Sử dụng một số mô hình phân tích động thái giá cổ phiếu ngành Khai thác khoáng sản trên thị trường chứng khoán Việt Nam - Pdf 25

1
Chuyên đề thực tập
Khoa Toán kinh tế
MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
LỜI NÓI ĐẦU 3
CHƯƠNG I 5
GIỚI THIỆU MỘT SỐ MÔ HÌNH PHÂN TÍCH ĐỘNG THÁI GIÁ CỔ PHIẾU 5
I.1 MÔ HÌNH CÂY NHỊ PHÂN 5
I.1.1 Mô hình cây nhị phân một giai đoạn 5
I.1.2 Mô hình cây nhị phân hai giai đoạn 5
I.1.3 Mô hình cây nhị phân n giai đoạn 6
I.1.4 Ước lượng các tham số của mô hình 7
I.2 MÔ HÌNH GBM 9
I.2.1 Dạng rời rạc của mô hình GBM về giá cổ phiếu 9
I.2.2 Dạng liên tục của mô hình GBM về giá cổ phiếu 10
I.2.3 Mô hình GBM và quá trình loga giá cổ phiếu 10
I.2.4 Kiểm định và ước lượng các tham số của mô hình 11
I.3 MÔ HÌNH PHỤC HỒI TRUNG BÌNH 12
I.3.1 Mô hình 12
I.3.2 Kiểm định và ước lượng các tham số của mô hình 12
CHƯƠNG II 14
TỔNG QUAN VỀ NGÀNH KHAI THÁC KHOÁNG SẢN VÀ CÁC CỔ PHIẾU NGÀNH KHAI THÁC KHOÁNG
SẢN TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM 14
II.1 TỔNG QUAN VỀ NGÀNH KHAI THÁC KHOÁNG SẢN 14
II.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển 14
II.1.2 Khoáng sản đối với sự phát triển kinh tế - xã hội đất nước 15
II.2 THỰC TRẠNG NGÀNH KHAI THÁC KHOÁNG SẢN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 15
II.2.1 Một vài số liệu thống kê 15
II.2.2 Các nhân tố ản hưởng đến hoạt đông của ngành 18
II.2.3 So sánh ngành khai thác khoáng sản Việt Nam với ngành khai thác khoáng sản một số

động. Đầu tư vào thị trường chứng khoán có vị trí quan trọng đối với nhiều cá nhân
muốn kiếm lời từ hoạt động đầu tư.
Tuy nhiên, để thực sự tham gia được vào thị trường chứng khoán đòi hỏi các
nhà đầu tư phải có một lượng kiến thức nhất định về thị trường chứng khoán. Thị
trường chứng khoán chỉ có thể phát triển được khi có sự tham gia ngày càng đông
đảo của những người có đầy đủ kiến thức về thị trường chứng khoán. Do đó, kiến
thức đối với nhà đầu tư ở Việt Nam đòi hỏi được nâng cao. Thị trường chứng khoán
vỗn sẵn có sự hấp dẫn riêng, nó không chỉ quan trọng đối với nền kinh tế của một
nước mà còn quan trọng đối với cá nhân mỗi nhà đầu tư vì khả năng sinh lời. Vì
vậy, mỗi cá nhân tùy theo điều kiện, khả năng của mình mà tiếp cận kiến thức để
tham gia đầu tư một cách có hiệu quả vào thị trường chứng khoán. Góp phần đưa
thị trường chứng khoán Việt Nam phát triển.
Nhận biết được tầm quan trọng đó, cá nhân em được trang bị đầy đủ những
kiến thức về toán tài chính, chứng khoán, đặc biệt là tư duy về mô hình hóa nên
cũng muốn áp dụng kiến thức đã học vào thực tiễn để phân tích biến động giá của
các cổ phiếu được niêm yết triên thị trường chứng khoán Viêt Nam, đặc biệt là
nhóm cổ phiếu ngành Khai thác khoáng sản.
Đề tài nghiên cứu: “ Sử dụng một số mô hình phân tích động thái giá cổ
phiếu ngành Khai thác khoáng sản trên thị trường chứng khoán Việt Nam”
Lý do chọn ngành khai thác khoáng sản: Đây là ngành có mức tăng
trưởng tốt qua các năm. Tuy nhiên trong thời gian qua khủng hoảng nền kinh tế thế
giới kéo theo sự ảm đạm của thị trường chứng khoán Việt Nam, giá cổ phiếu ngành
Khai thác khoáng sản cũng chịu sự tác động đáng kể. Bài viết phân tích biến động
giá cổ phiếu ngành này nhằm tìm kiếm cơ hội đầu tư.
Cao Thị Mỹ Đức Toán tài chính 50
4
Chuyên đề thực tập
Khoa Toán kinh tế
Mục tiêu nghiên cứu: Phân tích khái quát về cổ phiếu ngành Khai thác
khoáng sản, từ đó chọn ra một nhóm cổ phiếu phù hợp để di sâu vào đánh giá, xem

