một số giải pháp hạn chế ảnh hưởng của suy thoái kinh tế tới kinh doanh xuất khẩu gạch ngói của công ty cổ phần viglacera hạ long sang thị trường các nước châu á - Pdf 24

GVHD: Th.S Phan Thu Giang Chuyên đề tốt nghiệp
Chương I
Tổng quan nghiên cứu đề tài
1.1 Tính cấp thiết của nghiên cứu đề tài
Năm 2011, kinh tế thế giới được dự báo sẽ tiếp tục phục hồi với mức tăng trưởng
khá, song vẫn còn chứa đựng những bất ổn khó lường. Do ảnh hưởng từ cuộc khủng
hoảng tài chính tại Mỹ năm 2008 được đánh giá là cuộc khủng hoảng nghiêm trọng nhất
kể từ cuộc đại khủng hoảng 1929- 1933, có mức độ ảnh hưởng lớn lan rộng khắp toàn
cầu với những diễn biến phức tạp, khó lường. Vào đầu tháng 10 năm 2008, IMF ước
tính thiệt hại của cuộc khủng hoảng tài chính tại Mỹ đã lên đến 1,4 nghìn tỉ USD. Kéo
theo đó là tình trạng suy thoái trên toàn thế giới diễn ra nhanh chóng. Theo dự báo của
Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) thì kinh tế thế giới năm 2010 sẽ tăng trưởng 3,1%, cao hơn
so với mức 1,1% của năm 2009, song vẫn thấp hơn nhiều so với mức trên 5% của hai
năm 2006, 2007. Tốc độ suy thoái mạnh rơi vào quý IV năm 2008 và quý I năm 2009.
Theo dự báo thì năm 2009 mức suy thoái tại Mỹ là 0,9%. Còn theo dự báo của Liên
Hợp Quốc thì năm 2010 nền kinh tế thế giới có thể đạt mức tăng trưởng 2,4%, tuy nhiên
sự phục hồi này còn rất mong manh. Theo báo cáo của Liên Hợp Quốc, sự phục hồi của
kinh tế toàn cầu chủ yếu là do chính sách kích thích kinh tế được các nước tung ra trong
năm 2009. Nhưng cho đến năm vừa rồi- 2010 theo nhận định của bộ phận phân tích
thông tin kinh tế (EIU) thuộc tạp chí The Economist của Anh cho biết các số liệu gần
đây cho thấy nền kinh tế thế giới đang trên con đường phục hồi, tuy nhiên vẫn còn
nhiều khó khăn đối với nhiều nước.
Nhìn chung, các dự báo về nền kinh tế toàn cầu đều cho thấy cuộc khủng hoảng
tài chính thế giới đã được kiểm soát, kéo theo dấu hiệu hồi phục kinh tế. Tuy nhiên,
hiện vẫn còn quá sớm để khẳng định kinh tế thế giới hoàn toàn thoát khỏi suy thoái và
bước vào chu kỳ hồi phục.
Nghiên cứu của Liên Hợp Quốc về tình hình kinh tế- xã hội khu vực Châu Á-Thái
Bình Dương nhấn mạnh Châu Á-Thái Bình Dương đang dẫn đầu thế giới về phục hồi
kinh tế. Theo dự báo “Tình hình và triển vọng kinh tế thế giới năm 2010” của Liên Hợp
Quốc, năm 2010, các nước đang phát triển ở Châu Á sẽ có tốc độ tăng trưởng kinh tế
nhanh nhất, đặc biệt là Trung Quốc 8,8%, Ấn Độ 6,5%, tiếp đến là Việt Nam, Lào: 5%,

 Làm rõ thực trạng hoạt động xuất khẩu sản phẩm gạch ngói của CTCP Viglacera
Hạ Long trong thời kỳ suy thoái kinh tế.
 Đề xuất một số giải pháp để giải quyết những khó khăn và những vấn đề khúc
mắc cần tháo gỡ trong đề tài. Từ đó đưa ra một số đề nghị cho công ty.
Từ những vấn đề cấp thiết đã nêu ở trên nên chuyên đề đã chọn đề tài nghiên cứu là:
SV: Nguyễn Thuý Quỳnh- K43E5 Trường Đại học Thương Mại
GVHD: Th.S Phan Thu Giang Chuyên đề tốt nghiệp
“ Một số giải pháp hạn chế ảnh hưởng của suy thoái kinh tế tới kinh doanh xuất
khẩu gạch ngói của Công ty Cổ phần Viglacera Hạ Long sang thị trường các nước
châu Á”.
