Phân tích ảnh hưởng của suy thoái kinh tế thế giới đến thị trường chứng khoán Việt Nam từ năm 2009 tới nay - Pdf 67

LỜI CẢM ƠN
Khóa luận là kết quả của quá trình em học tập và nghiên cứu tại Trường Đại học
Ngoại thương với sự chỉ bảo, giúp đỡ tận tình của các cán bộ, giảng viên và các bạn
sinh viên Đại học Ngoại thương.
Em đặc biệt gửi lời cảm ơn sâu sắc tới thầy PGS,TS. Nguyễn Đình Thọ, người đã
tận tình hướng dẫn và giúp em sửa đổi nhiều thiếu sót trong bài Khóa luận.
Em xin cảm ơn các anh chị công tác tại Thư viện trường, các anh chị, cô chú
công tác tại Viện Kinh tế Việt Nam, Viện Kinh tế Thế giới, Thư viện Quốc gia Việt
Nam cùng các anh chị và các bạn công tác tại Công ty Cổ phần Chứng khoán FPT,
Công ty TNHH Chứng khoán Ngân hàng Thương mại Cổ phần Ngoại thương Việt
Nam đã tạo điều kiện thuận lợi cho em trong quá trình tìm kiếm tài liệu phục vụ
nghiên cứu.
Em cũng xin gửi lời cảm ơn tới các bạn và gia đình, những người đã giúp đỡ em
rất nhiều về kiến thức và chia sẻ những khó khăn trong cuộc sống, tạo điều kiện để
em có thể hoàn thành tốt nhất Khóa luận này.
Sinh viên
Phạm Văn Tuấn
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG BIỂU – ĐỒ THỊ
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BĐS Bất động sản
CP Cổ phiếu
DN Doanh nghiệp
EU Liên minh Châu Âu
IMF Quỹ Tiền tệ Quốc tế
FED Cục Dự trữ Liên bang Mỹ
NHNN Ngân hàng Nhà nước
NHTM Ngân hàng thương mại
NHTW Ngân hàng Trung Ương
SGDCK Sở giao dịch chứng khoán

số giải pháp để hạn chế những tác động đó, đồng thời đẩy mạnh sự phát triển và hoàn
thiện TTCK trong tương lai.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- 5 -
Khóa luận tập trung nghiên cứu tác động của suy thoái kinh tế và khủng hoảng tài
chính Mỹ tới TTCK Việt Nam thông qua những biểu hiện cụ thể về biến động giá và
chỉ số giá, khối lượng và giá trị giao dịch và tác động qua tâm lý các nhà đầu tư.
Khóa luận chủ yếu nghiên cứu các chứng khoán niêm yết trên hai sàn HoSE và
HaSTC trong thời gian từ đầu năm 2009 đến nay, những đánh giá về các thời kỳ
trước đó chỉ nhằm mục tiêu làm rõ những biến động của TTCK trong giai đoạn từ
năm 2009 tới nay.
4. Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện dựa trên phương pháp phân tích, tổng hợp thông tin
từ các báo cáo của các tổ chức nghiên cứu kinh tế, các công ty chứng khoán Việt Nam
và thế giới về tình hình kinh tế và TTCK, từ đó đưa ra những nhận xét và đánh giá về
tác động trong cả thời kỳ và đề xuất giải pháp nhằm hạn chế những tác động bất lợi
đó.
5. Kết cấu luận văn
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, Khóa luận bao gồm ba chương:
Chương I: Khái quát về ảnh hưởng của suy thoái kinh tế tới thị trường chứng
khoán.
Chương II: Phân tích tác động của suy thoái kinh tế đến thị trường chứng khoán
Việt Nam.
Chương III: Định hướng phát triển thị trường và các giải pháp đề xuất nhằm
hạn chế tác động của suy thoái đối với thị trường chứng khoán
Do tác giả còn hạn chế về hiểu biết và thời gian nghiên cứu nên Khóa luận có thể
còn nhiều thiếu sót, tác giả rất mong nhận được sự phê bình góp ý từ các thầy cô và
các bạn để có thể hoàn thiện Khóa luận tốt hơn.
Tác giả xin chân thành cảm ơn!
- 6 -

