Ảnh hưởng của suy thoái kinh tế đến hoạt động kinh doanh của Công ty TNHH Công nghệ và Ý tưởng mới - Pdf 26

TÓM LƯỢC
Xu hướng hội nhập và toàn cầu hóa là xu hướng tất yếu hiện nay. Hội nhập đem
lại cho Việt Nam nhiều cơ hội lớn để phát triển kinh tế, nâng cao đời sống nhân dân
nhưng cũng đem lại không ít những thách thức. Cuộc khủng hoảng tài chính và suy
thoái kinh tế toàn cầu 2008 đã gây ra những tác động tiêu cực đối với kinh tế xã hội
và hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp Việt Nam.
Các doanh nghiệp Việt Nam nói chung và công ty TNHH công nghệ và ý tưởng
mới nói riêng muốn tồn tại và phát triển trong điều kiện suy thoái hiện nay và đón
nhận những điều kiện thuận lợi của hội nhập cần tận dụng và khai thác tối ưu mọi
nguồn lực, khai thác lợi thế so sánh để cạnh tranh hiệu quả với các doanh nghiệp khác
trong và ngoài nước.
Công ty TNHH Công nghệ và Ý tưởng mới hoạt động trong lĩnh vực giàn dựng
quảng cáo, chuyên cung cấp dich vụ tư vấn, thiết kế và thực hiện các showroom quảng
cáo, trưng bày sản phẩm, đồ nội thất văn phòng, triển lãm,… và cũng đã đạt được
những thành tựu nhất định. Tuy nhiên do ảnh hưởng của suy thoái kinh tế toàn cầu,
hoạt động kinh doanh của công ty không được tốt, lợi nhuận suy giảm, thậm chi bị
thua lỗ. Suy thoái kinh tế đã tác động rất lớn tới hoạt động kinh doanh của công ty.
Trong luận văn, tác giả nghiên cứu về suy thoái kinh tế, về hoạt động kinh doanh và
nghiên cứu những ảnh hưởng của suy thoái kinh tế tới hoạt động kinh doanh của công
ty, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm giúp công ty thoát khỏi khó khăn, tiếp tục phát
triển,
1
1
LỜI CẢM ƠN
Qua một thời gian thực tập tổng hợp tại Công ty TNHH công nghệ và ý tưởng
mới, mặc dù là sinh viên chưa có nhiều kinh nghiệm nhưng dưới sự chỉ bảo tận tình
của ban lãnh đạo cũng như các phòng ban trong công ty đã giúp em hoàn thành tốt
công việc được giao. Đồng thời, thông qua quá trình thâm nhập thực tế, em đã có cơ
hội nghiên cứu tìm hiểu về công ty, về lịch sử hình thành cũng như tổ chức bộ máy,
hoạt động kinh doanh của công ty. Nhờ vậy em đã phần nào có góc nhìn tổng quát về
những thuận lợi và khó khăn công ty đối mặt trong quá trình sản xuất kinh doanh.

Hình 9. Ảnh hưởng của suy thoái kinh tế tới chi phí kinh doanh của Newideas 35
Hình 10. Lợi nhuận của công ty và tốc độ tăng trưởng GDP giai đoạn 2011 – 2013 36
Hình 11. Cơ cấu thị trường sản phẩm theo doanh thu năm 2011 - 2013 37
4
4
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
5
5
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Cuộc khủng hoảng tài chính bắt nguồn từ Mỹ đã nhanh chóng lan ra toàn cầu,
kéo theo đó là tình trạng suy thoái diễn ra trên toàn thế giới. Sự bất ổn của kinh tế toàn
cầu do nỗi lo ngại “bờ vực tài khóa” ở Mỹ, khủng hoảng nợ công ở Châu Âu, đà khôi
phục kinh tế toàn cầu chậm lại, suy thoái trong khu vực đồng Euro cùng với khủng
hoảng tín dụng và thất nghiệp gia tăng tại các nước thuộc khu vực này; tăng trưởng
của các nước đầu tàu suy giảm kéo theo sự sụt giảm của các nền kinh tế khác trên
phạm vi toàn cầu. Một số nước lớn có vị trí quan trọng trong quan hệ thương mại, đầu
tư với Việt Nam như Mỹ, EU, Nhật Bản, Trung Quốc đối mặt với nhiều thách thức,
dẫn đến tăng trưởng chậm. Trong báo cáo tình hình và triển vọng kinh tế thế giới 2013
công bố ngày 18/12/2012, Liên Hợp Quốc dự báo kinh tế toàn cầu sẽ tăng trưởng với
mức tăng 3,2% năm 2014.
