Ảnh hưởng của suy thoái kinh tế đến hoạt động nhập khẩu thiết bị y tế của công ty TNHH tư vấn thương mại Toàn Cầu - Pdf 26

Luận văn tốt nghiệp Khoa Thương mại Quốc tế
PHẦN I
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
1.1. Tính cấp thiết nghiên cứu của đề tài
Kinh tế thế giới đã trải qua một năm 2009 đầy khó khăn và đang có dấu hiệu
phục hồi. Tuy nhiên, những thiệt hại mà suy thoái gây ra cho kinh tế thế giới là
không hề nhỏ. Cuộc khủng hoảng tài chính bắt nguồn từ Mỹ năm 2008 đã nhanh
chóng lan rộng ra toàn cầu, kéo theo đó là tình trạng suy thoái diễn ra trên toàn thế
giới. Tổ chức tiền tệ quốc tế (IMF) nhận định, kinh tế thế giới sẽ tăng trưởng chậm
lại từ mức 5% năm 2007 xuống 3,7% năm 2008 và chỉ còn 2,2% vào năm 2009.
Tốc độ tăng trưởng ở khu vục các nước kinh tế phát triển dự báo giảm 0.3% năm
2009. Tốc độ suy thoái mạnh nhất rơi vào quý 4/2008 và quý 1/2009. Một số nền
kinh tế lớn của thế giới như Nhật Bản, Mỹ, Ấn Độ và các quốc gia ở châu Âu cũng
đang đứng trước tình trạng suy thoái kinh tế trầm trọng nhất kể từ sau chiến tranh
thế giới thứ hai trở lại đây. Dự đoán năm 2009, mức suy thoái tại Mỹ là 0,9%, Nhật
Bản là 0,1% và các nước thuộc EU là 0,5%. Cũng theo nhận định này, tỷ lệ thất
nghiệp bình quân của các nền kinh tế trong tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế
(OECD) là gần 9%. Tại Mỹ, nơi suy thoái bắt đầu sớm hơn các nơi khác, đội ngũ
thất nghiệp năm 2009 đã tăng lên gấp đôi so với năm 2008. Tỷ lệ thất nghiệp ngày
càng tăng cao cũng đang là nỗi lo cho các quốc gia.
Suy thoái kinh tế tác động trực tiếp đến mọi mặt cũng như mọi lĩnh vực của đời
sống xã hội, không ngoại trừ một quốc gia nào. Nền kinh tế Việt Nam đang ngày
càng hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới, nhất là từ khi Việt Nam gia nhập
tổ chức thương mại thế giới (WTO) nên khó có thể tránh khỏi những tác động của
suy thoái kinh tế toàn cầu. Một trong những tác động tiêu cực lớn nhất, trực tiếp
nhất, sớm nhất của cuộc suy thoái kinh tế thế giới đối với Việt Nam là lĩnh vực
nhập khẩu ở tất cả các mặt: thị trường, giá cả, thanh toán và nguồn hàng, trong đó
nổi bật là thị trường và giá cả. Minh chứng cho điều này là sự sụt giảm của kim
ngạch nhập khẩu. Nếu như kim ngạch nhập khẩu hàng hoá của nước ta năm 2008
đạt 80,4 tỷ USD thì đến năm 2009 giảm xuống chỉ còn 68,8 tỷ USD, giảm 14,7%
so với năm 2008, bao gồm khu vực kinh tế trong nước đạt 43,9 tỷ USD, giảm

y tế của công ty TNHH tư vấn thương mại Toàn Cầu.
Trần Văn Toàn 2 Lớp K42E5
Luận văn tốt nghiệp Khoa Thương mại Quốc tế
- Đề xuất một số giải pháp nhằm khắc phục những tác động tiêu cực của suy
thoái kinh tế đến hoạt động nhập khẩu thiết bị y tế của công ty.
Nhận thức được tầm quan trọng của những vấn đề này trong việc giúp doanh
nghiệp có định hướng kinh doanh hiệu quả trong tình hình kinh tế hiện nay, kết hợp
với những lý luận tiếp thu được trong quá trình học và tìm hiểu thực tế trong thời
gian qua, em đã chọn đề tài “Ảnh hưởng của suy thoái kinh tế đến hoạt động
nhập khẩu thiết bị y tế của công ty TNHH tư vấn thương mại Toàn Cầu”.
