Mục lục
Những dấu hiệu (gợi ý) của thị trường 18
LỜI MỞ ĐẦU
Trong các giao dịch tài chính nói chung và chứng khoán nói riêng, thông tin
giữ vai trò thiết yếu. Nhân tố quan trọng quyết định quy mô, hình thức và hiệu quả
của mỗi giao dịch chính là mức độ cân xứng về thông tin giữa các bên liên quan.
1
Xét trên tầm vĩ mô, nếu các bên tham gia của bất kỳ giao dịch tài chính nào trong
nền kinh tế đều có đầy đủ thông tin quá khứ, hiện tại và tương lai liên quan đến giao
dịch thì đồng vốn trong nền kinh tế luôn đến được các dự án đầu tư hiệu quả nhất.
Thị trường tài chính khi đó thực hiện tốt nhất chức năng huy động và phân bổ vốn
cho nền kinh tế.
Xuất phát từ tình hình biến động của thị trường chứng khoán TP.HCM
trong thời gian qua và để đánh giá được hiệu quả đầu tư trên thị trường chứng
khoán của các nhà đầu tư, một trong những yếu tố chính làm cho tình hình thị
trường chứng khoán biến động và ảnh hưởng chính đến hiệu quả đầu tư của các
nhà đầu tư là vấn để thông tin bất cân xứng. Cho nên mục tiêu nghiên cứu của
luận văn này là xác định mức độ thông tin bất cân xứng giữa nhà đầu tư và
công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán, xem xét yếu tố nào tác động
mạnh đến vấn đề thông tin bất cân xứng hiện nay và đề ra các gợi ý chính sách
nhằm làm giảm mức độ thông tin bất cân xứng để nhà đầu tư đầu tư hiệu quả hơn.
Chương I : Lý luận chung về thị trường chứng khoán,
thông tin không cân xứng, lựa chọn đối nghịch
và rủi ro đạo đức
1. Tổng quan về thị trường chứng khoán :
1.1 Khái niệm :
2
Khái niệm thị trường chứng khoán hình thành và hoàn thiện theo sự phát
triển của nền kinh tế. Trong nền kinh tế thị trường hiện đại, thị trường chứng khoán
là một yếu tố không thể thiếu đối với việc duy trì và phát triển của nền kinh tế. Cho
đến nay, các quốc gia có nền kinh tế thị trường phát triển đều có thị trường chứng
lành mạnh với các cơ hội lựa chọn phong phú. Các loại chứng khoán trên thị trường
rất khác nhau về thời hạn, tính chất và độ rủi ro, cho phép các nhà đầu tư có thể lựa
chọn cho loại hàng hoá phù hợp với khả năng, mục tiêu và sở thích của mình. Chính
vì vậy, thị trường chứng khoán góp phần đáng kể làm tăng mức tiết kiệm quốc gia.
Tạo tính thanh khoản cho các chứng khoán
Nhờ có thị trường chứng khoán, các nhà đầu tư có thể chuyển đổi các chứng
khoán họ sở hữu thành tiền mặt hoặc các loại chứng khoán khác khi họ muốn. Khả
năng thanh khoản là một trong những đặc tính hấp dẫn của chứng khoán đối với nhà
đầu tư. Đây là yếu tố cho thấy tính linh hoạt, an toàn của vốn đầu tư. Thị trường
chứng khoán hoạt động càng năng động và hiệu quả thì càng có khả năng nâng cao
tính thanh khoản của các chứng khoán giao dịch trên thị trường.
Đánh giá hoạt động của doanh nghiệp
Thông qua giá chứng khoán, hoạt động của các doanh nghiệp được phản ánh
một cách tổng hợp và kịp thời, giúp cho việc đánh giá và so sánh hoạt động của các
doanh nghiệp được nhanh chóng và thuận tiện, từ đó cũng tạo ra một môi trường
cạnh tranh lành mạnh nhằng nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, kích thích áp dụng
công nghệ mới, cải tiến sản phẩm.
Tạo môi trường giúp chính phủ thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mô.