- được hiểu là bằng chứng xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của
1 Đinh Xuân Trình (2008), Giáo trình Thị trường chứng khoán, Nhà xuất bản Giáo dục, tr.8
2 Nguyễn Văn Tiến (2009), Giáo trình Tài chính – Tiền tệ – Ngân hàng, Nhà xuất bản thống kê, tr.121
3 Sđd, tr.121
- 7 -
người sở hữu đối với tài sản hoặc phần vốn của tổ chức phát hành, là công cụ dẫn
xuất khác hình thành trên cơ sở những công cụ đã có. Chứng khoán được thể hiện
dưới hình thức chứng chỉ, bút toán ghi sổ hoặc dữ liệu điện tử, bao gồm: (i) Cổ phiếu,
trái phiếu, chứng chỉ quỹ; (ii) Quyền mua cổ phần, chứng quyền, quyền chọn mua,
quyền chọn bán, hợp đồng tương lai, nhóm chứng khoán hoặc chỉ số chứng khoán.
Trong điều kiện hàng hóa của TTCK ngày càng phong phú, đa dạng, người ta
phân chia chứng khoán thành 5 nhóm chính: cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ đầu
tư, các công cụ chuyển đổi và các công cụ phái sinh.
4

Sơ đồ 1.1: Các nhóm hàng hóa trên TTCK
Nguồn: Tổng hợp từ Giáo trình Tài chính – Tiền tệ – Ngân hàng
1.1.2. Phân loại
Có nhiều cách phân loại TTCK, phụ thuộc vào căn cứ phân loại. Những căn cứ
phân loại phổ biến đối với TTCK được thể hiện trong bảng dưới đây.
Bảng 1.1 : Phân loại thị trường chứng khoán theo một số căn cứ chủ yếu.
Căn cứ Phân loại
Thị trường sơ cấp Thị trường thứ cấp
Khái
niệm
Là thị trường mua bán các chứng
khoán mới phát hành.
Là nơi giao dịch các chứng khoán
đã phát hành.
Vai trò

- Niêm yết chứng khoán
- Giao dịch theo nguyên tắc đấu
giá
- Giao nhận và thanh toán bù trừ
- Lưu ký tại sàn giao dịch
- Giao dịch trực tiếp hoặc thông
qua trung gian
- Chứng khoán không niêm yết
- Giá cả thỏa thuận
- Giao nhận và thanh toán theo
thỏa thuận
- Lưu ký tự do
Hàng hóa
Thị trường
Cổ phiếu
Thị trường
Trái phiếu
Thị trường các Công
cụ phái sinh
Hàng hóa
- Cổ phiếu thường
- Cổ phiếu ưu đãi
- Trái phiếu công ty
- Trái phiếu Chính phủ
-Trái phiểu đô thị
- Quyền mua cổ phần
- Chứng quyền
- Hợp đồng quyền
chọn
Nguồn: Tổng hợp từ Ủy ban chứng khoán Nhà nước

Nguồn: Ủy ban Chứng khoán Nhà nước
Tóm lại, có thể nói TTCK thực chất là quá trình vận động của tư bản tiền tệ, nơi
mà các chứng khoán có thể mang lại thu nhập cho người nắm giữ nó sau một thời
gian nhất định. Các chứng khoán này được lưu thông trên TTCK theo giá thị trường
- 10 -
và có bề ngoài tương tự tư bản hàng hóa. Tuy nhiên, không giống các thị trường hàng
hóa khác, chứng khoán là quyền sở hữu về hàng hóa nên ta có thể nhận định TTCK là
hình thức phát triển bậc cao của nền sản xuất và lưu thông hàng hóa.
6