1.3 Các mục tiêu nghiên cứu
 Khái quát vấn đề lý thuyết liên quan đến khủng hoảng kinh tế toàn cầu, suy thoái
kinh tế, ảnh hưởng của suy thoái kinh tế toàn cầu về hoạt động xuất khẩu nói
chung. Khái luận về tác động của suy thoái kinh tế tới hoạt động xuất khẩu.
 Điều tra làm rõ thực trạng ảnh hưởng của suy thoái kinh tế toàn cầu tới hoạt động
xuất khẩu của CTCP Viglacera Hạ Long trong giai đoạn hiện nay.
 Đề xuất một số giải pháp khắc phục ảnh hưởng của suy thoái kinh tế thế giới
hoạt động xuất khẩu của CTCP Viglacera Hạ Long.
1.4 Phạm vi nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu những ảnh hưởng của suy thoái kinh tế thế giới tới hoạt
động xuất khẩu nói chung và tình xuất khẩu sản phẩm gạch ngói của CTCP Viglacera
Hạ Long sang thị trường các nước Châu Á nói riêng, do thời gian còn hạn hẹp và khả
năng nhận định, phân tích của bản thân còn hạn chế nên :
- Phạm vi nghiên cứu về thời gian: trong giai đoạn từ năm 2007 đến hết 2010.Sở
dĩ có sự phân định thời gian như vậy là vì qua số liệu của từng năm từ 2007 đến
hết 2010 ta có thể thấy rõ sự sụt giảm doanh thu từ hoạt động xuất khẩu do ảnh
hưởng của suy thoái kinh tế toàn cầu.
- Phạm vi nghiên cứu về không gian: tại CTCP Viglacera Hạ Long.
- Giới hạn mặt hàng nghiên cứu: xuất khẩu sản phẩm gạch ngói vì gạch ngói là sản
phẩm có sản lượng lớn tại công ty cũng như trong công tác xuất khẩu- nó được

XHCN Việt Nam thì: “ Xuất khẩu hàng hoá là việc hàng hoá được đưa ra khỏi lãnh thổ
Việt Nam hoặc được đưa vào khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là
khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật”.
Theo lý luận TMQT: Xuất khẩu là việc đưa hàng hoá và dịch vụ ra khỏi một nước
sang các quốc gia khác để bán. Xuất khẩu là một bộ phận của hoạt động thương mại
quốc tế trong đó hàng hoá và dịch vụ được bán, cung cấp cho nước ngoài nhằm thu
ngoại tệ. Đây là hoạt động kinh doanh buôn bán trên phạm vi quốc tế, nó không chỉ là
một hành vi buôn bán đơn lẻ mà là cả một hệ thống các quan hệ mua bán phức tạp có tổ
chức bên trong và bên ngoài nhằm mục đích lợi nhuận, thúc đẩy hàng hoá sản xuất phát
triển, chuyển đổi cơ cấu nền kinh tế, ổn định và nâng cao mức sống của nhân dân.
SV: Nguyễn Thuý Quỳnh- K43E5 Trường Đại học Thương Mại
GVHD: Th.S Phan Thu Giang Chuyên đề tốt nghiệp
Theo quan điểm của các nhà kinh doanh quốc tế: Xuất khẩu hàng hoá là việc bán
hàng hoá của quốc gia này cho một quốc gia khác trên cơ sở thanh toán bằng tiền tệ.
Hàng hóa được vận chuyển qua biên giới quốc gia, tiền tệ ở đây có thể là ngoại tệ đối
với một hoặc cả hai quốc gia.
1.5.2 Một số lý thuyết của vấn đề nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, chuyên đề đã tìm hiểu và nghiên cứu bằng khá nhiều
phương tiện truyền thông khác nhau nhưng với thời gian và khả năng nghiên cứu có
hạn. Chuyên đề chưa tìm ra một quan điểm nào được nâng lên thành lý thuyết về suy
thoái kinh tế toàn cầu và hoạt động xuất khẩu mà đa phần chỉ là các quan điểm của các
nhà kinh tế học về suy thoái kinh tế và bản chất, chức năng của hoạt động xuất khẩu.
