LỜI MỞ ĐẦU
Ấn Độ cổ trung đại là một trong những trung tâm tư tưởng và văn hóa
lớn của thế giới cổ trung đại. Vì vậy đi nghiên cứu triết học Ấn Độ cổ, trung
đại rất cần thiết để góp phần tìm hiểu lịch sử tư tưởng văn hóa Phương Đông
nói chung và dân tộc Việt Nam nói riêng, đặc biệt là trong lĩnh vực Phật giáo
Việt Nam.
Sự giao lưu của giữa các quốc gia trong một khu vực đã phá vỡ cái
riêng biệt của tâm lý, tư tưởng trong từng dân tộc làm cho tâm lý, tư tưởng đó
hòa vào cái chung của khu vực. Việt Nam cũng ở trong một quá trình như thế.
Theo chân các nhà buôn, nhà truyền giáo Ấn Độ, Phật giáo vào nước ta vào
khoảng thế kỷ thứ I và thứ II sau công nguyên. Sau đó nối gót người Ấn Độ
các nhà Phật giáo Bắc tông vào. Rồi những người tìm đường sang Trung
Quốc, Ấn Độ học Phật trở về cũng tiếp tục truyền bá Phật giáo. Bằng những
con đường khác nhau, Phật giáo, một tôn giáo chung của nhiều nước Nam Á
và Đông Nam Á lúc bấy giờ cũng tìm được chỗ đứng ở Việt Nam.
Để đi tìm hiểu sâu hơn về nền văn hóa Ấn Độ cổ và con đường du nhập
hóa Phật giáo vào văn hóa Việt Nam nên em đã chọn đề tài: “Những đặc
trưng cơ bản của Triết học Ấn Độ cổ - trung đại và sự ảnh hưởng đến
Triết học Phật giáo Việt Nam”
0
NỘI DUNG
Ở Ấn Độ tư tưởng triết học Ấn độ cổ đại được hình thành từ cuối thiên
niên kỷ II đầu thiên niên kỷ I trước công nguyên, bắt nguồn từ thế giới quan
thần thoại, tôn giáo, giải thích vũ trụ bằng biểu tượng các vị thần mang tính
chất tự nhiên, có nguồn gốc từ những hình thức tôn giáo tối cổ của nhân loại.
Triết học Ấn Độ cổ trung đại ra đời được ví như là cái nôi của triết học thế
giới. Triết học Ấn Độ cổ trung đại nhấn mạnh sự thống nhất trong mối quan
hệ giữa con người và vũ trụ với công thức thiên địa nhân là một nguyên tắc
loạt biến cố lớn, đó là những cuộc chiến tranh thôn tính lẫn nhau giữa các
vương triều trong nước và sự xâm lăng của các quốc gia bên ngoài.
Đặc điểm nổi bật của nền kinh tế - xã hội của Ấn Độ cổ, trung đại
là sự tồn tại từ rất sớm và kéo dài, kết cấu kinh tế - xã hội theo mô hình
“Công xã nông thôn” tức là ruộng đất thuộc về sở hữu nhà nước ( vua là
người đứng đầu), tồn tại chế độ quân chủ chuyên chế tập quyền. Kinh tế thời
kỳ này là kinh tế tự nhiên, tự cung, tự cấp. Với mô hình xã hội như vậy đã
kìm hãm sự phát triển kinh tế, với một nền kinh tế khép kín, mà theo Mác:
Chế độ quốc hữu về ruộng đất là cơ sở quan trọng nhất để tìm hiểu toàn bộ
lịch sử Ấn Độ cổ đại.
* Trên cơ sở đó đã phân hóa và tồn tại bốn đẳng cấp lớn trong xã hội:
Cao nhất là đẳng cấp Tăng lữ, lễ sư Bàlamon ( sinh ra từ miệng của vị
thần tối cao của người Ấn Độ là Brahman...): đây là những người giảng dạy
giáo lý tôn giáo, là những người có quyền nhất.