Các dấu hiệu của thị trường chứng khoán phản ánh động thái của nền kinh tế
một cách nhạy bén và chính xác. Giá các chứng khoán tăng lên cho thấy đầu tư
đang mở rộng, nền kinh tế tăng trưởng, và ngược lại giá chứng khoán giảm sẽ cho
4
thấy các dấu hiệu tiêu cực của nền kinh tế. Vì thế, thị trường chứng khoán được gọi
là phong vũ biểu của nền kinh tế và là một công cụ quan trọng giúp Chính phủ thực
hiện các chính sách kinh tế vĩ mô. Thông qua thị trường chứng khoán, Chính phủ có
thể mua và bán trái phiếu Chính phủ để tạo ra nguồn thu bù đắp ngân sách và quản
lý lạm phát. Ngoài ra, Chính phủ cũng có thể sử dụng một số chính sách, biện pháp
tác động vào thị trường chứng khoán nhằm định hướng đầu tư đảm bảo cho sự phát
triển cân đối của nền kinh tế.
1.2.2 Cơ cấu của thị trường chứng khoán :
chứng khoán (thị trường tập trung) và thị trường OTC (thị trường phi tập trung). Tại
sở giao dịch, các giao dịch được tập trung tại một địa điểm, các lệnh được chuyển
đến sàn giao dịch và tham gia vào quá trình khớp lệnh để hình thành giá giao dịch.
Trên thị trường OTC, các giao dịch (cả sơ cấp và thứ cấp) được tiến hành qua mạng
lưới các công ty chứng khoán phân tán khắp quốc gia và được nối với nhau bằng
mạng máy tính. Giá cả hình thành theo phương thức thoả thuận.
1.2.3 Các nguyên tắc hoạt động của thị trường chứng khoán :
Nguyên tắc cạnh tranh đấu giá
Theo nguyên tắc này, giá cả trên thị trường chứng khoán phản ánh quan hệ
cung cầu về chứng khoán và thể hiện tương quan cạnh tranh giữa các công ty. Trên
thị trường sơ cấp, các tổ chức phát hành cạnh tranh nhau để bán chứng khoán của
mình cho nhà đầu tư, các nhà đầu tư được tự do lựa chọn các chứng khoán theo các
mục tiêu của riêng mình. Trên thị trường thứ cấp, các nhà đầu tư cũng cạnh tranh tự
do để tìm kiếm cho mình một lợi nhuận cao nhất và giá cả được hình thành theo
phương thức đấu giá. Nguyên tắc này dựa trên mối quan hệ cung cầu trên thị trường
Nguyên tắc công khai
6
Chứng khoán là các hàng hóa trừu tượng, người đầu tư không thể kiểm tra
trực tiếp được các chứng khoán như các hàng hóa thông thường mà phải dựa trên cơ
sở các thông tin có liên quan. Vì vậy thị trường chứng khoán phải được xây dựng
trên cơ sở hệ thống công bố thông tin tốt. Theo Luật định, các bên phát hành chứng
khoán có nghĩa vụ cung cấp đầy đủ, trung thực và kịp thời những thông tin có liên
quan đến tổ chức phát hành, tới đợt phát hành. Công bố thông tin được tiến hành
khi phát hành lần đầu cũng như theo các chế độ thường xuyên và đột xuất, thông
qua các phương tiện thông tin đại chúng, Sở giao dịch chứng khoán, các công ty
chứng khoán và các tổ chức có liên quan khác.
Nguyên tắc này nhằm đảm bảo lợi ích cho tất cả những người tham gia thị
trường. Công bằng có nghĩa là mọi người tham gia thị trường đều phải tuân thủ
những quy định chung, được bình đẳng trong việc chi sẻ thông tin và trong việc
gánh chịu các hình thức xử phạt nếu vi phạm vào những quy định đó.
công ty bảo hiểm, công ty tài chính, ngân hàng, các công ty chứng khoán…tham
gia thị trường cả tư cách người mua và người bán. Thông thường các tổ chức
tài chính có thời gian đầu tư và khối lượng giao dịch trên thị trường dài và lớn
hơn nhà đầu tư riêng lẻ. Tuy nhiên, số lượng các tổ chức trên thị trường thì rất ít
so với số lượng nhà đầu tư riêng lẻ.