1.3. Các mục tiêu nghiên cứu
Để có thể giải quyết tốt những vấn đề trên, mục tiêu nghiên cứu của luận văn
được đặt ra là:
- Khái quát các vấn đề lý thuyết liên quan tới hoạt động nhập khẩu cùng với
những lý luận cơ bản về suy thoái kinh tế, nguyên nhân và ảnh hưởng của nó đến
hoạt động nhập khẩu nói chung.
- Tìm hiểu thực trạng hoạt động nhập khẩu thiết bị y tế của công ty TNHH tư
vấn thương mại Toàn Cầu trước và sau suy thoái kinh tế, phân tích và so sánh để
thấy được những ảnh hưởng của suy thoái kinh tế đến hoạt động nhập khẩu của
công ty.
- Đề xuất một số giải pháp, kiến nghị nhằm khắc phục những ảnh hưởng của
suy thoái kinh tế và thúc đẩy hoạt động nhập khẩu thiết bị y tế của công ty trong
thời gian tới.
1.4. Phạm vi nghiên cứu
Xuất phát từ tình hình thực tiễn của công ty TNHH tư vấn thương mại Toàn
Cầu, luận văn đã phân định nội dung và phạm vi nghiên cứu như sau:
- Phạm vi nghiên cứu về không gian: Luận văn được đề xuất để nghiên cứu sự
ảnh hưởng của suy thoái kinh tế đến hoạt động nhập khẩu của công ty TNHH tư
vấn thương mại Toàn Cầu.
- Phạm vi nghiên cứu về thời gian: Trong giai đoạn từ năm 2006 đến năm

kinh tế đến hoạt động nhập khẩu thiết bị y tế của công ty, dự báo triển vọng và
quan điểm giải quyết vấn đề, đề xuất các giải pháp, kiến nghị nhằm khắc phục
những khó khăn đó và thúc đẩy hoạt động nhập khẩu của doanh nghiệp trong thời
gian tới.
Trần Văn Toàn 4 Lớp K42E5
Luận văn tốt nghiệp Khoa Thương mại Quốc tế
PHẦN II
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ SUY THOÁI KINH TẾ VÀ ẢNH
HƯỞNG CỦA NÓ ĐẾN HOẠT ĐỘNG NHẬP KHẨU
2.1. Tổng quan về hoạt động nhập khẩu
2.1.1. Khái niệm hoạt động nhập khẩu
Trong lý luận thương mại quốc tế,“Nhập khẩu là việc quốc gia này mua hàng
hóa và dịch vụ từ quốc gia khác”
(1)
. Hay nói cách khác, đây chính là việc nhà sản
xuất nước ngoài cung cấp hàng hóa và dịch vụ cho người cư trú trong nước.
Theo quan điểm của các nhà ngôn ngữ học cho rằng,“Hoạt động nhập khẩu là
hoạt động mua hàng hoá, dịch vụ từ nước ngoài nhằm phục vụ các nhu cầu trong
nước chưa sản xuất được hoặc sản xuất nhưng chưa đáp ứng đủ nhu cầu”
(2)
.
Tuy nhiên, theo cách thức biên soạn cán cân thanh toán quốc tế của quỹ tiền tệ
quốc tế (IMF), chỉ có việc mua các hàng hóa hữu hình mới được coi là nhập khẩu
và đưa vào mục cán cân thương mại. Còn việc mua dịch vụ được tính vào mục cán
cân phi thương mại.
Như vậy, cũng như xuất khẩu, hoạt động nhập khẩu được diễn ra trong mọi lĩnh
vực, mọi điều kiện kinh tế, từ nhập khẩu hàng hoá tiêu dùng đến nhập khẩu tư liệu
sản xuất, máy móc thiết bị công nghệ kỹ thuật cao, từ hàng hoá hữu hình đến hàng
hoá vô hình (dịch vụ).
2.1.2. Vai trò của hoạt động nhập khẩu

- Thứ nhất, hoạt động nhập khẩu là một hướng kinh doanh tạo ra doanh thu và
lợi nhuận cho các doanh nghiệp.
- Thứ hai, hoạt động nhập khẩu cung cấp máy móc thiết bị, nguyên vật liệu,
các yếu tố đầu vào phục vụ cho quá trình sản xuất của doanh nghiệp.
- Thứ ba, hoạt động nhập khẩu giúp cho các doanh nghiệp có cơ hội liên
doanh, liên kết kinh tế với nước ngoài nhằm thu hút đầu tư vốn, công nghệ và trình
độ quản lý cho các doanh nghiệp.