Đẳng cấp thứ hai là đẳng cấp quý tộc (Kshatriya) bao gồm các vương
công, vua chúa, tướng lĩnh, võ sĩ (sinh ra từ cánh tay của thần...).
Đẳng cấp thứ ba là tầng lớp bình dân (Vaishya): bao gồm thương nhân,
điền chủ, thường dân Arya, buôn bán, tự do, nông dân (sinh ra từ đùi của
thần)
Đẳng cấp thứ tư là tiện dân và nô lệ (Ksudra - sinh ra từ bàn chân của
thần...): tầng lớp này bao gồm những người không có quyền công dân, sinh ra
2
để phục vụ 3 đẳng cấp ở trên.
Các đẳng cấp ngày càng được củng cố, rất nghiệt ngã, và còn ảnh
hưởng nặng nề cho tới tận ngày nay. Ngoài ra còn có sự phân biệt chủng tộc,
dòng dõi, nghề nghiệp, tôn giáo.
Tóm lại: Trong xã hội chiếm hữu nô lệ ở Ấn Độ, ngoài đặc trưng chủ
yếu là chế độ đẳng cấp nghiệt ngã và sự tồn tại dai dẳng của những công xã
Thánh kinh Vedha, kinh Upannisahd, sử thi Ramayana, sử thi Mahabarata...
- Từ thế kỷ VI - I trước công nguyên: hình thành các trường phái triết
học tôn giáo Ấn Độ cổ đại (hay giai đoạn Phật giáo, Balamon giáo): tất cả các
trường phái triết học ra đời ở thời kỳ này bởi vì thời kỳ này là thời kỳ hưng
thịnh, phồn vinh, cổ điển của nền văn hóa cổ điển Ấn Độ.
Nghệ thuật Ấn Độ cổ đại đều phát triển cao trên tất cả 6 lĩnh vực nghệ
thuật cổ điển là: kiến trúc, điêu khắc, hội họa, múa, âm nhạc, thơ ca (Ramayana,
Mahabharata,...)
Tất cả đều mang đạm bản sắc văn hóa tâm linh và triết học của Ấn Độ
cổ đại...
1 - Đặc điểm chung của triết học Ấn Độ cổ trung đại:
- Trước hết, triết học Ấn Độ cổ đại hòa lẫn tôn giáo Ấn Độ cổ đại: do
đó khi nghiên cứu triết học ta phải nghiên cứu tôn giáo.
Triết học Ấn Độ là một nền triết học chịu ảnh hưởng lớn của những tư
tưởng tôn giáo. Giữa triết học và tôn giáo rất khó phân biệt. Tư tưởng triết học
ẩn giấu sau các lễ nghi huyền bí, chân lý thể hiện qua bộ kinh Veeda,
Upannisad. Tuy nhiên, tôn giáo của Ấn Độ cổ đại có xu hướng “hướng nội”
chứ không phải “hướng ngoại” như tôn giáo Phương Tây. Vì vậy, xu hướng
trội của các hệ thống triết học - tôn giáo Ấn Độ đều tập trung lý giải và thực
hành những vấn đề nhân sinh quan dưới góc độ tâm linh tôn giáo nhằm đạt tới
sự “giải thoát” tức là đạt tới sự đồng nhất tinh thần cá nhân với tinh thần vũ
trụ (Atman và Brahman).
- Thứ hai, các nhà triết học thường nặng tính kế thừa, bảo kê, ủng hộ hệ
thống triết học có trước mà ít phê phán, phủ định, gạt bỏ hệ thống triết học có
trước. Và thường không có sự xuất hiện các trường phái triết học mới.
4
- Thứ ba, khi bàn đến vấn đề bản thể luận, một số học phái xoay quanh
vấn đề “tính không”, đem đối lập “không” và “có ”, quy cái “có” về cái
của trạng thái trì trệ đó.