1.5.2.1 Lý thuyết về chu kỳ phát triển kinh tế
Hình 1.1: Chu kỳ kinh tế
Nguồn: />- Suy thoái là pha trong đó GDP thực tế giảm đi. Ở Mỹ và Nhật Bản, người ta quy định
rằng, khi tốc độ tăng trưởng GDP thực tế mang giá trị âm suốt hai quý liên tiếp thì mới
gọi là suy thoái.
- Phục hồi pha trong đó GDP thực tế tăng trở lại bằng mức ngay trước suy thoái. Điểm
ngoặt giữa hai pha này là đáy của chu kỳ kinh tế.
- Khi GDP thực tế tiếp tục tăng và bắt đầu lớn hơn mức ngay trước lúc suy thoái, nền

1.5.2.2 Một số lý luận cơ bản của suy thoái kinh tế
 Lược sử các cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới từ 1929- 2011
Các cuộc khủng hoảng của kinh tế thế giới đã tác động hầu hết tới các mặt của đời
sống chính trị, kinh tế, xã hội, văn hoá… với các mức độ khác nhau. Sự tác động của nó
thật sâu rộng và mang tính chất toàn cầu. Điển hình là ba cuộc khủng hoảng sau:
SV: Nguyễn Thuý Quỳnh- K43E5 Trường Đại học Thương Mại
GVHD: Th.S Phan Thu Giang Chuyên đề tốt nghiệp
- Cuộc khủng hoảng kinh tế 1929- 1933 được đánh giá là một trong những cuộc
khủng hoảng kinh tế lớn trong lịch sử kinh tế hiện đại. Hậu quả của nó để lại trong suốt
thập niên 1930. Cuộc suy thoái bắt đầu ở Mỹ vào tháng 10/1929, sau đó nhanh chóng
lan sang châu Âu và hầu khắp các nước khác trên thế giới, cả những nước công nghiệp
và các quốc gia chuyên xuất khẩu nguyên liệu thô đều bị ảnh hưởng.
- Cuộc khủng hoảng thứ hai là khủng hoảng về hàng hoá, đó là cuộc khủng hoảng
về dầu mỏ 1973 đã đẩy giá dầu mỏ lên cao và làm ảnh hưởng tới các hoạt động đầu tư,
sản xuất, tiêu dùng. Cuộc chiến giữa thế giới Ả Rập và Israel cùng với đồng minh Mỹ,
Nhật và một số nước châu Âu đã làm nên cuộc khủng hoảng dầu lửa này kéo theo đó là
những tác động tiêu cực gây ra cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu.
- Và gần đây nhất là cuộc khủng hoảng năm 2008 là cuộc khủng hoảng nặng nề
nhất trong vòng 60 năm trở lại đây theo đánh giá của IMF. Khi mà hàng loạt các ngân
hàng lớn tại Mỹ tuyên bố phá sản thì nền kinh tế của nước này bị suy sụp nhanh chóng
đã khiến kinh tế thế giới sụt giảm theo. Cùng với đó là tình trạng khủng hoảng về lương
thực và năng lượng, những tháng cuối năm 2008 và đầu năm 2009 là những ngày đen
tối của kinh tế thế giới. Cuộc khủng hoảng tài chính bắt nguồn từ Mỹ và nhanh chóng
lan ra toàn cầu, nó đã tác động mạnh mẽ vào toàn bộ nền kinh tế các nước trên thế giới.
Cho đến hiện nay thì theo đánh giá của các chuyên gia thì nền kinh tế các nước đang
trên đà phục hồi.
 Nguyên nhân của các cuộc khủng hoảng
Trong ba cuộc suy thoái kể trên, mỗi cuộc suy thoái có nguyên do riêng của nó.
- Trước tiên là cuộc Đại khủng hoảng năm 1930, là cuộc khủng hoảng sản xuất
“thừa”. Do chạy theo lợi nhuận những năm ổn định, các nước CNTB tiến hành bóc lột tầng

tài chính đã bị trực tiếp chịu ảnh hưởng của suy thoái.