2.1.3. Các hình thức và nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động nhập khẩu
• Các loại hình nhập khẩu
Hoạt động nhập khẩu bao gồm các hình thức sau:
- Nhập khẩu trực tiếp (hay còn gọi là nhập khẩu thông thường): Là hình thức
nhập khẩu độc lập của một doanh nghiệp thực hiện nhập khẩu trực tiếp hàng hoá và
dịch vụ không qua một tổ chức trung gian nào. Doanh nghiệp phải chịu mọi chi phí,
rủi ro và trách nhiệm pháp lý về hoạt động nhập khẩu đó.
Trần Văn Toàn 6 Lớp K42E5
Luận văn tốt nghiệp Khoa Thương mại Quốc tế
- Nhập khẩu ủy thác: Là hoạt động hình thành giữa một doanh nghiệp có vốn
và có nhu cầu nhập khẩu một số loại hàng hoá nhưng lại không có quyền tham gia
nhập khẩu trực tiếp, nên phải ủy thác cho một doanh nghiệp có chức năng trực tiếp
giao dịch tiến hành nhập khẩu theo yêu cầu của mình. Bên ủy thác sẽ tiến hành đàm
phán với đối tác nước ngoài để nhập khẩu hàng hoá theo yêu cầu của bên đi ủy thác
và nhận được nhận một khoản thù lao gọi là phí ủy thác. (Nói cách khác nhập khẩu
uỷ thác là doanh nghiệp nhập khẩu đóng vai trò trung gian nhập khẩu).
- Nhập khẩu liên doanh: Là hoạt động nhập khẩu hàng hoá trên cơ sở liên kết
kinh tế một cách tự nguyện giữa các doanh nghiệp nhằm phối hợp kỹ năng để giao
dịch và đề ra chủ trương, biện pháp có liên quan đến hoạt động nhập khẩu, thúc đẩy
hoạt động này phát triển theo hướng có lợi nhất cho hai bên theo nguyên tắc lãi
cùng chia lỗ cùng chịu.
- Nhập khẩu đổi hàng: Là một phương pháp trao đổi hàng hoá, trong đó nhập
khẩu kết hợp chặt chẽ với xuất khẩu, người bán cũng đồng thời là người mua,

- Phụ thuộc vào các nhà xuất khẩu, nguồn cung cấp hàng hoá.
- Các yếu tố khác…
2.2. Những lý luận cơ bản về suy thoái kinh tế và ảnh hưởng của nó đến hoạt
động nhập khẩu
2.2.1. Khái niệm suy thoái kinh tế
Suy thoái kinh tế được hiểu theo nhiều quan điểm khác nhau:
Trong kinh tế học vĩ mô, suy thoái kinh tế được định nghĩa: “Suy thoái kinh tế
là sự suy giảm lượng GDP của một quốc gia, hoặc tăng trưởng âm trong vòng hai
quý liên tiếp trở lên trong một năm”
(1)
.
Theo quan điểm của cơ quan nghiên cứu kinh tế quốc gia (NBER)
(2)
Hoa Kỳ
cho rằng: “Suy thoái kinh tế là sự tụt giảm hoạt động kinh tế trên cả nước, kéo dài
nhiều tháng”
(3)
.
(1),(3)
Trích dẫn từ địa chỉ: “http://vi.wikipedia.org”.
(2)
NBER: Cơ quan nghiên cứu kinh tế quốc gia Hoa Kỳ.
Suy thoái kinh tế có thể liên quan sự suy giảm đồng thời của các chỉ số kinh tế
của toàn bộ hoạt động kinh tế như: việc làm, đầu tư và lợi nhuận của doanh nghiệp.
Các thời kỳ suy thoái có thể đi liền với hạ giá cả (giảm phát), hoặc ngược lại, tăng
nhanh giá cả (lạm phát) trong thời kỳ đình lạm.
Trần Văn Toàn 8 Lớp K42E5
Luận văn tốt nghiệp Khoa Thương mại Quốc tế
Sự suy thoái trầm trọng và lâu dài được gọi là khủng hoảng kinh tế. Sự tan vỡ
tàn phá kinh tế là gọi sự suy sụp/đổ vỡ kinh tế. Việc suy giảm kinh tế của nhiều

khủng hoảng, tiêu điều, phục hồi và hưng thịnh. Hiện nay, không còn thấy cách gọi
này nữa.
Hình 2.1. Chu kỳ kinh tế
Nguồn: http://vi.wikipedia.org.
Các pha của chu kỳ kinh tế:
- Suy thoái: là pha trong đó GDP thực tế giảm đi. Ở Mỹ và Nhật Bản, người ta
quy định rằng, khi tốc độ tăng trưởng GDP thực tế mang giá trị âm trong hai quý
liên tiếp thì mới gọi là suy thoái.