CHƯƠNG I.
GIỚI THIỆU MỘT SỐ MÔ HÌNH PHÂN TÍCH ĐỘNG THÁI GIÁ CỔ
PHIẾU
I.1 MÔ HÌNH CÂY NHỊ PHÂN
Giả thiết mô hình
Mô hình cây nhị phân sử dụng giá chứng khoán trong thời gian rời rạc.
Giả sử :
0
S
là giá chứng khoán tại thời điểm t = 0 ( Thời điểm đầu chu kỳ
khảo sát) và 0< d < 1 < u sao cho tại thời điểm kế tiếp giá chứng khoán sẽ là d
0
S
hoặc u
0
S
( Với u >0 ,d > 0).
I.1.1 Mô hình cây nhị phân một giai đoạn
Giả sử trong suốt kỳ hạn của quyền chọn, giá cổ phiếu chỉ biến động một lần.
Khi đó ta có mô hình cây nhị phân một giai đoạn.
Với giá cổ phiếu đầu chu kỳ là
c
ta có:




=
)1(':
':

)1(':
':
0
0
1
ptsuâXácdS
ptsuâXácuS
S
Theo quy luật nhị phân ta có:




=
)1(':
':
1
1
2
ptsuâXácdS
ptsuâXácuS
S
Khi đó động thái giá cổ phiếu theo mô hình cây nhị phân hai giai đoạn là:






−=

−==
)1()(
0
Trong đó:
ni ,0
=
)!(!
!
ini
n
C
i
n

=
Trong n giai đoạn, giá cổ phiếu có i giai đoạn tăng , (n-i) giai đoạn giảm ứng
với mức giá là u
i
d
n-i
S
o.
Cao Thị Mỹ Đức Toán tài chính 50
7
Chuyên đề thực tập
Khoa Toán kinh tế
Mô hình cây nhị phân n giai đoạn cho thấy quá trình giá cổ phiếu gồm 2
n
quỹ đạo.
I.1.4 Ước lượng các tham số của mô hình

ini
ini
duLn
S
Sdu
Lnr


=








=
0
0
Vậy nên phân phối xác suất của r là:
[ ]
inii
n
ini
ppCduLnrP
−−
−===
)1()(
Trong đó:

i
n
ini
+






=
−==

=


Như vậy
)(dnLn
d
u
npLn
+






=
µ







=








=
n
t
t
t
t
t
tt
t
r
S
S
S
S
S


)1(':
':
1
1
1
ptsuâXácdS
ptsuâXácuS
S
t
t
Suy ra phân phối xác suất của
t
r




=
)1(':)(
':)(
ptsuâXácdLn
ptsuâXácuLn
r
t
Khi đó:
2
2
)1()(
)1()(

u
LnpprVar
t
Lời giải xấp xỉ mà Lox- Ross – Rubinstein đưa ra như sau:
n
p
u
deu
du
e
p
u
deu
n
dtr
t
1
2
1
2
1
;
1
;
;
1
;
1
σ
µ

∆+∆=∆
εσµ
Trong đó:
)1,0(~
0,
N
tt
t
ε
>∆
Thì khi đó quá trình giá cổ phiếu {S
t
} gọi là quá trình GBM.
I.2.1.1 Kỳ vọng và phương sai giá cổ phiếu
Nếu {S
t
} tuân theo mô hình GBM với giá ban đầu của cổ phiếu tại t=0 là
0
S
thì:
- Giá kỳ vọng tại thời điểm t:
t
t
eSSE
µ
0
)(
=
- Phương sai của giá tại thời điểm t:
)1()(