1.5.2.3 Lý thuyết về hoạt động xuất khẩu
Hoạt động xuất khẩu được diễn ra trong mọi lĩnh vực, mọi điều kiện kinh tế, từ
xuất khẩu hàng hoá tiêu dùng đến xuất khẩu tư liệu sản xuất, từ máy móc thiết bị cho
đến các máy móc công nghệ kỹ thuật cao, từ hàng hoá hữu hình đến hàng hoá vô
hình( dịch vụ). Tất cả đều nhằm mục tiêu đem lại lợi ích cho các quốc gia tham gia
vào hoạt động xuất khẩu. Nó diễn ra trong phạm vi rất rộng cả về không gian và thời
gian, có thể diễn ra trong một ngày hay kéo dài hàng năm, có thể diễn ra trên phạm vi
lãnh thổ một quốc gia hay nhiều quốc gia khác nhau. Do đó, bản chất của hoạt động
xuất khẩu cũng tồn tại hai quan điểm:
 Theo quan niệm cổ điển
Trong thương mại quốc tế cổ điển, hoạt động xuất khẩu chỉ là xuất khẩu hàng hoá
đơn thuần. Là hoạt động phát sinh tự phát giữa cả hai bên tham gia và cùng thu lợi
SV: Nguyễn Thuý Quỳnh- K43E5 Trường Đại học Thương Mại
GVHD: Th.S Phan Thu Giang Chuyên đề tốt nghiệp
nhuận. Các nhà XNK chỉ hướng vào lợi thế so sánh mà trong TMQT cổ điển là lợi thế
so sánh tĩnh.
- Theo như quan điểm của lợi thế so sánh của nhà kinh tế học người Anh David
Ricardo, ông cho rằng nếu một quốc gia có hiệu quả thấp hơn so với hiệu quả
của quốc gia khác trong việc sản xuất tất cả các loại sản phẩm thì quốc gia đó
vẫn có thể tham gia vào hoạt động xuất khẩu, quốc gia đó sẽ tham gia vào việc
sản xuất và xuất khẩu các loại hàng hóa mà việc sản xuất ra chúng ít bất lợi nhất.
- Học thuyết Hecksher- Ohlin phát biểu: Một nước sẽ xuất khẩu loại hàng hoá mà
việc sản xuất ra chúng sử dụng nhiều yếu tố rẻ và tương đối sẵn của nước đó và
nhập khẩu những hàng hoá mà việc sản xuất ra chúng cần nhiều yếu tố đắt và
tương đối khan hiếm ở quốc gia đó.
 Theo quan niệm hiện đại
Theo thương mại quốc tế hiện đại, xuất khẩu bao gồm cả xuất khẩu hàng hoá và
xuất khẩu dich vụ. Hoạt động xuất khẩu diễn ra một cách đa dạng, nhanh chóng và tiện
lợi hơn rất nhiều so với trong TMQT cổ điển.

đầu tư các nguồn lực và cố gắng phát triển một tổ chức xuất khẩu.
- Hợp tác xuất khẩu:
Với một công ty mong muốn kiểm soát ở mức độ nào đó hoạt động xuất khẩu
nhưng lại hạn chế nguồn lực hoặc khối lượng bán không đủ lớn để thiết lập một bộ phận
xuất khẩu thì hợp tác xuất khẩu cũng là một sự lựa chọn thích hợp. trong trường hợp
này công ty thỏa thuận hợp tác với một công ty khác để phối hợp các hoạt động nghiên
cứu, xúc tiến thương mại, vận tải, phân phối và các hoạt động khác liên quan đến thị
trường xuất khẩu.
- Xuất khẩu trực tiếp:
Khi khối lượng xuất khẩu đủ lớn và công ty mong muốn tập trung nguồn lực của
mình vào phát triển thị trường quốc tế thì việc thiết lập tổ chức xuất khẩu là thích hợp.
Tổ chức này có thể bố trí ở trong nước hoặc thị trường nước ngoài. Trường hợp này, tổ
chức xuất khẩu đảm nhiệm tất cả các chức năng xuất khẩu, từ việc xác định thị trường
tiềm năng, phân đoạn thị trường, thu xếp thủ tục, chứng từ xuất khẩu, vận tải cho đến
hoạch định, triển khai kế hoạch marketing cho thị trường quốc tế.
 Hoạt động xuất khẩu có thể bị tác động bởi:
- Các nhân tố về Luật pháp- Chính trị và Văn hoá- Xã hội.
- Tình trạng kinh tế của các quốc gia nhập khẩu.
- Các nhân tố kỹ thuật, công nghệ, hạ tầng cơ sở và các yếu tố tự nhiên.
- Khả năng tài chính của doanh nghiệp.
- Tiềm năng con người và trình độ quản lý, tổ chức của doanh nghiệp.