Những bất lợi từ sự sụt giảm của kinh tế toàn cầu ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt
động sản xuất kinh doanh và đời sống của nhân dân trong nước. Tốc độ tăng GDP
hàng năm của Việt Nam trong những năm gần đây liên tục giảm, năm 2012 chỉ đạt
hơn 5,03% thấp nhất trong 13 năm trở lại đây. Suy thoái kinh tế đã gây ra những ảnh
hưởng tiêu cực đến hoạt động sản xuất kinh doanh và đời sống của nhân dân trong
nước. Thị trường tiêu thụ hàng hóa bị thu hẹp, hàng tồn kho ở mức cao, sức mua giảm;
nợ xấu của hệ thống ngân hàng ở mức đáng lo ngại; nhiều doanh nghiệp, nhất là doanh
nghiệp vừa và nhỏ phải thu hẹp sản xuất, dừng hoạt động hoặc giải thể. Tính đến hết
tháng 12/2013, số lượng doanh nghiệp dừng hoạt động và giải thể lên đến con số 61

doanh nghiệp ở một số tỉnh phía bắc” của Nguyễn Quốc Chỉnh & Nguyễn Hải Núi
đăng trên tạp chí khoa học và phát triển 2013, tập 11, số 2, trang 239 – 248.
Nội dung chính: Phân tích thực trạng tác động của suy thoái kinh tế đến sản
xuất kinh doanh và đời sống của người lao động ở một số doanh nghiệp tiêu biểu tại
một số tỉnh phía bắc Việt Nam, đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm hạn chế những
tác động tiêu cực và nâng cao khả năng thích ứng của các doanh nghiệp trong điều
kiện suy thoái kinh tế.
Bài viết “Giải pháp nào cho các doanh nghiệp khu vực tư nhân ở Việt Nam trong
thời kỳ suy thoái kinh tế - góc nhìn từ nguồn vốn tín dụng ngân hàng” của THS. Nguyễn
Thị Minh Huệ & THS. Tăng Thị Thanh Phúc – bài viết trên sbv.gov.vn – 2011.
7
Nội dung chính: Phân tích vị trí vai trò của doanh nghiệp tư nhân trong nền kinh
tế quốc dân, thực trạng tiếp cận nguồn vốn của doanh nghiệp trong thời kỳ suy thoái
kinh tế và giải pháp tạo nguồn vốn cho doanh nghiệp từ vốn tín dụng ngân hàng.
Đề tài “Tác động của suy thoái kinh tế thế giới tới hoạt động xuất khẩu hang
dệt may sang thị trường Hoa Kỳ tại công ty cổ phần may sông Hồng và các giải pháp”
của tác giả Trần Thị Minh Nguyệt – Trường Đại học Thương Mại (2009)
Nội dung: Luận văn tập trung tìm hiểu, phân tích và đánh giá những tác động
của suy thoái kinh tế thế giới đến hoạt động xuất khẩu hàng dệt may nói chung và của
công ty cổ phần may sông Hồng nói riêng sang thị trường Hoa Kỳ, để qua đó đề xuất
các giải pháp nhằm hạn chế sự ảnh hưởng của suy thoái kinh tế và đẩy mạnh hoạt
động xuất khẩu của công ty cổ phần may song Hồng.
Đề tài “Ảnh hưởng của suy thoái kinh tế đến hoạt động kinh doanh của công ty
TNHH nhà nước một thành viên Thực Phẩm Hà Nội” của tác giả Nguyễn Văn Toàn –
Trường Đại học Thương Mại (2013).
Nội dung: Trong luận văn tốt nghiệp, tác giả tập trung nghiên cứu, phân tích sự
tác động của suy thoái kinh tế tới thị trường đầu ra và thị trường đầu vào của công ty
hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh thực phẩm, từ đó đưa ra cái nhìn, đánh giá về ảnh
hưởng của suy thoáikinh tế tới hoạt động kinh doanh của công ty và đưa ra giải pháp
nhằm hạn chế tác động tiêu cực của suy thoái kinh tế.