- Phục hồi: là pha trong đó GDP thực tế tăng trở lại bằng mức ngay trước suy
thoái. Điểm ngoặt giữa hai pha này là đáy của chu kỳ.
- Hưng thịnh: là khi GDP thực tế tiếp tục tăng và bắt đầu lớn hơn mức ngay
trước lúc suy thoái. Kết thúc pha hưng thịnh lại bắt đầu pha suy thoái mới. Điểm
ngoạt từ pha hưng thịnh sang pha suy thoái mới gọi là đỉnh của chu kỳ kinh tế.
2.2.3. Lược sử về một số cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới từ năm 1929 đến
năm 2010
Khủng hoảng kinh tế thế giới có mức độ ảnh hưởng sâu rộng và mang tính chất
toàn cầu, nó tác động đến hầu hết các mặt của đời sống như kinh tế, chính trị, văn
hoá, xã hội,…với các mức độ khác nhau. Lịch sử kinh tế thế giới đã chứng kiến
nhiều cuộc khủng hoảng kinh tế, điển hình là ba cuộc khủng hoảng sau:
Trần Văn Toàn 10 Lớp K42E5
Luận văn tốt nghiệp Khoa Thương mại Quốc tế
- Cuộc khủng hoảng kinh tế 1929-1933, Suy thoái bắt đầu diễn ra ở Mỹ vào
tháng 10/ 1929, sau đó nhanh chóng lan rộng sang các nước châu Âu và hầu khắp
các nước trên thế giới. Đây là cuộc khủng hoảng được đánh giá là lớn nhất trong
lịch sử kinh tế hiện đại, những thiệt hại mà nó gây ra vô cùng nặng nề, mọi khía
cạnh của nền kinh tế từ hoạt động sản xuất, đầu tư, tiêu dùng, thương mại, đến thị
trường lao động,…đều chịu những tác động xấu từ cuộc khủng hoảng. Cuộc khủng
hoảng đã kéo dài trong 4 năm và đến năm 1933 thì chấm dứt.
- Cuộc khủng hoảng dầu mỏ năm 1973, đây là hậu quả của việc các nước
thành viên OPEC bao gồm tổ chức xuất khẩu dầu mỏ OPEC và hai nước Ai Cập và

theo thuyết tiền tệ tin rằng những thay đổi triệt để về cơ cấu kinh tế không phải là
nguyên nhân chủ yếu, nguyên nhân của các thời kỳ suy thoái ở Mỹ là bởi quản lý
tiền tệ yếu kém.
Nhìn lại ba cuộc suy thoái kinh tế lớn nhất kể từ sau chiến tranh thế giới thứ hai
trở lại đây cho thấy rằng:
- Cuộc khủng hoảng kinh tế năm 1929-1933, nguyên nhân nội sinh của nó là
cuộc khủng hoảng sản xuất “thừa”, bởi vì sự sản xuất ồ ạt, chạy theo lợi nhuận
trong những năm ổn định của chủ nghĩa tư bản đã dẫn đến tình trạng hàng hoá sản
xuất ra quá nhiều mà không được tiêu thụ vì sức mua của quần chúng giảm sút
nhiều do sự bóc lột tàn bạo của giai cấp tư sản. Nguồn gốc sâu xa của sự sản xuất
dư thừa đó là sự buông lỏng quản lý của chính phủ (yếu tố nội sinh) đã làm mất cân
đối trong sản xuất và tiêu dùng, dẫn đến khủng hoảng về kinh tế.
- Minh chứng cho yếu tố ngoại sinh là nguyên nhân gây ra suy thoái đó là
cuộc khủng hoảng dầu mỏ năm 1973. Cuộc chiến tranh giữa một bên là Ai Cập-
Syria cùng các đồng minh thuộc thế giới Ả Rập và một bên là Isarel cùng các đồng
minh chính là Mỹ, Nhật và một số nước EU hiện nay. Trong cuộc chiến tranh này,
Ai Cập- Syria đã ngừng xuất khẩu dầu mỏ sang các nước ủng hộ Isarel từ tháng
10/1973 tới 4/1974 để hỗ trợ chiến tranh quân sự. Kết quả là với việc dầu mỏ khan
hiếm ở các quốc gia phương Tây mà nhu cầu thì quá lớn đã dẫn đến giá dầu tại thị
trường thế giới tăng vọt trong một thời gian ngắn lên gấp 5 lần. Chính cuộc khủng
hoảng năng lượng này đã gây ra cuộc khủng hoảng kinh tế năm 1973-1975.