SV: Nguyễn Thuý Quỳnh- K43E5 Trường Đại học Thương Mại
GVHD: Th.S Phan Thu Giang Chuyên đề tốt nghiệp
- Vị trí địa lý…
Trong đó bị tác động bởi tình trạng kinh tế của các quốc gia là khá quan trọng. Vì
vậy, khi các quốc gia lâm vào tình trạng khủng hoảng kinh tế thì hoạt động xuất khẩu
cũng rơi vào tình trạng khó khăn.
1.5.3 Giải pháp hạn chế ảnh hưởng của suy thoái kinh tế tới kinh doanh xuất khẩu
1.5.3.1 Ảnh hưởng của suy thoái tới hoạt động xuất khẩu
Mỗi cuộc suy thoái đều có tác động nhất định tới các lĩnh vực của đời sống, kinh tế,

tức thì của các đơn đặt hàng, chính vì vậy nên họ phải trữ hàng. Và thời điểm trữ hàng
thì họ mua nó với giá khác nhưng khi bán đi thì trong giai đoạn suy thoái hầu hết các
mặt hàng đều bị hạ giá. Tình cảnh này khiến cho nhà xuất khẩu bán được hàng nhưng
cũng không có lãi mà thậm chí là lỗ.
- Tác động cuối cùng là đầu tư. Hoạt động xuất khẩu nhiều khi phụ thuộc vào nguồn
vốn của nước ngoài. Khi gặp khó khăn, trong khi hoạt động kinh doanh cần thêm vốn
thì các nhà đầu tư lại tìm mọi cách để rút vốn về vì chính họ cũng đang gặp khó khăn
trong hoạt động kinh doanh của họ. Việc này dẫn tới việc các doanh nghiệp phụ thuộc
vào vốn đầu tư nước ngoài thiếu vốn để tái sản xuất kinh doanh, bù đắp những khoản lỗ
do suy thoái. Trong giai đoạn này, sự đình trệ, phá sản của hoạt động xuất khẩu là điều
khó tránh khỏi nếu không có các biện pháp thích hợp và linh hoạt.
Tóm lại, khi toàn cầu hoá diễn ra mạnh mẽ thì việc xuất khẩu vào thị trường các
nước trên thế giới càng trở lên dễ dàng hơn nhưng những ảnh hưởng của nó ngược lại
cũng không nhỏ. Một khi khủng hoảng kinh tế toàn cầu xảy ra thì chính hoạt động xuất
khẩu phải gánh chịu tác động nặng nề nhất.
1.5.3.2 Giải pháp hạn chế ảnh hưởng của suy thoái kinh tế tới xuất khẩu
Suy thoái kinh tế đã tác động rất lớn tới nền kinh tế của các nước trên Thế giới,
đặc biệt là trong lĩnh vực xuất nhập khẩu. Vì vậy, chúng ta cần có những giải pháp để
hạn chế ảnh hưởng của nó tới hoạt động xuất nhập khẩu. Dưới đây là một vài giải pháp
được các doanh nghiệp xuất khẩu áp dụng trong giai đoạn suy thoái kinh tế toàn cầu:
-Khai thác và mở rộng thị phần tại thị trường nội địa là một trong những giải
pháp hữu hiệu giúp các doanh nghiệp hạn chế được sự tác động bất lợi từ bên ngoài.
Trong điều kiện suy thoái kinh tế toàn cầu sản xuất hướng tới thị trường trong
nước trở thành xu hướng phổ biến đối với những quốc gia có thị trường nội địa rộng
lớn. Vì vậy, các doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu nên chuyển hướng tập trung vào
thị trường trong nước. Cách chuyển hướng này là cần thiết không những để duy trì sản
xuất kinh doanh khi xuất khẩu gặp khó khăn mà còn là cơ hội để thâm nhập và mở rộng
thị trường trong nước đầy tiềm năng. Hơn nữa cần nâng cao khả năng cạnh tranh của
SV: Nguyễn Thuý Quỳnh- K43E5 Trường Đại học Thương Mại
GVHD: Th.S Phan Thu Giang Chuyên đề tốt nghiệp

này, không nên chỉ trông chờ vào kinh phí hỗ trợ từ phí chính phủ như hiện nay.