nghệ và Ý tưởng mới nhằm đề xuất các giải pháp phù hợp với công ty, giúp công ty
kinh doanh hiệu quả, vượt qua thời kỳ suy thoái đầy khó khăn và tiếp tục phát triển
hơn nữa trong tương lai.
3. Xác lập và tuyên bố vấn đề nghiên cứu
Thông qua đề tài “Ảnh hưởng của suy thoái kinh tế đến hoạt động kinh doanh
của Công ty TNHH Công nghệ và Ý tưởng mới”, tác giả nhằm làm rõ các vấn đề sau:
Về mặt lý luận, đề tài nghiên cứu về suy thoái kinh tế, các nguyên nhân,
biểu hiện của suy thoái kinh tế; về hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp; ảnh
hưởng của suy thoái kinh tế tới doanh nghiệp; các nguyên lý giải quyết vấn đề do
suy thoái kinh tế.
Về thực tiễn, đề tài trả lời cho câu hỏi: tình hình kinh tế thế giới và Việt Nam
trong những năm gần đây? Thực trạng hoạt động kinh doanh và ảnh hưởng của suy
9
thoái kinh tế tới hoạt động kinh doanh của công ty TNHH Công nghệ và Ý tưởng mới
như thế nào?
Về mặt giải pháp, đề tài đi phân tích các nguyên nhân và đưa ra đề xuất nhằm
nâng cao hiệu quả,phát triển hoạt động kinh doanh của Công ty TNHH Công nghệ và
Ý tưởng mới.
4. Đối tượng, mục tiêu và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài
Nghiên cứu ảnh hưởng của suy thoái kinh tế tới hoạt động kinh doanh của công
ty TNHH Công nghệ và Ý tưởng mới.
Mục tiêu nghiên cứu
- Đề tài nhằm mục đích hệ thống hóa các vấn đề lý thuyết về suy thoái kinh tế, về hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp
- Đưa ra thực trạng về suy thoái kinh tế hiện nay, thực trạng hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp
- Phân tích được những ảnh hưởng của suy thoái kinh tế tới hoạt động kinh doanh của
công ty TNHH Công nghệ và Ý tưởng mớivà đưa ra được các nguyên nhân
- Đề xuất các giải pháp nhằm hạn chế ảnh hưởng của suy thoái kinh tế, nâng cao hiệu

động kinh doanh của doanh nghiệp.
Chương 2: Thực trạng ảnh hưởng của suy thoái kinh tế tới hoạt động kinh doanh
của công ty TNHH Công nghệ và Ý tưởng mới.
Chương 3: Các đề xuất và kiến nghị về vấn đề ảnh hưởng của suy thoái kinh tế
tới hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
11
CHƯƠNG 1. MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ ẢNH HƯỞNG CỦA SUY
THOÁI KINH TẾ ĐẾN HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP
1.1. Một số khái niệm cơ bản
1.1.1. Khái niệm suy thoái kinh tế
Suy thoái kinh tế được hiểu theo nhiều quan điểm khác nhau.
Trong kinh tế học vĩ mô “suy thoái kinh tế là sự suy giảm lượng GDP của một
quốc gia, hoặc tăng trưởng âm trong vòng hai quý liên tiếp trở lên trong một năm”.
Theo quan điểm của cơ quan nghiên cứu quốc gia Hoa Kỳ cho rằng: “suy thoái
kinh tế là sự tụt giảm hoạt động kinh tế trên cả nước, kéo dài nhiều tháng”.
Suy thoái kinh tế có thể liên quan sự suy giảm đồng thời của các chỉ số kinh tế
của toàn bộ hoạt động kinh tế như: việc làm, đầu tư, lợi nhuận của doanh nghiệp. Thời
kỳ suy thoái có thể đi liện với giảm phát (hạ giá cả) hoặc lạm phát (giá cả tăng cao).