Chuyên đề thực tập
Khoa Toán kinh tế
- Mô phỏng dãy gồm k giá trị:
k
εεεε
, ,,
321
với
)1,0(~ N
ε
.
Tính quỹ đạo mô phỏng:
kkttExpSS
k
k
tt
,1);(
0
=∆+∆=
∆+
σεµ
I.2.2 Dạng liên tục của mô hình GBM về giá cổ phiếu
Qúa trình giá
{ }
t
S
tuân theo mô hình GBM nên có:
- Phương trình vi phân ngẫu nhiên có dạng:
dWtSdSdS
tttt







−=
2
2
I.2.3.2 Dạng rời rạc của quá trình loga giá
Dạng rời rạc của quá trình loga giá có dạng:
tt
S
S
LnX
t
t
tt
∆+∆








−=











∆+
ttN
S
S
Ln
t
tt
2
2
,
2
~
σ
σ
α
Nếu
1
=∆
t
thì khi đó



N
S
S
Ln
t
tt
I.2.3.3 Khoảng tin cậy của giá cổ phiếu
Khoảng tin cậy 95% cho giá cổ phiếu sau khoảng thời gian
t

được xác định:






∆+∆−+<<






∆+∆−−
∆+
ttSLnExpSttSLnExp
tttt
96.1)
2

uXX ++=
−110
ββ
với nhiễu
),0(~
2
σ
Nu
t
- Sử dụng kiểm định Dickey – Fuller kiểm định cặp giả thuyết:



<
=
1:
1:
1
0
β
β
H
H
Nếu chấp nhận giả thuyết
{ }
t
SH

0
là quá trình GBM hay

Với :
2
2
0
σ
µβ
−=
),0(~
2
σ
σε
Nut
u
tt
=
Do đó ta chỉ cần ước lượng
σ
hay
2
σ
- Ước lượng độ giao động trực tiếp từ số liệu quan sát
• Thu thập số liệu chuỗi giá
{ }
n
SSS , ,
10
với độ dài kỳ quan sát là
T( theo năm)
• Tính lợi suất:


n
t
t
t
với
r

là trung bình
mẫu của
t
r
.
• Ước lượng độ dao động
( )
σ
theo công thưc:

T
s
=
σ
ˆ
Cao Thị Mỹ Đức Toán tài chính 50
12
Chuyên đề thực tập
Khoa Toán kinh tế
Khi đó sai số tiêu chuẩn của ước lượng là:

nT
s

I.3.1.1 Mô hình dạng liên tục
Khi xét quá trình loga giá cổ phiếu
{ }
t
X
, nếu động thái của quá trình được
mô tả bởi phương trình vi phân ngẫu nhiên là :

dWdtXXdX )(
ση
+−=
thì quá
trình loga giá là Quá trình phục hồi trung bình.
Trong đó ta có:
X
: Mức giá trị cân bằng
σ
: Độ dao động
η
: Tốc độ phục hồi
I.3.1.2 Mô hình dạng rời rạc
Dạng rời rạc của mô hình:
ttXXX
t
∆+∆−=∆
σεη
)(
Hay là:
ttt
XeeXX

t
= β
o
+ β X
t-1
+
t
ν
• Ước lượng phương trình.
• Kiểm định gặp giả thuyết



<
=
1:
1:
1
0
β
β
H
H
bằng kiểm định Dickey –
Fuller.
 Nếu chấp nhận giả thuyết
0
H
thì
{ }

∧∧
−+
+
=
1)1(
)1(2
2
β
β
σσ
ν
Ln
∧∧

+
−==
)1(
22
βη
Ln
LnLn
H
Trong đó H là tham số bán thời gian - cho ta biết khoảng thời gian trung bình
để X
t
từ một giá trị cụ thể đạt nửa quảng đường hội tụ tới
X
.
Nhận xét Mô hình phục hồi trung bình cho các dự báo khá tốt. Có thể sử
dụng cho mục đích chiến lược đầu tư, giá cả… tuy nhiên chỉ nên áp dụng trong giai