1.2.2. Chức năng
Dựa trên bản chất, TTCK có các chức năng chủ yếu như sau:
- Huy động vốn đầu tư cho nền kinh tế: đây là kênh huy động vốn quan trọng đối với
mỗi nền kinh tế, nhất là đối với các nền kinh tế phát triển – nơi mà vốn đòi hỏi phải
được luân chuyển tự do trong cả nền kinh tế;
- Cung cấp môi trường đầu tư cho công chúng: TTCK là một kênh đầu tư quan trọng ,
giúp đa số công chúng có thể sử dụng vốn nhàn rỗi một cách hiệu quả, thông qua việc
đầu tư vào TTCK hoặc đầu tư gián tiếp qua các định chế tài chính;
- Tạo tính thanh khoản cho chứng khoán: đảm bảo cho TTCK hoạt động một cách năng
động và hiệu quả
7
;
- Đánh giá giá trị doanh nghiệp và tình hình của nền kinh tế: TTCK được coi là "phong
vũ biểu" của nền kinh tế, thường thể hiện một cách chính xác và nhạy bén tình hình
các công ty nói riêng và cả thị trường nói chung;
- Giúp chính phủ thực hiện chính sách vĩ mô: Chính phủ có thể huy động vốn nhằm bù
đắp thiếu hụt ngân sách, đồng thời các chính sách, quy định của Chính phủ có thể tác
động tới nền kinh tế thông qua TTCK;
- Hội nhập kinh tế thế giới: Thông qua TTCK, các nhà đầu tư có thể đầu tư vào hoạt
động sản xuất kinh doanh của các Công ty nước ngoài hay mua Trái phiếu do Chính

- Các tổ chức tài chính phát hành nhiều loại công cụ tài chính tùy thuộc vào mục
đích hoạt động của họ.
(ii)Nhà đầu tư: những người thực sự mua và bán chứng khoán trên thị trường, bao gồm
cả nhà đầu tư cá nhân và các nhà đầu tư có tổ chức – các định chế đầu tư như các
công ty tài chính, công ty bảo hiểm, quỹ đầu tư, quỹ lương hưu và các quỹ bảo
hiểm xã hội khác. Các tổ chức đầu tư tận dụng kinh nghiệm và sự đa dạng hóa
danh mục đầu tư để giảm rủi ro.
(iii) Các tổ chức kinh doanh: bao gồm các Công ty chứng khoán với nghiệp vụ tự
doanh, bảo lãnh phát hành, môi giới, quản lý danh mục đầu tư, tư vấn đầu tư và
các Ngân hàng thương mại đầu tư vào TTCK nhằm tăng lợi nhuận và giảm rủi ro
trên cơ sở đa dạng hóa danh mục đầu tư.
Tại Việt Nam, các công ty chứng khoán phải có số vốn nhất định và đảm bảo thực
hiện những quy định cụ thể khi thực hiện mỗi nghiệp vụ kể trên còn các Ngân
hàng thường thành lập công ty chứng khoán là công ty con để đầu tư và bảo lãnh
phát hành chứng khoán.
8 Đào Lê Minh (2002), Giáo trình những vấn đề cơ bản về chứng khoán và thị trường chứng khoán, Nhà xuất
bản chính trị Quốc gia, tr.58
- 12 -
(iv) Các tổ chức có liên quan: bao gồm các Cơ quan quản lý (thường là các Ủy ban
chứng khoán Nhà nước), Sở giao dịch, Tổ chức lưu ký và thanh toán bù trừ,
Công ty đánh giá hệ số tín nhiệm, Hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán và
Tổ chức tài trợ chứng khoán.
1.3. Các tiêu chí chủ yếu đánh giá hoạt động của thị trường chứng khoán
1.3.1. Giá và chỉ số giá
- Giá chứng khoán ở đây được hiểu là giá đóng cửa của mỗi mã chứng khoán
được niêm yết và giao dịch tại các trung tâm giao dịch chứng khoán. Giá chứng
khoán phản ánh giá trị thị trường của mỗi loại chứng khoán, đồng thời xu hướng tăng
giảm của giá chứng khoán phản ánh sự phát triển và đánh giá của thị trường nói
chung về công ty niêm yết.
- Về chỉ số giá, theo đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ: "Cơ sở khoa học và thực