* So sánh đặc điểm của triết học Ấn Độ cổ trung đại với triết học
Phương Tây ( Hy Lạp - La mã cổ đại):
- Triết học Phương Tây cổ đại là triết học đề cao cái tự nhiên - mặt sinh
vật trong con người, ít quan tâm đến mặt xã hội của con người, chú ý giải
phóng con người về mặt nhận thức, không chú ý đến nguyên nhân kinh tế xã
hội, cái gốc để giải phóng con người.
- Sự đối lập giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm diễn ra trực
tiếp và rất gay gắt: Sự phân chia các trường phái rõ nét và đấu tranh quyết liệt
với nhau, các hình thức tồn tại lịch sử rất rõ ràng như duy vật chất phác thô sơ
đến duy vật siêu hình rồi đến duy vật biện chứng.
- Luôn xuất hiện các trường phái triết học mới trên cơ sở phủ định và
kế thừa các trường phái trước đó: Ở mỗi giai đoạn, mỗi thời kỳ, bên cạnh các
trường phái cũ lại có những trường phái mới ra đời có tính chất vạch thời đại
như thời cổ đại bên cạnh trường phái Talet, Heerraclit... đến Đêmôcrit rồi thời
đại khai sáng Pháp, chủ nghĩa duy vật ở Anh, Hà Lan, triết học cổ điển Đức...
Cho nên triết học Phương Tây dù ra đời sau nhưng đã phát triển đầy đủ
và điển hình hơn, nên cũng phát triển nhanh hơn so với triết học Phương
Đông. Đó là một trong những nguyên nhân cơ bản làm cho xã hội Phương
Tây “Đi sau nhưng về trước” so với Phương Đông.
2.1 - Các trường phái chủ yếu của Triết học Ấn Độ cổ, trung đại:
Các trường phái chủ yếu của triết học Ấn Độ cổ đại được hình thành
trong thời kỳ cổ điển (hay thời kỳ Phật giáo – Bà la môn giáo): Từ thế kỷ VI
đến thế kỷ I, với 9 trường phái chủ yếu và được phân biệt thành 2 loại:
- Trường phái chính thống: Astika(tin vào thế giới bên kia), và thừa
nhận uy thế tuyệt đối của Thánh Kinh Vedha, bao gồm 6 trường phái:
Samkhya, Mimansa, Veedanta, Yoga (trường phái rèn luyện thể lực), Nyanya
(trường phái nghiên cứu nhận thức luận), Vaisesika (trường phái đi vào
nguyên tử).
6
chi phối tất cả mọi tồn tại trong thế giới. Linh hồn chỉ là sự hiện thân của TT
7
vũ trụ vĩnh cửu và bất diệt trong mỗi con người, và luôn bị ràng buộc bởi thể
xác, nhục dục và thế giới vật chất trần tục. M. cho rằng không thể giải thoát
hoàn toàn linh hồn… bằng lý trí, mà chỉ có thể… bằng cách giữ và thực hiện
cho đúng mọi nghi thức của Vedha.
M. còn thừa nhận sự tồn tại vĩnh viễn của thế giới vật chất, do các
nguyên tử cấu thành và những nguyên tử này lại bị luật Karma điều khiển.
Chính ở điểm này M. biểu hiện rõ tính chất nhị nguyên…
2.1.3. YOGA
(Sự liên kết, hay hợp nhất tâm thể về một khối).
- Yoga là một hệ thống lý luận về phương pháp tu luyện mà người tu
hành chấp nhận, nhằm giải thoát linh hồn khỏi sự ảnh hưởng của các giác
quan và sự ràng buộc của thể xác, với thế giới vật chất, là nguồn gốc của vô
minh và đau khổ, gột hết các tội lỗi của linh hồn trong các kiếp…, để hóa ra
trong sạch, đạt được một sự hiểu biết và một năng lực siêu phàm, đạt tới sự
đại giác tối cao, đạt tới hạnh phúc vĩnh hằng.
- Kinh điển chủ yếu của Yoga là bộ Yoga-sutra, bao gồm cả những bài
tập luyện yoga, do đạo sĩ Patanjala hệ thống hóa vào khoảng 150 năm TCN.