II.1.1.3 Khai thác khoáng sản thời hiện đại
Từ khi đất nước ta hoàn toàn giải phóng, công tác điều tra địa chất và tìm
kiếm, thăm dò khoáng sản mới được triển khai trên quy mô toàn lãnh thổ Việt Nam.
Trong công tác điều tra cơ bản, bằng việc lập bản đồ địa chất khoáng sản tỷ lệ
Cao Thị Mỹ Đức Toán tài chính 50
15
Chuyên đề thực tập
Khoa Toán kinh tế
1/50.000, đã phát hiện thêm nhiều vùng, điểm mỏ có triển vọng lớn. Kết quả của
công tác điều ra, khảo sát, thăm dò địa chất cho thấy, Việt Nam có tiềm năng
khoáng sản khá phong phú, đa dạng. Nhiều khoáng sản có trữ lượng lớn như bô xit,
quặng sắt, đất hiếm, apatit,…chủng loại khoáng sản đa dạng.
Năm 2010 – Cục địa chất và Khoáng sản Việt Nam được nâng câp thành
Tổng cục Địa chất Khoáng sản thuộc bộ Tài nguyên và Môi trường.
II.1.2 Khoáng sản đối với sự phát triển kinh tế - xã hội đất nước
Khoáng sản là tài nguyên không tái tạo, là một trong những nguồn lực quan
trọng để thực hiện sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước. Trong những
năm qua, ngành công nghiệp khai khoáng đã có bước phát triển cung cấp nguyên
liệu cho nhiều lĩnh vực sản xuất, đóng góp đáng kể cho ngân sách nhà nước và góp
phần tích cực trong phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Ngành khai thác khoáng sản Việt Nam đã có lịch sử phát triển hàng trăm
năm, tuy nhiên sự phát triển và hiệu quả đóng góp của ngành đối với nền kinh tế
còn chưa tương xứng với tiềm năng. Hiện ngành khoáng sản đóng góp khoảng 10%
GDP của cả nước.
II.2 THỰC TRẠNG NGÀNH KHAI THÁC KHOÁNG SẢN Ở VIỆT NAM
HIỆN NAY
II.2.1 Một vài số liệu thống kê
II.2.1.1 Trữ lượng khoáng sản ( ước tính) ở Việt Nam hiện nay
Việt Nam là một đất nước có tài nguyên khoáng sản đa dạng. Tuy nhiên trữ
lượng nguồn khoáng sản Việt Nam không lớn như dự tính. Sau đây là thông tin

nguồn có nhiệt độ 30
0
C là trở lên. Các nguồn nướ nóng chủ yếu được phân bố ở
Tây Bắc, Nam Trung Bộ và Tây Nguyên. Ngoài ra nhờ khoan thăm dò, khai thác
dầu khí chúng ta cũng phát hiện được nguồn nước nóng ở dưới sâu thuộc Bể Sông
Hồng và Bể Cửu Long. Tiềm năng địa nhiệt của Việt Nam không lớn nhưng có thể
coi là nguồn năng lượng bổ sung cho các nguồn năng lượng truyền thống phục vụ
cho nhu cầu công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước.
Gibsit: Có nguồn gốc phong hóa từ đá Bazan, phân bố chủ yếu ở Tây
Nguyên với trữ lượng đật gần 2,1 tỷ tấn ( Sở Địa chất Mỹ năm 2010 đã công bố
sách hàng hóa khoáng sản thế giới và xếp Bauxit Việt Nam đứng hàng thứ 3 thế
giới sau Guinea 7,4 tỷ tấn và Australia 6,2 tỷ tấn). Hiện Bauxit đang được khai thác
thử nghiệm để sản xuất alumina ở Tân Rai, Lâm Đồng và Nhân cơ, Đawk Nông.
Đất hiếm: Ở Việt Nam tập trung chủ yếu ở Tây Bắc Bộ với tổng tài nguyên
trữ lượng đạt gần 10 triệu tấn đứng thứ 3 trên thế giới sau Trung Quốc (36 triệu tấn)
và Mỹ (13 triệu tấn). Qặng đất hiếm ở Việt Nam chưa được khai thác sử dụng.
Cao Thị Mỹ Đức Toán tài chính 50
17
Chuyên đề thực tập
Khoa Toán kinh tế
Quặng titan (Ilmenit): Ở Việt Nam có 3 loại là quặng gốc trong đá xâm
nhập mafic, quặng trong vỏ phong hóa và quặng sa hoáng ven biển.
Quặng titan gốc trong đá xâm nhập mafic ở Cây Châm, Phú Lương Thái
Nguyên có trữ lượng 4,83 triệu tấn ilmenit và tài nguyên đật 15 triệu tấn đang được
khai thác.
Quặng ilmenit trong vỏ phong hóa và sa khoắng ở các huyện Phú Lương và
Đại Từ Thái Nguyên với tài nguyên dự báo đạt 2,5 triệu tấn.
Quặng titan sa khoáng ven biển phân bố trải rác từ Móng Cái đến Vũng Tàu.
Đặc biệt ở một số diện tích ven biển tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận và Bà Rịa –
Vũng Tàu có tiềm năng lớn, tài nguyên dự báo đạt hàng trăm triệu tấn . Ngoài