Nhà môi giới kinh doanh chứng khoán: có thể là tổ chức hoặc cá nhân.
Đa phần các hoạt động môi giới hiện nay là những công ty chứng khoán. Ngoài
nghiệp vụ môi giới các công ty này có thể thực hiện nhiều chức năng khác như
tự doanh, quản lý quỹ đầu tư, bảo lãnh phát hành, tư vấn đầu tư chứng khoán.
Người tổ chức thị trường: chiếm vai trò chủ yếu của người tổ chức
thị trường là các Trung tâm giao dịch chứng khoán hay Sở giao dịch chứng khoán.
Các Trung tâm, Sở này cung cấp địa điểm và phương tiện để thực hiện việc
mua bán chứng khoán cho các chủ thể tham gia giao dịch, điều hành thị trường
để các giao dịch diễn ra công bằng và minh bạch. Ngoài các Trung tâm và Sở
giao dịch, Trung tâm lưu ký, công ty dịch vụ máy tính chứng khoán, cũng có
8
chức năng không kém phần quan trọng làm cho thị trường hoạt động hiệu quả.
Nhà nước : góp phần đảm bảo cho thị trường hoạt động theo đúng các
qui định của pháp luật nhằm bảo vệ lợi ích hợp pháp của người đầu tư, đảm
bảo thị trường hoạt động bền vững và hiệu quả. Ngoài ra Nhà nước cũng có thể
tham gia thị trường với tư cách là nhà phát hành. Đó là thông qua Chính phủ
hoặc các chính quyền địa phương phát hành các trái phiếu nhằm huy động
vốn trên thị trường chứng khoán để vay nợ hoặc tài trợ các dự án công. Nhà
nước cũng có thể bán hoặc mua các chứng khoán của các doanh nghiệp nhằm
kiểm soát quyền chi phối các doanh nghiệp theo mục đích.
2.Thông tin không cân xứng :
2.1. Khái niệm về thông tin không cân xứng:
Thông tin bất cân xứng xảy ra khi một bên giao dịch có nhiều thông tin
hơn một bên khác. Điển hình là người bán biết nhiều về sản phẩm hơn đối
với người mua hoặc ngược lại (Trang từ điển Wikipedia).
Để xác định cân bằng thị trường trong điều kiện thông tin không cân xứng
trên thị trường bảo hiểm, trước tiên cần xem xét quá trình đạt đến cân bằng trên thị
trường cạnh tranh hoàn hảo bằng cách sử dụng lý thuyết cung-cầu thị trường.
Giả sử một cá nhân X muốn mua một hợp đồng bảo hiểm để ổn định thu
nhập trước các rủi ro. Để đơn giản ta giả thiết có hai khả năng xảy ra: có tổn thất và
không có tổn thất. Giả sử tiếp rằng X muốn tối đa hoá thu nhập. Nếu không có hợp
đồng bảo hiểm, anh ta sẽ có tổng thu nhập kỳ vọng là:
V(m,p) = (1 - p)U(m) + pU(m – d) (1)
Trong đó:
m: thu nhập
p: xác suất xảy ra tổn thất
10
U(x): hàm thu nhập
V: tổng trị giá thu nhập kỳ vọng.
Nếu mua bảo hiểm với mức phí bảo hiểm a và mức bồi thường i, tổng thu
nhập kỳ vọng của X là:
V(a,i,p) = (1 – p)U(m – a) + pU(m – d – a + i) (2)
Giả sử rằng X là người không thích mạo hiểm, khi đó U luôn giảm (tức là
U’(x) < 0) đồng thời đồ thị của U là một đường cong lõm (do đó V cũng là một
đường cong lõm). Trong các hợp đồng bảo hiểm, X sẽ chọn hợp đồng có V cực đại.