Sự suy thoái trầm trọng và lâu dài được gọi là khủng hoảng kinh tế. Sự tan vỡ,
tàn phá kinh tế gọi là sự suy sụp hay là đổ vỡ kinh tế. Việc suy giảm kinh tế của nhiều
quốc gia trong cùng một thời điểm dẫn đến suy thoái kinh tế thế giới.
1.1.2. Khái niệm hoạt động kinh doanh
Hiện nay có rất nhiều khái niệm về hoạt động kinh doanh, theo góc độ pháp lý
thì hoạt động kinh doanh được hiểu là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả
các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng
sản phẩm nhằm mục đích sinh lợi (theo khoản 2 điều 4 luật doanh nghiệp 2005).
Hoạt động kinh doanh trong một số trường hợp được hiểu như hoạt động
thương mại. Hoạt động kinh doanh có đặc điểm:
- Do một chủ thể thực hiện và gọi là chủ thể kinh doanh, chủ thể kinh doanh có thể là cá
nhân, hộ gia đình, doanh nghiệp.

lượng kéo theo đầu tư vào trang thiết bị, nhà xưởng cũng cắt giảm và kết quả là GDP
thực tế tiếp tục giảm sút.
- Tỷ lệ thất nghiệp gia tăng, cầu lao động giảm. Đầu tiên là số ngày làm việc của người
lao động giảm xuống do hoạt động sản xuất bị đình trệ, đầu tư bị hạn chế, tiếp theo là
hiện tượng cắt giảm nhân công và tỷ lệ thất nghiệp tăng cao.
- Khi sản lượng giảm thì lạm phát sẽ chậm lại do giá đầu vào của sản xuất bị giảm bới
nguyên nhân cầu sút kém. Giá cả dịch vụ khó giảm nhưng cũng tăng không nhanh
trong giai đoạn suy thoái kinh tế.
- Lợi nhuận của các doanh nghiệp giảm mạnh, do nhu cầu giảm làm cho hàng hóa sản
xuất ra không tiêu thu được. Nhu cầu về vốn cũng giảm đi làm cho lãi suất giảm xuống
trong thời kỳ suy thoái.
- Các hoạt động đầu tư ngưng trệ và chỉ mang tính chất cầm chừng.
1.2.1.3. Sơ lược về cuộc suy thoái kinh tế trong lịch sử
13
Khủng hoảng trong thị trường chứng khoán năm 1836-1837 đã bao phủ những
quốc gia Anh, Đức, Hà Lan, gắn bó với những vốn đầu tư vô căn cứ được góp vào sự
phát triển của những đường xe lửa. Và kết quả là toàn bộ hệ thống ngân hàng những
nước đó bị tổn thương nghiêm trọng.
Vào năm 1857 một trong những khủng hoảng có quy mô lớn nhất thế kỷ 19
bùng nổ. những công ty đường xe lửa bị phá sản hoàn toàn đẫn đến sự sụp đổ của hệ
thống ngân hàng quốc gia nhiều nước, rồi đến sự sụp đổ của hệ thống ngân hàng toàn
Châu Âu.
Vào năm 1914 khủng hoảng tài chính tiếp theo bùng lên. Nhà nước Mỹ và phần
lớn những nước Châu Âu đã bán tống bán tháo ngân phiếu nhiều quốc gia khác để
cung cấp cho những hoạt động quân sự của nước mình. Thời kỳ giữa hai cuộc chiến
tranh thế giới hoàn toàn là khủng hoảng kinh tế. thời kỳ đình trệ năm 1920 1922 và
giai đoạn 4 tháng 10 năm 1929 (thứ năm đen), ở thị trường chứng khoán Newyork giá
chứng khoán giảm 60-70%. Ngay tiếp sau đó, khủng hoảng bùng lên cả ở Châu Âu.
Vào năm 1933, ở các nước phát triển có tới hơn 30 triệu người chính thức không có
việc làm.

2008, các cổ phiếu của ngân hàng này đã giảm gần 87% giá trị. Ngân hàng này đã phải
bán đi một số cơ sở cùng một số nguồn lực khác, cắt giảm them 52000 việc làm, tương
đương với 20% số nhân viên của hãng. Quyết định này của Citigroup đã khiến cho thị
trường chứng khoán thế giới sụt giảm tới mức thấp nhất trong hàng thập kỷ qua. Chỉ
số chứng khoán quan trọng nhất tại Mỹ là Dow Jones lần đầu tiên trong nhiều năm rớt
khỏi mức 8000 điểm, trong khi đó chỉ số S&P 500 xuống thấp nhất trong 2 năm qua.