puzzolan, cát sỏi, đá vôi, đá hoa trắng, đá ốp lát, đá ong. Các mỏ vật liệu xây dụng
đã và đang được khai thác phục vụ cho công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế
của đất nước.
Ngoài các loại khoáng sản kể trên, từ năm 1987 chúng ta đã phát hiện nhóm
đá quý Ruby, Saphia, Peridot,…Nhưng trữ lượng không lớn. Riêng Ruby ở Yên Bái
và Nghệ An có chất lượng cao được thế giới đánh giá đạt chuẩn quốc tế, tương
đương với Ruby nổi tiếng của Myanmar.
II.2.1.2 Nhu cầu về khoáng sản và kế hoạch phát triển
Đứng đầu trong chuỗi giá trị sản xuất, ngành khoáng sản cung cấp đầu vào
cho rất nhiều ngành công nghiệp sản xuất, chế tạo và xây dựng. Do đó, sự phát triển
của nền kinh tế thế giới nói chung và của nền kinh tế Việt Nam nói riêng sẽ tạo ra
sức cầu quan trọng, hấp thụ các sản phẩm của ngành. Dự báo của Economywatch
đối với tốc độ tăng trưởng kinh tế thế giới và của Việt Nam cho thấy nhu cầu
nguyên vật liệu cho sản xuất – xây dựng còn lớn, do vậy tiềm năng phát triển của
ngành vẫn còn nhiều. Bộ Công thương cũng đưa ra dự báo, trong giai đoạn từ 2011
– 2015, ngành có thể đạt mức tăng trưởng bình quân khoảng 0.55%/năm.
Dự báo phát triển kinh tế thế giới, kinh tế Việt Nam và ngành khai khoáng
( Nguồn : Economywatch, Bộ công thương)
II.2.2 Các nhân tố ản hưởng đến hoạt đông của ngành
II.2.2.1 Các yếu tố thuận lợi ( điểm mạnh) và triển vọng của ngành
a. Trữ lượng khoáng sản phong phú
Cao Thị Mỹ Đức Toán tài chính 50
19
Chuyên đề thực tập
Khoa Toán kinh tế
Ngoài các yếu tố từ phía cầu, triển vọng của Ngành khoáng sản nước ta còn thể hiện
từ phía cung, là tiềm năng phong phú của nhiều loại khoáng sản. Một số loại
khoáng sản có trữ lượng xếp hạng thế giới như Bauxite ( thứ 3 thế giới), đất hiếm
( thứ 3 thế giới), Graphit ( thứ 2 thế giới, Apatit ( thứ 6 thế giới)… Các doanh
nghiệp khai khoáng đang niêm yết hiện nay tập trung vào một số khoáng sản chính