Sở giao dịch chứng khoán New York có trên 3000 cổ phiếu niêm yết, nhưng chỉ
số tổng hợp Dow Jones chỉ bao gồm 65 cổ phiếu mà vẫn phản ánh được xu thế, động
thái của quá trình vận động của giá cả (trong đó, chỉ số Dow Jones công nghiệp -
DJIA gồm 30 cổ phiếu, Dow Jones vận tải – DJTA bao gồm 20 cổ phiếu và Dow
Jones dịch vụ - DJUA gồm 15 cổ phiếu). Những cổ phiếu trong rổ đại diện này không
còn tiêu biểu bị thay thế bởi cổ phiếu tiêu biểu hơn (tháng 11/1999, sàn New York đã
thay 4 cổ phiếu trong rổ đại diện).
Đối với Việt Nam – một TTCK mới ra đời, do số lượng các cổ phiếu niêm yết
chưa nhiều nên rổ đại diện nên bao gồm tất cả các cổ phiếu. Tuy nhiên cũng nên chú
ý đến khối lượng và giá trị giao dịch. Nếu một cổ phiếu nào đó trong một thời gian
dài không có giao dịch hoặc giao dịch không đáng kể thì nên tạm loại khỏi phạm vi
tính toán.
- Tìm biện pháp trừ khử các yếu tố về giá trị: Các yếu tố như thêm, bớt hay thay
đổi thành phần trong rổ đại diện; nhập, tách cổ phiếu; thưởng cổ phần... sẽ làm cho
chỉ số giá không phản ánh chính xác sự biến động của riêng giá. Để trừ khử ảnh
- 14 -
Chứng khoán
Chứng khoán
Cổ phiếu
Cổ phiếu
hưởng của các yếu tổ thay đổi về khối lượng và giá trị trong quá trình tính toán chỉ số
giá cổ phiếu, người ta dùng kỹ thuật điều chỉnh hệ số chia. Đây là một đặc thù riêng
của việc xây dựng chỉ số giá chứng khoán.
1.3.2. Khối lượng giao dịch
Khối lượng giao dịch được hiểu là số lượng đơn vị được giao dịch trong khoảng
thời gian nhất định, thông thường là trong một ngày. Đó là khối lượng của các chứng
khoán được giao dịch mỗi ngày trên TTCK.
Trong cách tiếp cận hai hướng để phân tích TTCK: bao gồm việc nghiên cứu về
giá và khối lượng thì giá quan trọng hơn nhưng khối lượng cung cấp sự xác nhận thứ
cấp quan trọng cho diễn biến về giá trên đồ thị và thường gia tăng thêm những cảnh