Không chỉ có những ngân hàng có quy mô hàng tỷ USD mà hàng loạt các ngân
hàng có quy mô tài sản vài tram triệu USD cũng lần lượt rơi vào tình trạng tồi tệ. Theo
công bố của FED, đã có 25 ngân hàng Mỹ bị giải thể trong năm 2008.
Cuộc khủng hoảng tài chính không chỉ ở Mỹ mà nhanh chóng lan rộng ra toàn
cầu. Trong thời đại toàn cầu hóa, khi các ngân hàng toàn cầu có mối quan hệ tín dụng
đan xen nhau, cuộc khủng hoảng tài chính của nền kinh tế lớn nhất là Mỹ đã nhanh
chóng lây lan sang các nước khác.
1.2.1.4. Nguyên nhân của suy thoái kinh tế hiện nay
Những nguyên nhân đích thực của suy thoái kinh tế là đối tượng tranh luận sôi
nổi giữa các nhà lý thuyết và những người làm chính sách mặc dù đa số thống nhất
15
rằng các kỳ suy thoái kinh tế gây ra bởi sự kết hợp của các yếu tố bên trong (nội sinh)
theo chu kỳ và các cú sốc từ bên ngoài (ngoại sinh).
Suy thoái kinh tế có thể bắt nguồn từ các nguyên nhân sau:
Thứ nhất: Sự hình thành và đổ vỡ của bong bóng nhà đất, các khoản cho vay
dưới chuẩn.
Ở Mỹ, hầu hết người dân khi mua nhà là phải vay tiền ngân hàng và trả lại lãi
lẫn vốn trong một thời gian dài sau đó. Do đó có một sự liên hệ rất chặt chẽ giữa tình
hình lãi suất và tình trạng của thị trường bất động sản. Khi lãi suất thấp và dễ vay
mượn thì người ta đổ xô đi mua nhà, đẩy giá nhà cửa lên cao làm cho bong bóng nhà
đất hình thành. Khi lãi suất cao thì thị trường giậm chân, người bán nhiều hơn người
mua, đẩy giá nhà xuống thấp.
Các ngân hàng đầu tư Mỹ đã sử dụng nghiệp vụ chứng khoán hóa
(securitisation) để biến những khoản cho vay mua bất động sản thành các gói trái

Thứ 4: Khủng hoảng niềm tin
Theo giáo sư Joseph Stiglitz, trường đại học tổng hợp Colombia, người được
giải thưởng Nobel kinh tế 2001, cuộc khủng hoảng bắt đầu từ sự sụp đổ thảm dốc của
niềm tin. Các ngân hàng đánh đó lẫn nhau về mức độ cho vay cũng như tài sản. Những
giao dịch phức tạp được tạo ra để loại bỏ rủi ro và che giấu những trượt giá giá trị tài
sản thực của ngân hàng. Thị trường tài chính xoay quanh trục nguyên tắc độ tin cậy, và
độ tin cậy đó nếu bị xuống cấp sẽ làm giảm tổng cầu, gây ra sự sụt giảm tổng sản
phẩm quốc dân.
1.2.2. Lý thuyết về hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
1.2.2.1. Mục tiêu của hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Tối đa hóa lợi nhuận là mục tiêu kinh tế cơ bản của doanh nghiệp, tuy nhiên đi
kèm mục tiêu kinh tế, hoạt động của doanh nghiệp còn hướng tới những mục tiêu xã
hội nhất định.
Định rõ mục tiêu là điều quan trọng trong thành công của tổ chức vì chúng định
rõ hướng đi, cho thấy những ưu tiên, những sự hợp tác cần thiết, là cơ sở cho việc lập
kế hoạch và hoạt động có hiệu quả. Mục tiêu đặt ra phải đảm bảo tính hợp lý, tính rõ
ràng, tính đo lường được, tính phù hợp.