cầu nhập khẩu khoáng sản của Trung Quốc gia tăng mạnh mẽ sẽ thúc đẩy sức cầu
đối với sản phẩm của ngành khoáng sản nước ta. Đặc biệt, Việt Nam lại có vị trí địa
lý ngay gần Trung Quốc nên việc vận chuyển khoáng sản xuất khẩu bằng đường bộ
cũng như đường thủy dễ dàng và thuận tiện cũng góp phần làm tăng sức ảnh hưởng
của nhân tố Trung Quốc đối với ngành.
( Nguồn : Bộ công thương)
d. Triển vọng phát triển theo hướng tăng cường chế biến sâu
Cao Thị Mỹ Đức Toán tài chính 50
21
Chuyên đề thực tập
Khoa Toán kinh tế
Như đã chỉ ra, ngành khoáng sản nhìn chung còn ở giai đoạn xuất khẩu
quặng thô và tinh quặng với giá trị thấp, sau đó phải nhập khẩu kinh loại đã qua tinh
luyện chế biến với giá cao nên hiệu quả kinh tế còn hạn chế. Trong năm 2010, giá
trị nhập khẩu kinh loại gấp tới 56 lần giá trị xuất khẩu quặng. Do vậy, để nâng cao
hiệu quả và giá trị sản phẩm, ngành cần phát triển theo hướng tăng cường chế biến
sâu, bên cạnh việc htam dò khai thác các mỏ mới.
II.2.2.2 Các yếu tố bất lợi, rủi ro ( điểm yếu)
a. Rủi ro về chính sách pháp luật
Luật khoáng sản mới thay đổi những quy định về việc cấp phép theo hướng
thắt chặt và tốn kém hơn, theo đó việc cấp phép thăm dò và khai thác sẽ theo cơ chế
“ đấu giá”, đi kèm với những quy định nâng cao yêu cầu về năng lực tài chính của
chủ đầu tư, yêu cầu về công nghệ khai thác và trách nhiệm với việc bảo vệ môi
trường. Ngoài ra, các loại nghĩa vụ tài chính của doanh nghiệp khai khoáng phải
nộp( thuế tài nguyên, thuế xuất khẩu, phí bảo vệ môi trường…) đều có xu hướng
tăng lên. Từ 1/7/2010, thuế xuất khẩu tài nguyên của hầu hết khoáng sản đã tăng
trung bình gần 50%, từ 1/2011 phí bảo vệ môi trường với khai thác vàng đã gấp 4
lần, thuế xuất khẩu vàng tăng từ 0 lên 10%, từ háng 4/2011 thuế xuất khẩu với
quặng sắt tăng từ 30 lên 40% Điều đáng nói là hệ thống pháp luật của Việt Nam
còn đang trong quá trình hoàn thiện, nên không tránh khỏi hiện tượng chính sách

ngoài ra giá nhiều yếu tố đầu và khác như hóa chất, thuốc nổ, tiền lương nhân
công…cũng đều tăng khiến cho doanh nghiệp gặp rất nhiều khó khăn. Khả năng giá
điện và xăng dầu vẫn còn tiếp tục tăng trong thời gian tới. Đặc biệt đối với các
doanh nghiệp khoáng sản, do nhiêu liệu chiếm một tỉ trọng lớn trong tổng chi phí
sản xuất nên rủi ro tăng chi phí đầu vào làm ăn mòn lợi nhuận của doanh nghiệp là
rất lớn.
d. Rủi ro trong việc thăm dò, khai thác
Một đặc thù của ngành Khoáng sản là trước khi khai thác một mỏ khoáng
sản cần phải thực hiện thăm dò trữ lượng, chất lượng của mỏ. Qúa trình thăm dò tốn
kém nhiều chi phí, nhiều thời gian (2-3 năm), nhưng nếu kết quả thăm dò cho thấy
trữ lượng mỏ nhỏ, hoặc điều kiện khai thác không thuận lợi ( mỏ nằm quá sâu)…
khiến cho việc khai thác không thể thực hiện được vì lí do kinh tế - kỹ thuật thì rủi
ro chi phí chìm sẽ là rất lớn. Ngoài ra, trong quá trình khai thác, do hoạt động trong
điều kiện ngoài trời, doanh nghiệp còn phải chịu những rủi ro về thiên tai, lũ lụt, rủi
ro xảy ra tai nạn lao động, rủi ro gây ô nhiễm môi trường… Những tai nạn sập mỏ
Cao Thị Mỹ Đức Toán tài chính 50
23
Chuyên đề thực tập
Khoa Toán kinh tế
đá, sập hầm vàng gây chết người liên tiếp xảy ra gần đây làm rung lên hồi chuông
cảnh báo về những nguy cơ mất an toàn trong quy trình tổ chức khai thác mỏ hiện
nay. Hoặc nếu trong quá trình khai thác, doanh nghiệp không thực hieenjd dầy đủ
các quy định bảo vệ môi trường thì có thể gặp phải sự phản đối của người dân, thậm
chí bị rút giấy phép hoạt động. Ví dụ như công ty KSS đang phải đối mặt với cáo
buộc gây ô nhiễm nghiêm trọng nước hồ Ba Bể do khai thác tại mỏ quặng sắt Pù Ổ
là một ví dụ.
II.2.2.3 Cấu trúc cạnh tranh trong ngành
a. Rào cản gia nhập ngành
Chi phí đầu tư thăm dò ban đầu khá lớn mà rủi rỏ lại cao ( rủi ro vè trữ lượng
mỏ, về điều kiện khai thác…) là những rào cản gia nhập ngành. Trước đây, việc cấp