Giả sử tiếp rằng thu nhập từ các hợp đồng bảo hiểm của công ty bảo hiểm
phụ thuộc vào các biến ngẫu nhiên. Do vậy, khi bán được hợp đồng bảo hiểm, công
ty xẽ thu được (1 - p)a và phải trả p(i - a) khi tổn thất xảy ra. Lợi nhuận của công ty
là:
π (a,i,p) = (1 - p)a - p(i - a) (3)
Trên thị trường cạnh tranh hoàn hảo, lợi nhuận của công ty bằng 0 nên:
(1 - p)a - p(i - a) = 0 (4)
Mỗi hợp đồng bảo hiểm được đặc trưng bởi mức phí bảo hiểm a và mức bồi
thường i. Do đó, phương trình (4) thể hiện tất cả các hợp đồng bảo hiểm của công
ty. Tại một xác suất xảy ra rủi ro nhất định p, công ty sẽ định giá a và i sao cho
U
T
m
1
m
2
m
-
a
-
d
+
i
m
-
hin tp hp cỏc im kt hp thu nhp ca ngi mua bo him trong hai trng
hp trờn, ph thuc vo a, i v d, chớnh l ng cu bo him. ng thng OT
biu din cỏc tp hp im cú kt hp thu nhp bng nhau dự tn tht cú xy ra hay
khụng. ng thng EF l th ca phng trỡnh (4) biu din cỏc kt hp thu
nhp ca cụng ty bo him v chớnh l ng cung bo him. dc ca ng EF
12
được xác định bằng tỷ lệ
p
p
−
1
. Độ dốc của đường U được xác định bằng tỷ lệ thay
thế cận biên của thu nhập trong hai trường hợp m
1
và m
2
, tức là bằng
)(
)(
2
1
'
'
mU
mU
.
Thị trường đạt tới trạng thái cân bằng khi độ dốc của đường cầu U bằng độ
dốc của đường cung EF. Giả X có điểm kết hợp thu nhập ban đầu tại E. Tại điểm
này X sẽ có thu nhập m nếu tổn thất không xảy ra và m - d nếu tổn thất xảy ra. Để
hạn chế rủi ro, X mua một hợp đồng bảo hiểm dọc theo đường EF. Trong số các
1
m
2
U
L
U
H
A
B
H
F
Vỡ cụng ty bo him bit rừ xỏc sut xy ra ri ro ca hai nhúm khỏch hng
nờn h s a ra hai loi hp ng bo him tng ng vi hai mc ri ro. Ti im
cõn bng, c hai nhúm khỏch hng u c bo him ton b ri ro v mt mc
giỏ c cụng bng.
2.2.2. Cõn bng th trng trong iu kin thụng tin khụng cõn xng.
Nh kinh t hc Akerlof, trong nghiờn cu v thụng tin khụng cõn xng nm
1970 ó a ra nhng vn phỏt sinh trờn th trng bo him thõn th khi ngi
c bo him bit rừ tỡnh trng sc kho ca mỡnh cũn cụng ty bo him khụng
14
biết đến điều đó. Ông đưa ra một ví dụ trong đó công ty bảo hiểm không thể phân
loại khách hàng theo mức độ rủi ro và định giá các hợp đồng bảo hiểm ở một mức
trung bình. Trong điều kiện đó, chỉ những người có mức rủi ro cao hơn mức trung
bình mới muốn mua bảo hiểm. Điều này khiến công ty bảo hiểm bị lỗ và do đó, phí
bảo hiểm phải được tăng lên để đảm bảo cho công ty hoà vốn. Tiếp tục, trong số
những người mua bảo hiểm trước đây, chỉ những người có mức rủi ro cao hơn mức
trung bình mới mua bảo hiểm ở mức giá mới cao hơn. Quá trình tương tự diễn ra
liên tục cho đến khi chỉ những người có mức rủi ro rất cao mới sãn sàng mua bảo
hiểm ở một mức phí bảo hiểm cũng rất cao.