khoán của các nhà đầu tư nước ngoài trên TTCK của một quốc gia. Những giao dịch
này thể hiện sự quan tâm của các nhà đầu tư nước ngoài đối với TTCK một nước và
sức hút đầu tư hiện tại của thị trường.
Khi các nhà đầu tư kỳ vọng cao từ TTCK nước sở tại, họ sẽ mua nhiều hơn bán,
khiến cho ròng vốn đầu tư chảy vào nước đó và ngược lại, khi nhận thấy những dấu
hiệu rủi ro, các nhà đầu tư nước ngoài có tâm lý thu hồi vốn và hiện tượng khối ngoại
bán ròng sẽ diễn ra. Việc khối ngoại bán ra, có thể là đảo danh mục đầu tư hoặc là
thoái vốn, làm cho TTCK thiếu hụt vốn đầu tư nước ngoài.
2. Suy thoái kinh tế và ảnh hưởng của suy thoái kinh tế tới thị trường chứng
khoán
2.1. Một số vấn đề lý thuyết về khủng hoảng và suy thoái kinh tế
2.1.1. Khái niệm suy thoái kinh tế
Khái niệm suy thoái, khủng hoảng kinh tế và chu kỳ được nhiều nhà kinh tế học
đề cấp trong các nghiên cứu của mình như việc chính phủ có nên can thiệp để điều
hòa kinh tế (học thuyết kinh tế vĩ mô của Keynes), khuyếch đại chu kỳ kinh tế (lý
thuyết chu kỳ kinh tế thực), hoặc thậm chí là tạo ra chu kỳ kinh tế (chủ nghĩa tiền tệ).
Trong số đó, những nghiên cứu của John Maynard Keynes (1883 –1946), một kinh tế
học người Anh cùng với tác phẩm Lý thuyết chung về việc làm, lãi suất và tiền tệ
(1936) là một trong những lý thuyết kinh tế có ảnh hưởng lớn nhất tới kinh tế học thế
- 16 -
giới, đặc biệt là những vấn đề liên quan tới sự can thiệp của nhà nước và khủng
hoảng – suy thoái kinh tế sau khi cuộc đại khủng hoảng 1929 – 1933 chứng tỏ rằng
những học thuyết "tự điều tiết" kinh tế như lý thuyết "Bàn tay vô hình" (Adam Smith)
hay học thuyết "Cân bằng tổng quát" (Léon Walras) thiếu tính chất xác đáng.
Khái niệm "Suy thoái kinh tế" (recession/economic downturn) được định nghĩa
trong Kinh tế học vĩ mô là sự suy giảm của Tổng sản phẩm quốc nội thực trong thời
gian hai hoặc hơn hai quý liên tiếp (tốc độ tăng trưởng kinh tế âm liên tục trong hai
quý). Tuy nhiên, định nghĩa này không được chấp nhận rộng rãi. Cơ quan Nghiên cứu
Kinh tế Quốc gia (NBER) của Hoa Kỳ đưa ra định nghĩa suy thoái kinh “là sự tụt
giảm hoạt động kinh tế trên cả nước, kéo dài nhiều tháng”. Suy thoái kinh tế có thể

tại
Đỉnh trước
tới đỉnh
hiện tại
1854-2009 (33 chu kỳ) 16 42 56 55*
1854-1919 (16 chu kỳ) 22 27 48 49**
1919-1945 (6 chu kỳ) 18 35 53 53
1945-2009 (11 chu kỳ) 11 59 73 66
* 32 chu kỳ; ** 15 chu kỳ
Nguồn: Cơ quan Nghiên cứu Kinh tế Quốc gia (NBER) Hoa Kỳ
2.1.2. Nguyên nhân của suy thoái kinh tế
Đa số các nhà kinh tế và các nhà hoạch định chính sách đều cho rằng nguyên
nhân của suy thoái kinh tế là sự kết hợp của các yếu tố bên trong (nội sinh) theo chu
kỳ như lạm phát bởi cung tiền (trường phái kinh tế học Áo), quản lý tiền tệ yếu kém
(nguyên nhân chủ yếu của suy thoái ở Mỹ) và các cú sốc từ bên ngoài (ngoại sinh)
như giá dầu, thời tiết, chiến tranh.
Trường phái Keynes giải thích nguyên nhân của suy thoái kinh tế như sau:
+ Khi kinh tế trong thời kỳ ổn định, việc làm và tiêu dùng đều ở mức cao do sự
hiện diện của một quá trình tuần hoàn của tiền tệ trong nền kinh tế.
+ Khi có một lý do nào đó làm cho người tiêu dùng mất đi sự tin tưởng trên thị
trường kinh tế, lo sợ bất ổn kinh tế, họ sẽ cố gắng giảm bớt mọi khoản chi tiêu. Tình
trạng "vòng tròn luẩn quẩn" sẽ diễn ra khiến cho cả nền kinh tế giảm chi tiêu và sản
xuất.
Giải pháp: Keynes nêu ra giải pháp để giải quyết cho tình trạng khó khăn trên là
ngân hàng nhà nước cần phải đẩy mạnh cung ứng tiền tệ (cung tiền tệ). Việc hỗ trợ
thêm tiền cho chi tiêu sẽ giúp người tiêu dùng không phải giảm tiêu dùng hay thậm
chí còn tăng tiêu dùng và như vậy sẽ tạo ra hiệu ứng lan tỏa, kích thích doanh nghiệp
trở lại sản xuất. Đây là cơ sở cho các gói kích cầu mà nhiều Chính phủ đã thực hiện
để vượt qua suy thoái 2008 – 2009.
2.2. Ảnh hưởng của suy thoái kinh tế đến thị trường chứng khoán