- Về mặt nhận thức luận và bản thể luận, Yoga rất gần gũi với tư tưởng
của Samkhia, nói về một thực thể TT tồn tại độc lập và sáng tạo ra thế giới.
Nhưng trong Yoga, Thượng đế Purusa chỉ được hiểu là “Linh hồn đặc biệt”, là
đối tượng để linh hồn suy tư mà đạt tới trạng thái giác ngộ, đạt tới đại giác,
đến với Brahman…
- Để đạt tới đại giác và sự giải thoát hoàn toàn, dẫn tới trạng thái nhập
thần thần bí đó, người ta phải kiên trì, tự chủ, kiên nhẫn tu luyện lâu dài, dần
dần từng bước theo từng giai đoạn, gọi là “Bát bảo tu pháp”. Khi linh hồn giải
thoát khỏi thân xác và thế giới vật chất giam hãm nó, thì sẽ đạt tới đại giác,
Ấn Độ cổ đại.
- Về nhận thức luận và Logic học, lúc đầu, hai trường phái này đều thừa
nhận sự tồn tại của đối tượng nhận thức là thế giới… Họ đã phân chia các
dạng nhận thức khác nhau, trong đó có có loại nhận thức thật, có loại nhận
thức giả, và đều đề cao nhận thức kinh nghiệm. Chẳng hạn Phái Nyaya thì cho
9
rằng: cảm giác, kết luận, loại tỷ, bằng chứng của những người khác và những
cuốn sách khác có thể đem lại cho ta nhận thức đúng. Còn phái V. thì cho
rằng: tri giác, kết luận, ký ức và trực giác đem lại cho ta chân lý.
- Phái Nyaya còn đưa ra “Ngũ đoạn luận” rất nổi tiếng, gồm: 1, Tiền đề
(Luận đề): Trên đồi có lửa cháy; 2, Nguyên nhân (lý do): vì trên đồi có khói
bốc lên. 3, Minh họa: tất cả cái gì bốc khói đều có lửa cháy. 4, Suy đoán (áp
dụng cách chứng minh): trên đồi có khói thì không thể không có lửa cháy. 5,
kết luận: do đó trên đồi có lửa cháy.
2.1.5. VÊDANTA (Kết thúc, hoàn thiện của Vedha):
- Vedanta (Còn có nghĩa khác nữa là “Những điểm chủ yếu của kinh
Vedha”), là trường phái triết học chính thống, chuyên khảo sát, biện luận, giải
thích về nguyên lý hình thành vũ trụ và vạn vật dựa trên Vedha và Upanishad.
Người sáng lập là Badarayana, người kế tục XS là Sankara.
- Về bản thể luận: Vedanta chủ yếu dựa trên tư tưởng của Kinh
Upanishad, mà nội dung cơ bản nhất là vấn đề: Trả lời cho câu hỏi: Cái gì là
thực tại cao nhất, là căn nguyên của tất cả, là cái mà khi nhận thức được nó thì
người ta sẽ nhận thức được mọi cái còn lại. Vêdanta cho rằng cái là bản chất
sâu xa của mọi cái tồn tại, cái mà từ đó nảy sinh ra tất cả, và tất cả mọi cái khi
chết đi sẽ nhập về với nó, tức cái là bản nguyên của thế giới, đó là “Tinh thần
vũ trụ tối cao” - Brahman. Brahman là thực thể tuyệt đối, bất diệt, là linh hồn,
là nguồn sống của vũ trụ…
Theo Vedānta, Brahman là sự thật duy nhất, và thế giới này, (như là
- Về bản thể luận: Lokayata cho rằng mọi sự vật trong Vũ trụ, kể cả con
người và ý thức của nó, đều do bốn nguyên tố đất, nước, lửa, không khí tạo
thành (Trong 1 số văn bản có thêm nguyên tố ête, hoặc có thêm quan niệm về
nguyên tử). Bốn nguyên tố đầu tiên này có khả năng tự tồn tại, tự vận động
trong không gian để tạo thành vạn vật… Mọi đặc tính khác nhau của các vật
thể là do số lượng và tỷ lệ kết hợp của bốn nguyên tố này mà ra…