Năm 1976, nghiên cứu của hai nhà kinh tế học Rothschild và Stiglitz đã giải
thích sự đạt đến cân bằng trên thị trường bảo hiểm trong điều kiện thông tin không
cân xứng xảy ra giữa người bảo hiểm và người được bảo hiểm. Với sự thiếu hụt về
thông tin, thị trường này sẽ có hai kiểu cân bằng: cân bằng chung (Pooling
Equilibrium) và cân bằng riêng (Seperating Equilibrium). Trong trường hợp cân
bằng chung, công ty bảo hiểm không thể phân loại khách hàng theo mức độ rủi ro
nên phí bảo hiểm được xác định ở mức trung bình. Các hợp đồng bảo hiểm được
bán với cùng một mức giá cho mọi nhóm khách hàng. Tình trạng này sẽ dẫn đến
kiểu thị trường trong mô hình của nhà kinh tế học Akerlof như đã trình bày trên
đây. Trong trường hợp cân bằng riêng, các hợp đồng bảo hiểm được bán ở mức giá
phù hợp với từng loại rủi ro. Khi đó những người tham gia bảo hiểm sẽ tự phân loại
mình theo đặc điểm của rủi ro thông qua việc lựa chọn hợp đồng bảo hiểm.
A
B
E
H
G
A
’
B
’
F Hình 1.3 biểu diễn một ví dụ về cân bằng chung trong trường hợp có thông
tin không cân xứng. Trong phân tích trước, ta đã giả thiết rằng có hai nhóm khách
hàng tham gia bảo hiểm LR và HR với xác suất xảy ro rủi ro tương ứng là p
L
và p
H
(p
L
< p
H
). Đường EF biểu diễn đường cung các hợp đồng bảo hiểm cho khách hàng
cao hơn.
16
Mặt khác, cũng do không phân loại được khách hàng nên công ty bảo hiểm
định giá hợp đồng ở mức trung bình, thể hiện bằng đường EG. Kết quả là trong
trường hợp cân bằng chung những người có rủi ro cao sẽ mua hợp đồng B’ và người
có rủi ro thấp sẽ mua hợp đồng A’. So với phạm vi bảo hiểm toàn bộ rủi ro thì ở
phạm vi bảo hiểm này những người có rủi ro cao đã mua rẻ hơn và những người có
rủi ro thấp đã mua đắt hơn. Như vậy, người có rủi ro cao được bảo hiểm nhiều hơn
(over-insured) trong khi người có rủi ro thấp được bảo hiểm ít hơn (under-insured).
2.2.2.2. Cân bằng riêng
Hình 1.4 biều diễn trường hợp cân bằng riêng trên thị trường bảo hiểm có
thông tin không cân xứng.
A*
O
m
1
m
2
B
E
H
F Xét một thị trường tương tự như đã trình bày trong hình 1.3. Tuy nhiên công
ty bảo hiểm chào bán hai loại bảo hiểm ở hai mức giá khác nhau tương ứng với
từng mức độ rủi ro. Do công ty bảo hiểm không biết xác suất xảy ra rủi ro của
khách hàng nên điểm cân bằng tối ưu A và B không thể đạt được. Lúc này khách
hàng đều thích hợp đồng A hơn vì tại đó thu nhập kỳ vọng luôn cao hơn dù tổn thất
17
có xảy ra hay không. Trong trường hợp này, công ty bảo hiểm có thể đưa ra hai loại
hợp đồng (tương ứng theo hai đường cung EF và EH) phù hợp với từng loại rủi ro.
Vì công ty bảo hiểm không thể tách riêng người có rủi ro cao với người có
rủi ro thấp nên khi thị trường cân bằng, người có rủi ro cao sẽ mua hợp đồng B và
người có rủi ro thấp sẽ mua hợp đồng A*. Kết quả là khi tồn tại cân bằng riêng thì
hợp đồng cho mức rủi ro thấp là giao điểm giữa đường cầu của người có rủi ro cao
nhiên, sự phân loại khách hàng không thể triệt để nên sẽ vẫn có những khách hàng
được bảo hiểm vượt mức và những khách hàng được bảo hiểm thấp hơn so với số
tiền bảo hiểm.