Các mục tiêu dài hạn là cơ sở định hướng quan trọng của việc hình thành các
chiến lược, các mục tiêu ngắn hạn đặc biệt quan trọng trong việc thực hiện các chiến
lược. Đó là cơ sở để doanh nghiệp tính toán phân bổ các nguồn lực.
17
Trong doanh nghiệp có nhiều bộ phận. Các mục tiêu được thiết lập cho toàn
công ty và cho mỗi bộ phận.
1.2.2.2. Quy trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Quy trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp được biểu diễn như sau:
Hình 1. Quy trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
18
19
Trong toàn bộ chu trình hoạt động trên, chức năng sản xuất là một giai đoạn
trung gian, các giai đoạn đầu và cuối của chu trình thuộc về chức năng lưu thông hay

20
chỉ cạnh tranh hơn so với doanh nghiệp khác, mà điều quan trọng sản phẩm mà doanh
nghiệp cung cấp phải phù hợp với phong tục, tập quán, văn hóa của địa phương, đất
nước, con người nơi kinh doanh. Doanh nghiệp có thể thay đổi sản phẩm theo hướng
phù hợp với văn hóa, tập tục hoặc cũng có thể là người tạo nên văn hóa trong tiêu
dùng mới ở thị trường hoạt động
- Môi trường chính trị, pháp luật
Bất kì một doanh nghiệp nào khi tham gia hoạt động kinh doanh đều phải tuân
theo quy định về luật pháp của nước sở tại. Doanh nghiệp sẽ không thể tồn tại nếu
không tuân thủ. Các yếu tố thuộc về môi trường chính trị, pháp luật có tác động chi
phối hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Một quốc gia có hệ thống luật pháp
hoàn thiện, có môi trường chính trị ổn định sẽ tạo ra các cơ hội tốt để các nhà đầu tư,
kinh doanh tìm đến. Môi trường tốt sẽ tạo ra được cơ hội kinh doanh bình đẳng cho
các doanh nghiệp, tạo phúc lợi cho xã hội và góp phần phát triển đất nước. Ngược lại,
một quốc gia có cơ chế chính sách phức tạp, không hoàn thiện, hệ thống chính trị bất
ổn không những không thu hút được các nhà đầu tư, mà còn tạo kẽ hở cho những hành
vi lách luật, vi phạm pháp luật như trốn thuế, buôn lậu, hàng giả,… gây tổn thất cho
nền kinh tế.
- Môi trường kinh tế và công nghệ
Các yếu tố thuộc môi trường này quy định cách thức doanh nghiệp và toàn bộ
nền kinh tế trong việc sử dụng tiềm lực của mình nhằm phát triển hoạt động kinh
doanh, tìm kiếm lợi nhuận.
Công nghệ là một đầu vào quan trọng giúp doanh nghiệp tạo ra lợi thế cạnh
tranh cho mình. Công nghệ phù hợp giúp doanh nghiệp đạt được hiệu quả kinh doanh,
sản xuất, ngược lại công nghệ không phù hợp sẽ gây bất lợi cho doanh nghiệp trong
cạnh tranh.
Các công cụ và chính sách kinh tế có tác động rất lớn đến hoạt động kinh doanh
của doanh nghiệp. Một số chỉ số kinh tế vĩ mô quan trọng biểu hiện sức khỏe của nền
kinh tế như tốc độ tăng trưởng kinh tế, lãi suất, chỉ số CPI,…
Tốc độ tăng trưởng kinh tế: Một quốc gia có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, ổn

cấp các hàng hóa và dịch vụ theo yêu cầu của Nhà nước và các nguồn thu khác. Doanh
thu thực hiện trong năm từ hoạt động bán hàng và dịch vụ được xác định bằng cách
nhân giá bán với số lượng hàng hóa rhay khối lượng hàng hóa.
Công thức: DT =
22
DT: doanh thu
n: Loại hàng hóa hay dịch vụ
: Lượng hàng hóa, dịch vụ thứ I bán ra trong kì
: giá cả một đơn vị hàng hóa dịch vụ thứ i.