Linh hồn là thuộc tính cuả thể xác, phụ thuộc và thể xác. Linh hồn hay
ý thức do vật chất sinh ra, như gạo nấu thành rượu, nhưng rượu lại có tính
chất mà gạo không có, là làm cho người ta say. Không có linh hồn bất tử, tồn
11
tại bên ngoài thể xác. Khi con người chết đi, thể xác tan ra, thì linh hồn cũng
tan theo. L. còn phủ nhận và phỉ báng thuyết “luân hồi”, “nghiệp báo”, và
“Giải thoát”… của các tôn giáo…
Về lý luận nhận thức, Lokayata mang lập trường kinh nghiệm luận. Họ
khẳng định cảm giác là nguồn gốc duy nhất của nhận thức đúng đắn. Họ phủ
nhận tính xác thực của tri thức gián tiếp, đặc biệt là phủ nhận và chế giễu tính
xác thực của Vedha… Theo họ chỉ có cái gì cảm giác biết được thì mới tồn
tại, và vì vậy mà họ phủ nhận sự tồn tại của thượng đế và linh hồn bất tử…
Về Logic học, Lokayata không phủ nhận hoàn toàn giá trị của biện luận,
chứng minh và kết luận của Vedha, mà chỉ phủ nhận phương thức suy luận,
chứng minh và rút ra kết luận của V., là phương thức sai lầm…
Về đạo đức học, Lokayata phê phán quan điểm kiềm chế nhục dục và
hy vọng về sự giải thoát. Theo Lokayata thì chẳng có cái gọi là thiên đường
hay địa ngục, mà đó chỉ là sự bịa đặt… Do đó Lokayata đòi cho con người
được sống và hưởng lạc mọi cái mà họ mong muốn… Vì vậy Lokayata
thường bị phê phán là “chủ nghĩa khoái lạc”
2.1.7. Triết học của Jaina giáo (Kỳ Na giáo)
- Được xác lập cùng thời với Phật giáo, bởi nhà hiền triết Mahavira
2.1.8. Triết học Phật giáo:
A - Sự ra đời và phát triển:
Ra đời trong làn sóng chống đối sự ngự trị của đạo Balamon, chống lại
sự kỳ thị đẳng cấp, đòi tự do, bình đằng, ở TK –VI, người sáng lập là Thích ca
Mâu ni (Buddha), (tên thật: Siddhartha Gautama), sinh 8-4-563 trước công
nguyên (có TL: 624 TCN), là thái tử, con vua Tịnh Phạn, có kinh thành nổi
tiếng Kapilavatthu, thuộc Nepan ngày nay. Năm 29 tuổi ngài xuất gia để tìm
con đường giải thoát cho mọi chúng sinh giúp đời thoát khổ. Sau 6 năm tu
luyện theo nhiều trường phái khác nhau, năm 35 tuổi, sau 49 ngày thiền định
dưới gốc cây B. ngài đã “Ngộ đạo”, trở thành Phật Thích ca Mâu ni, rồi
truyền đạo của Ngài ra khắp Ấn Độ. Ngài “nhập diệt” năm 483 TCN.
- Ngay sau khi “Ngộ đạo”, thì Thích Ca đã quyết định thuyết giảng lại
hiểu biết của mình. 60 đệ tử đầu tiên là những người có quan hệ gần với Thích
13
Ca hình thành tăng đoàn (hay giáo hội) đầu tiên. Sau đó, những người này
chia nhau đi khắp nơi và mang về thêm ngày càng nhiều người muốn theo tu
học. Để làm việc được với một lượng người theo tu học ngày càng đông, Phật
đã đưa ra một chuẩn mực cho các đệ tử có thể dựa vào đó mà thu nhận thêm
người. Các chuẩn mực này phần chính là việc “quy y tam bảo” (Phật, pháp,
tăng), tức là chấp nhận theo hướng dẫn của chính đức Phật, những lời chỉ dạy
của Phật (Pháp), và cộng đồng Tăng đoàn. Đây là tổ chức thống nhất, bình
đẳng giữa mọi thành viên không phân biệt gíới tính, tuổi tác, điạ vị xã hội và
có mục tiêu tối cao là đem lại giác ngộ cho mọi thành viên.
