già, bùn chết trên giá thể để đảm bảo hiệu
quả xử lý ổn định.
4.3.2. Hiệu quả xử lý thành phần ô nhiễm chất hữu cơ COD
Tương tự ở thí nghiệm 2, nghiên cứu cũng tiến hành đánh giá các ảnh
hưởng của thành phần COD trong thí nghiệm 3.
Hình 4.22. Nồng độ COD đầu vào và ra trong mô hình OLAND của thí
nghiệm ở nội dung 3
Quan sát cho thấy nồng độ COD đầu vào cũng không ổn định và dao
động mạnh trong khoảng ở chế độ thổi khí gián đoạn A từ 43 – 105 mg/L và
ổn định hơn trong chế độ thổi khí gián đoạn B từ 28 – 63 mg/L. Hiệu quả xử
lý COD trung bình đạt 39 ± 16%. Hiệu quả xử lý COD ở chế độ thổi khí
gián đoạn A và B lần lượt là 45% và 34%. Nồng độ COD đầu ra trung bình
của trong suốt thời gian thí nghiệm và ở từng chế độ thổi khí gián đoạn A, B
lần lượt là 33 ± 11 mg/L, 37 ± 13 mg/L và 34 ± 9 mg/L, đều thấp so với
QCVN 01-MT:2015/BTNMT, cột A (COD = 75 mg/L).
Theo lý thuyết khử nitrat thì 1mg NO3--N/L bị khử cần tiêu thụ 1,74 mg
COD/L. Khảo sát tốc độ tiêu thụ COD lý thuyết khử nitrat do Anammox
sinh ra cho thấy tốc độ tiêu thụ COD hầu như luôn cao hơn lý thuyết khử
Sơ đồ cân bằng vật chất trong mô hình OLAND cho thấy có sự hiện diện
đồng thời của quá trình nitrit hóa bán phần, Anammox và khử nitrat. Điều
này làm tăng hiệu suất xử lý tổng nitơ của mô hình OLAND trung bình đạt
87 ± 12% (n = 90). Trong đó, hiệu suất xử lý nitơ từ quá trình nitrit hóa bán
phần, Anammox trung bình là 80 ± 10% (n = 90) và hiệu suất xử lý nitơ từ
quá trình khử nitrat trung bình là 7 ± 4 % (n = 90%).
4.4. THÍ NGHIỆM 4. ĐÁNH GIÁ HOẠT TÍNH VI KHUẨN CỦA MÔ
HÌNH OLAND
Hoạt tính vi khuẩn Anammox SAA, AOB, NOB, vi khuẩn khử nitrat của
bùn lơ lửng và bùn giá thể mô hình OLAND chế độ thổi khí gián đoạn được
tóm tắt trong bảng 4.14.
Bảng 4.14. Hoạt tính vi khuẩn Anammox SAA, AOB, NOB, vi khuẩn khử
nitrat của bùn lơ lửng và bùn giá thể mô hình OLAND
Thông số
Đơn vị
MLSS
MLVSS/MLSS
Hoạt tính
Anammox
mgMLSS/L
gN-N2
/gVSS/ngày
gNH4+-N
/gVSS/ngày
gNO3-N/gVSS/ngày
kgNO3--N
Thổi khí liên
tục
Bùn
Bùn
lơ
giá
lửng
thể
3.000
4.700
0,63
0,67
0,01
0,29
0,14
0,20
0,15
0,25
0,81
0,34
0,08
Làm giàu bùn
23
4.5. Xác định cộng đồng vi khuẩn trong bể
Việc phân tích cộng đồng vi khuẩn bởi đoạn trình tự 16S rRNA (16S
ribosomal RNA) sử dụng 16S V3 và V4 region được sử dụng để điều tra cấu
trúc cộng đồng vi khuẩn trong bể OLAND. 10.905 trình tự ở 156 nhóm đại
diện đã được giải mã. Chủng Anammox chiếm ưu thế trong bùn bể OLAND
(chiếm 4.8%) có độ tương đồng 99% so với chủng vi khuẩn Candidatus
Kuenenia sp được phân lập ở Đức.Chủng vi khuẩn AOB chịu trách nhiệm
cho quá trình nitrit hoá (chiếm 6.6%) có độ tương đồng 98% so với chủng
Nitrosomonas sp. B2. Ngoài ra chủng vi khuẩn khử nitrat Proteobacterium
E4-1 cũng được tìm thấy trong bể OLAND.
4.6. Nội dung 5. Mô hình toán học để mô phỏng các phản ứng sinh hóa
diễn ra trong quá trình vận hành của mô hình OLAND
Kết quả hiệu chỉnh mô hình cho thấy rằng độ tương thích giữa mô hình
và số liệu khá cao (R2=0,94), chứng tỏ rằng mô hình OLAND có thể được
biểu diễn bằng hệ 8 phương trình đạo hàm của các biến AOB, NOB, vi
khuẩn Anammox, vi khuẩn dị dưỡng, NH4+, NO2-, NO3- và COD. Mô hình
toán này có thể được áp dụng để dự đoán nồng độ ammonia, nitrit và nitrat
và COD trong nước thải đầu ra. Mức độ tương thích của mô hình và dữ liệu
sau khi tiến hành thiết lập tham số là 94% (R2=0,94).
Luận án tiếp tục kiểm định mô hình với số liệu được thực hiện ở thí
nghiệm 3 với 2 chế độ thổi khí gian đoạn khác nhau: chế độ thổi khí A (20
phút nghỉ - 40 phút thổi) và chế độ thổi khí B (30 phút nghỉ - 30 phút thổi).
Kết quả của mô hình toán sau khi thiết lập tham số và số liệu thí nghiệm
tương ứng với 2 chế độ thổi khí gián đoạn. Kết quả cho thấy rằng độ tương