- Nguyên nhân của cuộc suy thoái kinh tế thế giới năm 2008 là sự kết hợp của
cả hai yếu tố nội sinh và ngoại sinh:
Trần Văn Toàn 12 Lớp K42E5
Luận văn tốt nghiệp Khoa Thương mại Quốc tế
+ Nguyên nhân ngoại sinh: đó là sự khủng hoảng về năng lượng và lương thực,
thực phẩm. Việc bùng nổ giá cả diễn ra do nguồn cung hạn chế trong khi nhu cầu
tăng cao, dự trữ thấp và đặc biệt là sự gia tăng hoạt động của giới đầu cơ quốc tế.
Khủng hoảng hàng hoá đã khiến tình trạng bất ổn xã hội xảy ra ở nhiều quốc gia, đe
doạ nghiêm trọng tới an ninh chính trị, hàng loạt các cuộc biểu tình diễn ra ở Ai

thấp nhất có thể để bán được hàng.
- Khả năng thanh toán trong hoạt động nhập khẩu sẽ bị hạn chế. Dưới phạm vi
ảnh hưởng rộng của suy thoái kinh tế, các lĩnh vực như : Đầu tư, tài chính - Ngân
hàng cũng sẽ bị ảnh hưởng. Việc huy động nguồn vốn của các doanh nghiệp để hỗ
trợ thanh toán cho hoạt động nhập khẩu cũng trở nên khó khăn hơn.
- Về mặt nguồn cung hàng hoá của hoạt động nhập khẩu cũng bị ảnh hưởng.
Các nhà sản xuất, xuất khẩu có thể cũng sẽ gặp phải nhiều khó khăn trong hoạt
động sản xuất, kinh doanh. Điều này có thể dẫn đến sự hạn chế về nguồn cung cho
hoạt động nhập khẩu.
• Tác động gián tiếp
Ngoài những tác động trực tiếp nêu trên, hoạt động nhập khẩu còn bị tác động
bởi suy thoái kinh tế qua những yếu tố gián tiếp như: Thu nhập, tỷ lệ thất nghiệp,
hoạt động đầu tư, tỷ giá hối đoái, chính sách chính trị - pháp luật của chính phủ,…
- Trước hết, do tác động của suy thoái kinh tế, hoạt động sản xuất kinh doanh
gặp khó khăn do hàng hoá sản xuất ra không tiêu thụ được, nhiều nhà máy, công
xưởng phải đóng cửa làm cho tình trạng thất nghiệp ngày càng gia tăng khiến nhu
cầu tiêu dùng của người dân giảm. Vì vậy, nhu cầu nhập khẩu cũng sẽ giảm.
- Thứ hai, thu nhập bị giảm xuống mức thấp cũng là nguyên nhân làm cho nhu
cầu tiêu dùng của người dân bị hạn chế. Điều này cũng sẽ tác động đến hoạt động
nhập khẩu.
- Thứ ba, nhu cầu tiêu dùng trong nước giảm khiến cho các nhà sản xuất nội
địa gặp khó khăn, nhu cầu nhập khẩu máy móc, nguyên vật liệu (các yếu tố đầu
vào) để phục vụ cho sản xuất cũng bị giảm.
- Thứ bốn, tác động của suy thoái kinh tế đến lĩnh vực tài chính đã khiến cho
hệ thông ngân hàng gặp rất nhiều khó khăn. Mặt khác, do lo sợ các doanh nghiệp
vay vốn làm ăn thua lỗ, không có khả năng trả nợ, các ngân hàng sẽ thắt chặt nguồn
Trần Văn Toàn 14 Lớp K42E5
Luận văn tốt nghiệp Khoa Thương mại Quốc tế
vốn tín dụng khiến cho việc huy động vốn của các doanh nghiệp nói chung cũng
như các doanh nghiệp nhập khẩu nói riêng bị hạn chế.

công ty TCMN Artexport Việt Nam sang thị trường Nhật Bản và các giải pháp
khắc phục” - Nguyễn Hoàng Lương - 2009.
Nội dung: Luận văn đi sâu vào nghiên cứu những tác động của suy thoái kinh tế
tới hoạt động xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của công ty TCMN Artexport Việt
Nam sang thị trường Nhật Bản để từ đó đưa ra những giải pháp khắc phục tình
trạng đó.