 Chi phí kinh doanh
Chi phí của doanh nghiệp bao gồm chi phí hoạt động kinh doanh và chi phí cho
hoạt động khác. Chi phí cho hoạt động kinh doanh bao gồm các chi phí liên quan đến
hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp như chi phí nguyên vật liệu, khấu
hao tài sản cố định, tiền lương và các khoản chi phí có tính chất lương, các khoản trích
nộp theo quy định của nhà nước như: bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, chi phí dịch vụ
mua ngoài, chi phí bằng tiền.
 Chỉ tiêu lợi nhuận
Tổng lợi nhuận thu được trong kỳ là phần còn lại của doanh thu sau khi trừ đi
các chi phí kinh doanh của doanh nghiệp. Lợi nhuận tăng chứng tỏ hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp tốt.
b. Chỉ tiêu hiệu quả
 Chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận theo doanh thu
Tỷ suất lợi nhuận theo doanh thu =
Chỉ tiêu này cho biết doanh nghiệp tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận từ một
đồng doanh thu bán hàng. Chỉ tiêu này có ý nghĩa khuyến khích các doanh nghiệp tằng
doanh thu, giảm chi phí nhưng để đảm bảo có hiệu quả, tốc độ tăng doanh thu phải lớn
hơn tốc độ tằng chi phí.
 Chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận theo chi phí
Tỷ suất lợi nhuận theo chi phí =
Chỉ tiêu này cho biết một đồng chi phí trong kỳ tạo ra được bao nhiêu đồng lợi

chi phí sản xuất, giảm lợi nhuận, nhiều khi hàng hóa khan hiếm, không có hàng nhập
để tiến hành kinh doanh sẽ gây ngừng trệ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Nhưng nếu doanh nghiệp nhập quá nhiều vào thời điểm đó, khi giá giảm sẽ gây thua
lỗ, thậm chí phá sản.
Vào thời điểm giảm phát, lượng cầu suy giảm, giá cả nguyên vật liệu giảm, giá
sản phẩm của doanh nghiệp mặc dù giảm song nhu cầu của người tiêu dùng thấp cũng
không kích thích doanh nghiệp đẩy mạnh hoạt động kinh doanh.
1.3.3. Ảnh hưởng đến tình hình lao động
24
Cùng với suy thoái là số lượng việc làm giảm, thất nghiệp tăng cao. Suy thoái
kinh tế khiến cho doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc tạo công ăn việc làm cho
người lao động, đảm bảo mức sống cho nhân viên của mình. Năm 2013 số doanh
nghiệp bị phá sản hoặc ngừng hoạt động là 79 nghìn doanh nghiệp, năm 2012 có
55000 doanh nghiệp giải thể ngừng hoạt động. Các doanh nghiệp còn hoạt động phải
cắt giảm nhân công, giãn ca, giảm giờ làm,…và những hệ lụy sau đó như thiếu hụt lao
động khi nền kinh tế phục hồi là điều rất đáng lo ngại.
Khối lượng công việc giảm, lương của người lao động thấp hơn mức tăng của
hàng hóa, ảnh hưởng nghiêm trọng đến mức sống của người lao động.
1.3.4. Ảnh hưởng đến doanh thu, chi phí, lợi nhuận
Doanh thu của doanh nghiệp phụ thuộc vào số lượng hàng hóa bán ra của doanh
nghiệp. Hàng hóa bán ra càng nhiều thì doanhthu càng cao. Trong thời kỳ suy thoái,
cầu đối với hàng hóa sản phẩm đều giảm, các chủ thể trong nền kinh tế đều thắt chặt
chi tiêu làm cho tổng cầu giảm sút, tồn kho tăng, hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp bị ngưng trệ và tất yếu khiến cho doanh thu của doanh nhiệp giảm hoặc tăng
chậm hơn so với thời kỳ trước suy thoái.
Bên cạnh đó, doanh nghiệp còn chịu áp lực không nhỏ về giá bán. Trong khi giá
đầu vào tăng, đặc biệt là giá nguyên vật liệu và tiền lương của người lao động, thì
doanh nghiệp vẫn phải đảm bảo giá bán hàng hóa phải cạnh tranh được với các doanh
nghiệp khác. Để giải quyết áp lực về giá bán, nhiều doanh nghiệp lựa chọn chính sách
ổn định giá bán, cố gắng duy trì ở mức thời kì trước suy thoái. Một số doanh nghiệp


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status