- Ngoài những người xuất gia, Phật còn có rất nhiều đệ tử tại gia (hay
cư sĩ). Giới cư sĩ cũng được Phật thuyết giảng và ngược lại tham gia ủng hộ
tăng đoàn về nhiều mặt…
- Khi Phật còn tại thế thì các giảng thuyết đều chỉ truyền miệng. Tuỳ
theo trình độ hiểu biết và khả năng tiếp thu, tùy theo hoàn cảnh và phương
luận: Không chú trọng tri thức mà chủ yếu củng cố niềm tin.
- Triết học Phật giáo không bàn đến vấn đề cơ bản của triết học giữa tồn tại
và tư duy mà chủ yếu xây dựng đối tượng nghiên cứu của mối quan hệ giữa
tồn tại và không tồn tại ( hư vô, hư không).
- Triết lý triết học Phật giáo hạ thấp vai trò trí tuệ nhận thức, đề cao tự giác
tâm linh. Cho nên giáo lý nhà Phật được trình bày ngụ ngôn, ẩn dụ.
+ Phật là tên theo âm Hán - Việt của Buddha, có nghĩa là giác ngộ. Phật
giáo là hình thức giáo đoàn được xây dựng trên một niềm tin từ đức Phật, tức
từ biển lớn trí tuệ và từ bi của Siddharta. Kinh điển của Phật giáo gồm Kinh
tạng, Luật tạng và Luận tạng.
Phật giáo cũng luận về thuyết luân hồi và nghiệp báo, cũng tìm con
đường “giải thoát” ra khỏi vòng luân hồi. Trạng thái chấm dứt luân hồi và
nghiệp được gọi là “Niết bàn”. Nhưng Phật giáo khác các tôn giáo khác ở chỗ
chúng sinh thuộc bất kỳ đẳng cấp nào cũng được “giải thoát”.
B - Nghiên cứu Phật giáo cổ đại thông qua 2 phương diện: Phương
diện thế giới quan (bản thể luận) và phương diện nhân sinh quan (triết lý
15
nhân sinh): nói về thân phận và số phận của con người.
1- Nghiên cứu Phật giáo cổ đại trên phương diện Thế giới quan, với
các yếu tố bao gồm: Duy vật, duy tâm, biện chứng, vô thần, thần bí.
+ Phương diện thế giới quan đưa ra khái niệm về Phật giáo bao gồm:
Vô ngã (không có cái tôi con người)
Vô thường (suy nghĩ bình thường)
Nhân duyên (nhân nào quả đấy)
Đây là ba bản thể quan trọng nhất của Bản thể luận Phật giáo.
- Phật giáo nhìn nhận thế giới tự nhiên cũng như nhân sinh bằng sự
phân tích nhân – quả. Theo Phật giáo, nhân - quả là một chuỗi liên tục không
gián đoạn và không hỗn loạn, có nghĩa là nhân nào qủa đấy. Mối quan hệ
người không tồn tại thực mà chỉ là ảo ảnh, vì thế giới này vừa có vừa không.
Do nhận thức sai lầm của con người, không hiểu biết (vô minh), do đó mà có
tính chất duy tâm và thần bí, ngoài ra còn mang tính chất không triệt để, mâu
thuẫn.
2 - Về nhân sinh quan ( triết lý nhân sinh), Phật giáo đặt vấn đề tìm
kiếm mục tiêu nhân sinh ở sự “giải thoát” (Moksa) khỏi vòng luân hồi,
“nghiệp báo” để đạt tới trạng thái tồn tại “Niết bàn” (Nirvana).