3. Lựa chọn đối nghịch
3.1. Khái niệm
Lựa chọn đối nghịch là vấn đề do thông tin không cân xứng tạo ra trước khi
diễn ra cuộc giao dịch. Trên các thị trường tín dụng, lựa chọn đối nghịch xảy ra khi
những người đi vay có nhiều khả năng tạo ra một kết cục không mong muốn lại
chính là những người tích cực đi tìm vay nhất và do vậy, trong số những người đi
vay họ sẽ là người dễ được lựa chọn nhất. Trên thị trường chứng khoán, lựa chọn
đối nghịch xuất hiện khi nhà đầu tư không biết thông tin về các loại cổ phiếu của
các công ty khác nhau do đó có thể mua phải cổ phiếu của một công ty hoạt động
kém, rủi ro cao. Vấn đề lựa chọn đối nghịch cũng xuất hiện trong nhiều hoạt động
khác của nền kinh tế. Nói một cách tổng quát, lựa chọn đối nghịch là những quyết
định sai lầm của một bên tham gia giao dịch mà nguyên nhân là do thông tin không
cân xứng.
Để hiểu rõ hơn về khái niệm lựa chọn đối nghịch và những tác động của nó
đến nền kinh tế, ta nghiên cứu sự hình thành của lựa chọn đối nghịch như sẽ trình
bày dưới đây.
3.2. Sự hình thành lựa chọn đối nghịch
19
Dựa trên nghiên cứu của nhà kinh tế học G. AKERLOF năm 1970 có tựa đề:
“The market for ‘lemons’ Quality Uncertainty and the Market Mechanism”, tôi xin
trình bày một cách tổng quát về sự hình thành lựa chọn đối nghịch như sau:
Lựa chọn đối nghịch là hiện tượng xảy ra trên bất kỳ thị trường nào xuất hiện
thông tin không cân xứng. Do không có đủ thông tin liên quan đến giao dịch nên
một trong các bên tham gia giao dịch sẽ đưa ra những quyết định sai lầm. Trong
phần này, ta giả có hai bên tham gia giao dịch, người bán S và người mua B cùng
tham gia trên một thị trường trao đổi sản phẩm A bất kỳ. Trên thị trường, có hai
mức chất lượng đối với sản phẩm A: chất lượng tốt (A
< P
H2
. Khi đó ta sẽ thấy có những trường hợp
sau đây:
Trường hợp 1: Cả người bán và người mua đều biết rõ chất lượng từng loại.
Trong trường hợp này, cả hai nhóm sản phẩm A sẽ được bán trên thị trường
ở mức giá do quan hệ cung cầu và sự thoả thuận của các bên quyết định. Sản phẩm
có chất lượng tốt, A
H
sẽ được bán ở mức giá nằm giữa P
H1
và P
H2
còn sản phẩm có
chất lượng kém sẽ được trao đổi ở mức gí nằm giữa P
L1
và P
L2
.
Trường hợp 2: Cả người bán và người mua không biết về chất lượng từng
loại sản phẩm.
Khi đó sự trao đổi xẽ diễn ra trên cơ sở kỳ vọng giá trị của từng loại hàng
hoá. Giả sử người bán và người mua đều biết rõ tỷ lệ sản phẩm có chát lượng xấu
20
và tốt trong nền kinh tế, tương ứng là π và 1 - π. Vậy kỳ vọng giá trị của người bán
EVS và của người mua EVB là:
EVS = π P
L1
+ (1 - π)P
H1
P
L2
). Trong trường hợp này người mua đã thực hiện một lựa chọn đối nghịch.
Nguyên nhân của vấn đề này là do người bán biết rõ chất lượng của sản phẩm trong
khi người mua không biết điều đó. Kết quả là người bán sẵn sàng bán ở mức giá có
lợi và không bao giờ bán ở mức giá bất lợi cho anh ta. Lựa chọn đối nghịch chỉ xảy
ra trong trường hợp người bán có thông tin tốt hơn người mua. Ngay cả khi hai bên
đều không biết về chất lượng sản phẩm thì lựa chọn đối nghịch cũng không xảy ra.
Đương nhiên người bán luôn biết rõ về sản phẩm hơn người mua nên ít có trường
hợp thứ tư là : người mua có thông tin tốt hơn người bán.