- “Tác động của suy thoái kinh tế thế giới tới hoạt động xuất khẩu hàng dệt may
sang thị trường Hoa Kỳ tại công ty CP may Sông Hồng và các giải pháp”- Trần Thị
Minh Nguyệt - 2009.
Nội dung: Tìm hiểu, phân tích và đánh giá những ảnh hưởng của suy thoái kinh
tế thế giới đến hoạt động xuất khẩu hàng dệt may sang thị trường Hoa Kỳ, qua
những kết quả thu được đề xuất các giải pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu
của công ty CP may Sông Hồng.
- “Một số giải pháp kích cầu nhằm hạn chế sự ảnh hưởng của suy thoái kinh tế
đến hoạt động kinh doanh nhập khẩu thiết bị văn phòng trên địa bàn
Hà Nội”-Trịnh Thị Huyền - 2009.
Nội dung: Suy thoái kinh tế đã có những tác động tiêu cực đến nền kinh tế, làm
giảm nhu cầu của thị trường đối với mặt hàng thiết bị văn phòng trong cả nước nói
chung và trên địa bàn Hà Nội nói riêng. Mục đích của luận văn là nghiên cứu
những tác động này và qua đó đề xuất một số giải pháp kích cầu
đối với mặt hàng thiết bị văn phòng nhập khẩu trên địa bàn Hà Nội.
Luận văn kế thừa thành quả của các công trình nghiên cứu năm trước do có một
số điểm chung. Tuy nhiên, các công trình này mới chỉ nghiên cứu những tác động
của cuộc suy thoái kinh tế đến hoạt động xuất khẩu, chưa có công trình nào nghiên
cứu về ảnh hưởng của suy thoái kinh tế đến hoạt động nhập khẩu. Vì thế, đây là
điểm hết sức mới mẻ và khác biệt so với những công trình trước.
2.4. Phân định nội dung nghiên cứu của đề tài
Ảnh hưởng của cuộc suy thoái kinh tế thế giới đến hoạt động nhập khẩu là
không hề nhỏ. Tuy nhiên trong khuôn khổ, giới hạn cho phép và gắn với tình hình
Trần Văn Toàn 16 Lớp K42E5

như các doanh nghiệp khác gặp khó khăn hơn bao giờ hết.
Trần Văn Toàn 17 Lớp K42E5
Luận văn tốt nghiệp Khoa Thương mại Quốc tế
PHẦN III
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ KẾT QUẢ PHÂN TÍCH ẢNH HƯỞNG
CỦA SUY THOÁI KINH TẾ ĐẾN HOẠT ĐỘNG NHẬP KHẨU THIẾT BỊ Y
TẾ CỦA CÔNG TY TOÀN CẦU
3.1. Phương pháp hệ nghiên cứu các vấn đề
3.1.1. Phương pháp thu thập dữ liệu
• Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp
Trần Văn Toàn 18 Lớp K42E5
Luận văn tốt nghiệp Khoa Thương mại Quốc tế
- Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp qua phỏng vấn
Luận văn đã xây dựng bảng câu hỏi phỏng vấn bao gồm 6 câu hỏi và tiến hành
phỏng vấn 3 người, bao gồm trưởng, phó phòng kinh doanh và trưởng phòng nhập
khẩu. Sở dĩ, phỏng vấn 3 người này bởi vì họ là những người nắm bắt được tình
hình hoạt cũng như những khó khăn trong hoạt động kinh doanh của công ty. Các
câu hỏi phỏng vấn xoay quanh, tập trung vào việc tìm hiểu tình hình hoạt động
nhập khẩu thiết bị y tế của công ty trong bối cảnh suy thoái cũng như quan điểm và
giải pháp mà công ty đã đưa ra để khắc phục những khó khăn do suy thoái kinh tế
gây ra.
- Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp qua phiếu điều tra, trắc nghiệm
Để có được đầy đủ các thông tin cần thiết cho việc nghiên cứu và đánh giá một
cách khách quan về thực trạng và những tác động của suy thoái kinh tế đến hoạt
động kinh doanh của công ty, bên cạnh việc thu thập thông tin qua phỏng vấn, luận
văn còn tiến hành xây dựng phiếu điều tra, trắc nghiệm bao gồm 10 câu hỏi đóng
và mở để thu thập thông tin từ 10 người trong công ty. Những người được điều tra
bao gồm trưởng, phó và chuyên viên các phòng nhập khẩu, phòng kinh doanh, họ
là những người trực tiếp điều hành cũng như tham mưu cho giám đốc những vấn đề
liên quan đến hoạt động của công ty trong phạm vi chức năng của họ.