3.1.1. Nền kinh tế Mỹ trước khủng hoảng tài chính
- 19 -
Nước Mỹ bước vào thế kỷ XXI với một nền kinh tế lớn hơn bao giờ hết và chiếm
tới hơn 25% GDP toàn cầu. Bảng dưới đây có thấy kinh tế Mỹ tăng trưởng khá đều
đặn từ năm 2000 cho tới năm 2006 và tụt dốc thê thảm vào năm 2007. Tuy nhiên, sự
tăng trưởng của Mỹ vào những năm đầu của thế kỷ XXI có thể nói là một sự tăng
trưởng quá nóng khi mà tỷ lệ lạm phát thực tế thường xuyên ở mức trên dưới 3%,
trong khi đó ở các nước phát triển, lạm phát hơn 2% đã được coi là dấu hiệu nguy
hiểm. Với tốc độ lạm phát cao, đồng USD bắt đầu mất giá so với Euro từ cuối năm
2006. Để kiềm chế lạm phát, FED liên tục tăng lãi suất từ năm 2003 lên tới đỉnh điểm
là 5,25% vào nửa cuối năm 2006. Nhưng do thị trường tín dụng đầy khó khăn, FED
đã mở đợt cắt giảm lãi suất vào 18/09/2007 và chính sự cắt giảm lãi suất này cùng sự
thâm hụt thương mại Mỹ đã khiến đồng USD trở nên kém hấp dẫn với các nhà đầu
tư.
Cuối cùng, với sự tăng trưởng quá nóng của nền kinh tế Mỹ những năm đầu tiên
của thế kỷ XXI đã lại châm ngòi cho một cuộc khủng hoảng tài chính – tiền tệ năm
2008.
Bảng 1.3: Tình hình kinh tế Mỹ thời kỳ trước khủng hoảng 2000 - 2007
Năm 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007
GDP
(nghìn tỷ
USD)
11.35 11.55 11.84 12.26 12.64 12.98 13.23 2.01
Tỷ lệ lạm
phát (%)
3.37 2.82 1.60 2.30 2.67 3.37 3.22 2.87
Tỷ lệ thất
nghiệp (%)
3.97 4.74 5.78 5.99 5.54 5.08 4.61 4.61
Nợ ròng