Phân tích trên đây dựa trên giả thiết rằng người mua đưa ra mức giá P* thoả
mãn: P
L2
< P* < P
H1
. Tuy nhiên thực tế người mua có thể đưa ra các mức giá sau:
• P < P
L1
: Khi đó thị trường không có sản phẩm được trao đổi.
21
• P
L1
< P < P
H1
: Chỉ người bán sản phẩm kém chất lượng A
L
mới chấp nhận
mức giá này, kết quả lừ trên thị trường chỉ xuất hiện A
L
. Khi đó thị trường sẽ đạt
L2
– P) = π(P
L2
– P
L1
) > 0.
Tuy nhiên EVB không phải là một căn cứ chắc chắn để xác định giá cả hợp
lý vì nếu người mua đánh giá sản phẩm quá cao (P
L2
và P
H2
lớn hơn) thì EVB tăng.
Do vậy người mua cần thu thập thêm thông tin để xác định giá tốt hơn.
4. Rủi ro đạo đức
4.1. Khái niệm
Rủi ro đạo đức là hậu quả của thông tin không cân xứng. Khác với lựa chọn
đối nghịch, rủi ro đạo đức suất hiện sau cuộc giao dịch khi một bên thực hiện những
hành động ẩn giấu và có ảnh hưởng đến lợi ích của phía đối tác. Có nhiều cách định
nghĩa về rủi ro đạo đức:
- Rủi ro đạo đức là một xu hướng theo đó người được bảo hiểm ít nỗ lực
hơn trong việc bảo vệ hàng hoá trước hư hại và mất cắp .
- Rủi ro đạo đức là tình trạng một bên tham gia thị trường không thể giám
sát hoạt động của phía bên kia. Vì lý do này, rủi ro đạo đức còn được gọi là vấn đề
hành động ẩn giấu (hidden action) .
22
- Rủi ro đạo đức là một cách gọi khác của hành động ẩn giấu theo đó người
được thông tin có thể thực hiện những hành động “sai trái”.
- Rủi ro đạo đức phát sinh khi những người sở hữu thông tin riêng thực
hiện những hành động có ảnh hưởng đối lập đến xác suất đưa đến những hậu quả
xấu (McTaggart, Findlay & Parkin (1992) trang 440).
tham gia bảo hiểm (X). Gọi mức chi phí này là a
1
và a
0
(a
1
>a
0
).
Đặt a
0
= 0, khi đó, xác suất xảy ra rủi ro khi a = 0 là p
0
, và khi a = a
1
là p
1
. Để
đảm bảo rằng khi bỏ ra chi phí a
1
X sẽ hạn chế rủi ro tốt hơn khi bỏ ra a
0
thì:
(p
0
– p
1
)d > a
1
hay p
d
m
–
d
–
a
1
U
0
U
1
A
0
M
0
O
T
m
m
–
a
1
p
1
1
M
1
.
24
Khi thị trường có thông tin hoàn hảo và công ty bảo hiểm có khả năng giám
sát được việc X đang thực hiện mức chi phí a
1
cho việc chăm sóc, bảo quản đối
tượng bảo hiểm thì công ty bảo hiểm sẽ chào bán hợp đồng bảo hiểm toàn phần tại
bất kỳ điểm nào trên đường hoà vốn (đường cung bảo hiểm) mới B
1
M
1
.
Đối với X, hiển nhiên mức thu nhập sẽ tốt hơn khi thực hiện mức chi phí a
1
cho việc bảo quản, chăm sóc đối tượng bảo hiểm vì khi đó đường thu nhập của X ở
vị trí U
1
cao hơn so với khi chọn a
0
(có đường thu nhập U
0
thấp hơn).
Tuy nhiên đây là tình huống xảy ra trong điều kiện thông tin hoàn hảo. Như
đã đề cập trên đây, rủi ro đạo đức sẽ diễn ra khi xuất hiện thông tin không cân xứng.
Giả sử, công ty bảo hiểm không thể giám sát hành động của X và X chọn mức chi
phí chăm sóc đối tượng bảo hiểm là a
1
“khấu trừ” (deductible)và “san sẻ trách nhiệm” (co-payment).
25