Phật giáo đưa ra tư tưởng Giải thoát cho rằng cuộc đời con người là bể
khổ, tìm ra nguyên nhân của nỗi khổ đó là do con người ham:
Tham - tham lam,
Sân- nóng dữ, bạo lực,
Si - ngu si, mê muội,
và Dục vọng.
Phật giáo cũng dùng đức tính của con người để cứu con người: những
đức tính ấy đó là những phẩm chất từ bi bác ái của con người.
Nội dung triết học Nhân sinh tập trung trong thuyết “Tứ diệu đế” - có
nghĩa là bốn chân lý tuyệt diệu, cũng có thể gọi là “tứ đế”.
* Chân lý thứ nhất: “Khổ đế” - Bát khổ (Duhkha-satya)
Phật giáo cho rằng cuộc sống là khổ, ít nhất có 8 cái khổ (bát khổ):
- Sinh, lão (già), bệnh (ốm đau), tử (chết): đây là 4 nỗi khổ hiển nhiên
17
của con người.
- Thụ biệt ly (thương yêu nhau phải xa nhau)
- Oán tăng hội (Oán ghét nhau nhưng phải sống gần nhau)
-Sở cầu bất đắc (mong muốn nhưng không có được)
- Ngũ thụ uẩn (năm yếu tố uẩn tụ lại nung nấu làm khổ sở)
*Chân lý thứ hai: Tập đế hay nhân đế (Samudayya – satya): Phật giáo
cho rằng cuộc sống đau khổ là có nguyên nhân. Để cắt nghĩa nỗi khổ của
- Chính nghiệp (giữ nghiệp không tác động xấu):
Trong Nghiệp có + Chính nghiệp (khuyến khích con người đi theo con đường
này)
+ Tà nghiệp: bao gồm có Thành nghiệp, Khẩu nghiệp và Ý nghiệp
( nguy hiểm nhất), nói là nguy hiểm nhất bởi lẽ: nếu con người có tư duy mờ
ám, sẽ phát sinh ra ý nghĩ xấu, dẫn đến hành động xấu.
- Chính mệnh: gắn với chính nghiệp, giữ ngăn dục vọng.
- Chính tinh tiến: rèn luyện tu tập không mệt mỏi sống theo đạo pháp,
siêng năng làm việc thiện, diệt điều ác.
- Chính niệm: luôn luôn niệm Phật, có niềm tin bền vững vào giải thoát.
- Chính định: tĩnh lặng, tập trung tư tưởng cao độ tiền định để đạt đến
nội dung trong sáng.
Tám nguyên tắc trên có thể thâu tóm vào “Tam học”- quy về 3 điều
học: Tức là 3 điều cần học tập và rèn luyện là Giới - Định – Tuệ:
+ Giới là giữ cho thân, tâm thanh tịnh, trong sạch.
+ Định là thu tâm, nhiếp tâm để cho sức mạnh của tâm không bị ngoại
cảnh làm xáo động.
+ Tuệ là trí tuệ.
Phật coi trọng khai mở trí tuệ để thực hiện giải thoát bằng con đường tu
luyện, khai phong trí tuệ và tiền định. Con người sẽ được giải thoát được cái
khổ để đạt tới Niết bàn ( là trạng thái con người tĩnh lặng, thanh tịnh, không
còn đau khổ), đối lập với cõi Niết bàn đó là địa ngục ( súc sinh và quỷ).
Phật khuyên con người rằng cõi Niết bàn ở trong chính con người
chúng ta, con đường để đạt đến cõi Niết bàn không có con đường nào khác
19
mà là con đường tu luyện.
*** Những ưu điểm lớn của tư tưởng Triết học Phật giáo Ấn Độ cổ
trung đại là có tư tưởng vô thần, phủ định đấng sáng tạo, có tư tưởng biện
Thượng Tọa bộ (Theravada).
Các cuộc phân hoá sau này của Đại Chúng Bộ lại hình thành 9 bộ phái,
trong đó quan trọng về mặt lý luận bao gồm: Đại chúng bộ, Nhất thuyết bộ,
Thuyết xuất thế bộ, Kê dận bộ, Đa văn bộ, Thuyết giả bộ, Chế đa sơn bộ, Tây
sơn trụ bộ và Bắc sơn trụ bộ.