giảm 45,7% so với cùng kỳ năm 2008, đây là mức giảm lớn nhất trong vòng 40
năm qua, trong đó xuất khẩu sang châu Á giảm 46,7%. Đầu tư kinh doanh vào nhà
máy và thiết bị giảm 5,3%. Do tác động dây chuyền không xuất khẩu được, hàng
hoá sản xuất ra bị tồn đọng, giới chủ nhân xí nghiệp sa thải nhân viên và cắt giảm
công ăn việc làm. Trong một báo cáo khác đã được công bố ngày 27/2/2009,
khoảng 158 nghìn công nhân nước này bị mất việc làm trong khoảng thời gian từ
tháng 10/2008 đến tháng 3/2009. Đây là một con số rất lớn, nó đã tác động đến các
mặt khác của đời sống xã hội Nhật Bản.
Tại Đức, ngày 22/12/2008, Viện Kinh tế thế giới (IFW) hàng đầu của Đức, cho
biết nền kinh tế lớn nhất châu Âu này sẽ giảm 2,7% trong năm 2009, mức giảm lớn
nhất trong lịch sử thời hậu chiến ở Đức và cao gấp 3 lần so với mức của năm 1975 -
năm suy thoái nghiêm trọng nhất trong lịch sử nước Đức khi Tổng sản phẩm quốc
nội (GDP) giảm 0,9%. Xuất khẩu của Đức trong năm 2009 cũng sẽ giảm mạnh,
khoảng 9%. Kinh tế suy giảm bao giờ cũng đi kèm với gia tăng thất nghiệp. Tháng
Trần Văn Toàn 20 Lớp K42E5
Luận văn tốt nghiệp Khoa Thương mại Quốc tế
1/2009, tỷ lệ thất nghiệp ở Đức đã ở mức 8,3%, hoặc 3,49 triệu người ở độ tuổi lao
động không có việc làm. Trong khi đó, Liên minh các doanh nghiệp cỡ vừa (UMU)
của Đức ngày 22/12/2008 cũng cho biết, cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái
kinh tế ở nước này đã khiến khoảng 1/3 số doanh nghiệp cỡ vừa của Đức muốn cắt
giảm việc làm, tăng gấp đôi so với mức của năm 2007.
Singapore cũng rơi vào tình trạng suy giảm kinh tế. Trong quý III/2008, kinh tế
nước này suy giảm 6,8%, so với cùng kỳ năm 2007, kinh tế nước này suy giảm
0,6%. Quý II/2008, Tổng sản phẩm quốc nội của nước này đã giảm 5,3%. Nguyên
nhân của sự suy giảm là do nhu cầu trên toàn thế giới đối với thiết bị công nghệ cao
(sản phẩm chiếm đến 1/4 GDP của Singapore) đã sụt giảm một cách bất thường.
Singapore dựa nhiều vào xuất khẩu (xuất khẩu hơn 2/3 sản lượng công nghiệp) và
kinh tế toàn cầu trì trệ có nghĩa nhu cầu nhập hàng của các nước có thể giảm đáng
kể. Sản xuất hàng hoá trong quý III cũng trượt 10% so với quý đầu năm 2008.
Nhật Bản, Đức, Singapore là những thị trường cung ứng chủ yếu của công ty

nhiên liệu phục vụ cho hoạt động sản xuất của năm 2009 đều giảm so với năm
2008.
Về thị trường hàng hoá nhập khẩu, 8 đối tác chủ yếu chiếm hơn 85% tổng kim
ngạch nhập khẩu năm 2009 hầu như đều giảm so với năm 2008, trong đó: ASEAN
chỉ đạt 13,4 tỷ USD, giảm 31,3%; Nhật Bản 7,3 tỷ USD, giảm 11,3%, Hàn Quốc 6,7
tỷ USD, giảm 5,3%, Đài Loan 6,2 tỷ USD, giảm 25,9%; Ôx-trây-li-a 1 tỷ USD, giảm
24%,
Tác động của cuộc suy thoái kinh tế thế giới đến Việt Nam khiến cho các doanh
nghiệp trong nước đang phải đối mặt với rất nhiều khó khăn, công ty Toàn Cầu cũng
không nằm ngoài những khó khăn đó.
• Chính sách, giải pháp ngăn chặn suy thoái kinh tế của Chính phủ
Ngày 11/12/2008, Chính phủ đã ban hành nghị quyết số 30/2008/NQ-CP về
những giải pháp nhằm ngăn chặn suy giảm kinh tế, duy trì tăng trưởng kinh tế, đảm
bảo an sinh xã hội, với mục tiêu này, Chính phủ đã đề ra một số giải pháp hỗ trợ cho
các doanh nghiệp trong nước.