Tiêu chuẩn Tín dụng
1
Nhu cầu Tín dụng
2
- 21 -
(1) Phần trăm số phản hồi cho rằng các tiêu chuẩn tín dụng được thắt chặt "đáng kể" hoặc "khá" trừ đi số
phản hồi cho rằng các tiêu chuẩn này được nới lỏng "đáng kể" hoặc "khá" trong ba tháng trước đó.
(2) Phần trăm số phản hồi cho rằng nhu cầu vay vốn mạnh hơn "đáng kể" hoặc "vừa phải" trừ đi số phản hồi
cho rằng những nhu cầu này yếu hơn "đáng kể" hoặc "vừa phải" so với ba tháng trước đó.
Nguồn: IMF, World Economic Outlook (WEO), Tháng 04/2008, trang 14
Những chứng khoán phái sinh CMOs này có lợi suất cao nên nhanh chóng trở
thành một phần lớn trong các danh mục đầu tư của các công ty tài chính, quỹ đầu tư
và các quỹ mạo hiểm. Việc chứng khoán hóa các khoản nợ này đã tạo ra một nguồn
vốn lớn cho nền kinh tế. Tuy nhiên, do các khoản đầu tư không được đảm bảo bằng
các nguồn thu mà chỉ là nợ quay vòng giữa các tổ chức nên chúng tạo ra một tình
trạng không thực trên thị trường được các nhà kinh tế gọi là bong bóng trên thị
trường BĐS. Bong bóng tài chính này càng phình to khi thu hút được sự tham gia của
các nhà đầu tư nước ngoài: trực tiếp thông qua việc mua bán CMOs hay gián tiếp đầu
tư qua các tổ chức tài chính Mỹ. Hoạt động đầu tư nước ngoài này khiến bong bóng
- 22 -
tài chính có khả năng lan rộng tới cả các định chế tài chính ngoài nước Mỹ, ảnh
hưởng đến các thị trường khác một cách nhanh chóng.
Từ năm 2005, Chính phủ Mỹ tăng lãi suất trở lại để đối phó với lạm phát sau
chiến tranh Irac, các ngân hàng siết chặt tín dụng khiến nhiều người vay tiền mua
BĐS rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán, thị trường BĐS Mỹ có nhiều dấu
hiệu đổ vỡ.
Biểu đồ 1.2: Chỉ số giá hàng hóa cơ bản và giá dầu trên thị trường thế giới
qua các năm
* Chỉ số giá, năm 2005 = 100
** Chỉ số giá hàng hóa bao gồm cả giá dầu; Chỉ số giá đầu vào công nghiệp bao gồm cả giá

hiện tượng mất tính thanh khoản ồ ạt, làm đóng băng hoạt động tín dụng liên ngân
hàng và các thị trường repo (xem biểu đồ dưới đây). Đây là nguyên nhân thứ hai
được nhiều chuyên gia phân tích đưa ra để giải thích cho nguồn gốc của khủng hoảng
tài chính Mỹ sau những biến động trên thị trường thế chấp cho vay dưới chuẩn.
USD
EUR
Yen
Hoa Kỳ
Khu vực đồng Euro
Chênh lệch tỷ giá liên ngân hàng
1
(điểm cơ bản)
Chênh lệch CDS ngân hàng
2
(mười năm, tính bằng điểm cơ bản)
Biểu đồ 1.4: Các chỉ số tăng lãi suất tín dụng ở Mỹ và Châu Âu
10 9h45 19/04/2011
11 Chương trình phát triển Liên Hợp Quốc ở Việt Nam (2008), Cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu và những
tác động dài hạn của nó đối với Việt Nam, tr.10
- 24 -
Ghi chú: (1) LIBOR thời hạn 3 tháng trừ lãi suất hối phiếu chính phủ kỳ hạn 3 tháng
(2) CDS-Hoán đổi vỡ nợ tín dụng
Nguồn: World Economic Outlook (WEO), Tháng 4/2009, trang 2
Ngày 14/09/2008, các tập đoàn tài chính toàn cầu báo lỗ và thâm hụt 510 tỷ USD
do khủng hoảng tín dụng. Ngay sau đó, các tổ chức quốc tế còn đưa ra những con số
lớn hơn nhiều (IMF đưa ra con số lỗ của các tập đoàn tài chính là 1.500 tỷ USD, và
Ngân hàng Trung Ương Anh – BOE đưa ra con số 2.800 tỷ USD).
Hệ thống ngân hàng là kênh tín dụng quan trọng nhất cung cấp vốn cho nền kinh
tế, khi hệ thống này ngừng hoạt động thì toàn bộ nền kinh tế sẽ bị rối loạn và khủng
hoảng tài chính sẽ trở thành khủng hoảng kinh tế. Khi các nền kinh tế hội nhập sâu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status