Sự thay đổi về điều kiện xã hội và điạ lý và sự phân hoá trong Đại
Chúng bộ có thể là nguyên nhân gây ra sự phân hóa của Thượng Tọa bộ thành
11 bộ phái. Các phái có sự chuyển hoá về lý luận bao gồm: Tuyết sơn bộ,
Thuyết nhất thiết hữu bộ, Độc tử bộ, Pháp thượng bộ, Hiền vị bộ, Chánh
lượng bộ, Mật lâm sơn bộ, Hóa địa bộ, Pháp tạng bộ, Ẩm quang bộ và Kinh
lượng bộ.
Năm 245 (thế kỷ 3 trước công nguyên) “Kết tập lần III”, từ đây xuất
hiện nhiều trường phái khác nhau. Về triết học có hai phái đáng chú ý là phái
Nhất thiết hữu bộ (Sarvaxtivadin) và phái Kinh lượng bộ (Sautrastika).
C - Phật giáo ngày nay
Theo số liệu thống kê của Adherents thì số người theo đạo Phật trên
toàn thế giới là 376 triệu (vào năm 2005), chiếm khoảng 6% dân số thế giới.
Cũng theo thống kê Adherents, 10 nước có người theo Phật giáo đông
nhất là:
1- Trung Quốc 102,000,000 người
2- Nhật Bản 89,650,000 người
3- Thái Lan 55,480,000 người
4- Việt Nam 49,690,000 người
5- Myanma 41,610,000 người
6- Sri Lanka 12,540,000 người
7- Hàn Quốc 10,920,000 người
8- Đài Loan 9,150,000 người
9- Campuchia 9,130,000 người
21
cao với trường phái Trúc Lâm Yên Tử mang đậm màu sắc Việt Nam
+ Phật giáo giai đoạn thời Lê Nguyễn: Thời kỳ này Phật giáo nhường
chỗ cho Nho giáo.
+ Phật giáo hiện nay: Đã phát triển mạnh về tín đồ, phật tử, chùa chiền,
cũng như nghiên cứu giảng dạy.
Phật giáo Việt Nam hiện nay đang trên đà phát triển mạnh mẽ trong sự
phát triển đi lên của cả dân tộc. Với phương châm “đậm nét tính dân tộc” Cụ
thể:
Hiện nay phần lớn các nhà sư, các chủ trì điều có học thức cao từ trình
độ đại học đến bậc tiến sĩ … Các vị sư này không những thấu hiểu Phật giáo
Việt Nam mà còn được du học nền văn hóa Phật giáo ở các nước lân cận.
Được sự quan tâm của Đảng và sự hỗ trợ tích cực từ phía nhân dân về
cơ sở vật chất và kinh phí đầu tư, hiện nay nước ta đã có rất nhiều cơ sở Phật
giáo ngày càng to lớn và còn có cả các trường Đại học cho các bậc tu sĩ…
Việt Nam ngày nay bên cạnh những thành tựu kinh tế không thể phủ
nhận nhưng cũng có những báo động về nguy cơ văn hóa như tính nhân văn
của con người với con người, tình yêu thương đồng chí, đồng bào với nhau
đang ngày một hao mòn đi xuống. Do đó Phật giáo đã giúp cho con người
hướng thiện từ bỏ cái ác, cái xấu và đề cao tính nhân văn của con người.
Từ đó cho thấy Phật giáo Việt Nam đang thực sự lớn mạnh về mọi mặt
và trở mình “đổi mới” để xứng đáng với lòng tin của Đảng và nhân dân.
23
KẾT LUẬN
- Về đặc điểm: Triết học Ấn Độ cổ đại hòa lẫn tôn giáo Ấn Độ cổ đại.
Các nhà triết học thường nặng tính kế thừa, bảo kê, ủng hộ hệ thống