Thứ nhất là hỗ trợ lãi suất. Chính sách này nhằm tạo điều kiện tăng cường khả
năng tiếp cận nguồn vốn tín dụng cho các doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp
vừa và nhỏ. Trước mắt, Chính phủ đã có kế hoạch sử dụng gói kích cầu 1 tỷ USD
Trần Văn Toàn 22 Lớp K42E5
Luận văn tốt nghiệp Khoa Thương mại Quốc tế
thông qua việc bù lãi suất khoảng 4% cho các doanh nghiệp và bảo lãnh tín dụng cho
các doanh nghiệp vừa và nhỏ (theo Quyết định số 14/QD-TTG ngày 21/01/2009). Tiếp
đó, với Quyết định số 131/QD-TTG ngày 23/01/2009 của Thủ tướng Chính phủ, Ngân
hàng nhà nước hạ lãi suất căn bản từ mức 8,5% xuống còn 7%/ năm, đây như là một
động thái để hỗ trợ thực hiện gói kích cầu của Chính phủ chống suy thoái kinh tế. Có
thể nói, đây là bước đi cần thiết và tích cực để đối phó với tình hình kinh tế trong và
ngoài nước thời kỳ suy thoái.
Thứ hai là chính sách giảm, giãn thuế. Chính phủ đã ban hành Nghị định số
124/2008/ND-CP ngày 11/12/2008 quy định chi tiết và hương dẫn thi hành một số
điều của luật thuế thu nhập doanh nghệp. Chính phủ sẽ tiến hành giảm 30% số thuế

thể, kim ngạch nhập khẩu của tháng 1/2009 chỉ đạt khoảng 8 triệu USD, giảm 11%
so với tháng 1/2008.
Hình 3.1. Kim ngạch nhập khẩu thiết bị y tế tháng 1/2009
so với tháng 1/2008, (Đơn vị: Triệu USD)
Nguồn: infotv.vn.
Lượng máy nhập khẩu trong quý I/2009 cũng ít hơn so với cùng kỳ năm 2008
là 4,8%, tương đương với lượng nhập khẩu chỉ đạt 493 bộ.
Số lượng các doanh nghiệp tham gia nhập khẩu trang thiết bị y tế đã lên đến
hơn 750 doanh nghiệp, trong đó, một số doanh nghiệp có kim ngạch nhập khẩu lớn
như: Công ty TNHH Thương mại dịch vụ Y tế Định Giang; Công ty Dược phẩm
B.Braun Hà Nội; Công ty Cổ phần Y Dược phẩm Vimedimex; Công ty TNHH
Dược phẩm Vĩnh Tâm; Công ty Thăng Long,…
Cơ cấu thị trường tham gia nhập khẩu trong tháng 3/2009 gồm 12 quốc gia.
Trong đó, lượng máy được nhập khẩu nhiều tập trung vào Nhật Bản, Singapore,
Trần Văn Toàn 24 Lớp K42E5
Luận văn tốt nghiệp Khoa Thương mại Quốc tế
Hàn quốc và Trung Quốc. Đáng chú ý, kim ngạch nhập khẩu từ Nhật Bản dẫn đầu
và chiếm tới 66% thị phần, tương đương đạt 3,9 triệu USD, Singapore đạt 909
nghìn USD, Hàn quốc đạt 725 nghìn USD, Đức đạt 112 nghìn USD, Trung Quốc
đạt 103 nghìn USD.
Việt Nam là quốc gia nhập khẩu khá nhiều trang thiết bị y tế từ các nước trên
thế giới. Tuy nhiên, suy thoái kinh tế đã có những tác động lớn đến toàn ngành
trang thiết bị y tế Việt Nam nói chung và các doanh nghiệp nhập khẩu nói riêng.
Trước tình hình này, công ty Toàn Cầu cũng đang phải đối mặt với nhiều khó khăn
thách thức.
3.2.2. Các nhân tố thuộc môi trường bên trong công ty
Được thành lập vào năm 2006, công ty TNHH tư vấn thương mại Toàn Cầu là
doanh nghiệp hai thành viên với lĩnh vực hoạt động chính là kinh doanh nhập khẩu,
tư vấn, thiết kế, lắp đặt, chuyển giao công nghệ, trang thiết bị y tế cho các bệnh
viện, trung tâm, cơ sở y tế cả trong ngoài công lập.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status