kim loại, một số sản phẩm dược xuất khẩu là quặng sắt, Antimon, Titan, tinh quặng
chì, kẽm. Do sản lượng cung cấp rất nhỏ so với thị trường thế giới, các doanh
nghiệp khoáng sản thường ít có khẳ năng đàm phán về giá mà thường phụ thuộc
vào mức giá thế giới. Ngay cả quặng kim loại tiêu thụ trong nước cũng biến động
cùng chiều với mức giá thế giới hiện nay. Hiện giá của nhiều loại kim loại như sắt,
vàng, đồng, kẽm, antimon đang có xu hương tăng lên. Trong nhóm vật liệu xây
dựng, các sản phẩm xuất khẩu chính là cát công nghiệp, cát thủy tinh, cát sân golf,
đá ốp lát… Còn các sản phẩm như đá, cát xây dựng thông thường chủ yếu phục vụ
thị trường trong nước. Trong thời gian qua, do nhu cầu xây dựng nhà cửa và cơ sở
hạ tầng khá lớn, nên giá các sản phẩm này cũng tăng mạnh.
d. Sự cạnh tranh của hàng hóa thay thế
Đối với một số loại khoáng sản, có thể tồn tại sản phẩm thay thế cho những ứng
dụng nhất định cụ thể ( Ví dụ vật liệu tổng hợp Composite có thể thay thế nhôm
trong sản xuất thân và cánh máy bay) hoặc cũng có trường hợp các loại khoáng sản
có thể là mặt hàng thay thế của nhau ( ví dụ sắt thép cạnh tranh với nhô trong một
số chi tiết của ngành công nghiệp sản xuất ô tô)… Tuy nhiên, nhìn chung thì mỗi
loại khoáng sản có những ứng dụng đặc thù và tính kinh tế trong mỗi ứng dụng khi
so sánh với các khoáng sản khác nên không có một vật liệu nào có thể theay thế
hoàn hảo cho chúng.
e. Cạnh tranh trong nội bộ ngành
Hiện nay cả nước có khoảng 2,000 điểm khai thác – chế biến khoáng sản có
đăng kí hợp pháp, bên cạnh hàng trăm nghìn cơ sở khai thác bất hợp pháp khác
cùng cạnh tranh với nhau. Cạnh tranh chủ yếu giưa các doanh nghiệp cùng khai
thác một loại khoáng sản là cạnh tranh về giá, cạnh tranh về hàm lượng khoáng sản
tinh chế, cạnh tranh trong việc xin cấp phép mỏ… Trong số các công ty khoáng sản
Cao Thị Mỹ Đức Toán tài chính 50
25
Chuyên đề thực tập
Khoa Toán kinh tế
niêm yết, nhóm công ty sản xuất vật liệu xây dựng có nhiều mặt hàng giống nhau

vào chứng khoán” - Tiến sỹ Lê Xuân Nghĩa, Phó Chủ tịch Uỷ ban Giám sát Tài
chính Quốc gia nhận định trong buổi hội thảo tổ chức chiều nay (7/10/2012) tại
Cao Thị Mỹ Đức Toán tài chính 50


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status