- Các giải pháp khác
SV: Nguyễn Thuý Quỳnh- K43E5 Trường Đại học Thương Mại
GVHD: Th.S Phan Thu Giang Chuyên đề tốt nghiệp
Để góp phần tháo gỡ khó khăn do thị trường xuất khẩu bị thu hẹp, các doanh
nghiệp cần đẩy mạnh công tác nghiên cứu và dự báo thị trường để chủ động trong sản
xuất và xuất khẩu hàng hoá, cũng như đưa ra các chiến lược phù hợp với tình hình hội
nhập kinh tế như hiện nay. Trong điều kiện cạnh tranh ngày càng gay gắt thì các doanh
nghiệp cần tập trung nguồn lực vào đầu tư nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ,
cải tiến kỹ thuật để nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng cao năng suất lao động, tạo ra
những mặt hàng xuất khẩu có hàm lượng giá trị cao.
Tóm lại, để vượt qua những khó khăn và trở ngại của cuộc khủng hoảng kinh tế
thế giới, duy trì và tiếp tục đẩy mạnh tốc độ tăng trưởng xuất khẩu hàng hoá, bên cạnh
các biện pháp khai thác hợp lý tiềm năng nội lực để phát triển sản xuất, gia tăng khối
lượng và chất lượng hàng hoá, còn cần phải áp dụng một cách đồng bộ các biện pháp
này với việc đẩy mạnh xuất khẩu theo từng thị trường và khách hàng hợp lý. Song song
với nỗ lực của doanh nghiệp cũng cần có sự quan tâm của ban ngành lãnh đạo các cấp
và Chính phủ.
SV: Nguyễn Thuý Quỳnh- K43E5 Trường Đại học Thương Mại
GVHD: Th.S Phan Thu Giang Chuyên đề tốt nghiệp
Chương II
Phương pháp nghiên cứu và thực trạng ảnh hưởng của suy thoái
kinh tế tới kinh doanh xuất khẩu gạch ngói của CTCP Viglacera
Hạ Long sang thị trường các nước châu Á
2.1 Phương pháp nghiên cứu các vấn đề
2.1.1 Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp
• Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp qua phỏng vấn
Chuyên đề xây dựng bảng câu hỏi phỏng vấn bao gồm 6 câu hỏi và phỏng vấn 3
người là Tổng giám đốc của công ty, người đưa ra các quyết định, cũng như đưa ra
phương hướng hoạt động cho công ty. Người được phỏng vấn tiếp theo là Giám đốc

giảm 7,6 % so với năm 2008 xuống còn 1.229 tỷ tấn. Sản lượng này bị giảm đáng kể
trong 2 năm liên tiếp. Nhưng cho đến năm 2010- nền kinh tế thế giới trên đà phục hồi,
sản lượng thép tăng 15% so với năm 2009 đạt 1.414 tỷ tấn. Và tính đến quý I năm 2011
thì sản lượng này đã đạt được 372 triệu tấn- tăng 8,8% so với cùng kỳ năm trước. Các
sản phẩm nông nghiệp cũng có sản lượng giảm…
Trong giai đoạn suy thoái kinh tế đó, thương mại toàn cầu sụt giảm: lạm phát gia
tăng, cầu về các loại hàng hoá giảm, tiêu dùng tư nhân, đầu tư của các công ty và các
hoạt động sản xuất cùng giảm, dẫn tới sụt giảm trong nhập khẩu các loại hàng hoá trên
thị trường. Hai đầu máy của kinh tế thế giới tăng trưởng chậm lại là cho cầu của các loại
hàng hoá như dầu, thực phẩm và khoáng sản sụt giảm mạnh. Điều này tất yếu sẽ tác
động tiêu cực tới xuất khẩu và tăng trưởng của các nước xuất khẩu các mặt hàng này ở
châu Á, châu Phi và châu Mỹ- Latinh. Tăng trưởng kinh tế ở các nước lớn như Mỹ và
Nhật Bản ở mức thấp nhất 7 năm qua.
Các nền kinh tế đang phát triển chỉ đạt mức tăng trưởng 6,6% thấp hơn so với mức
8% năm 2007. Trong bối cảnh suy thoái, các gói giải pháp theo hướng bơm tiền vào nền
kinh tế được áp dụng rộng khắp. Nhiều gói có quy mô lớn như gói giải pháp 800 tỷ
USD của Mỹ, gói phục hồi kinh tế 260 tỷ USD của EU. Các nhà phân tích nhận định
rằng năm 2009 là năm đầu tiên toàn cầu bị suy thoái trầm trọng kể từ sau cuộc Đại suy
thoái hồi thập niên 1930 của thế kỷ XX. Đến năm 2010 thì mức tăng trưởng kinh tế thế
giới đạt 4,2%, các nước phát triển là 2,3%, thị trường mới nổi và các nước đang phát
triển là 6,3%- nền kinh tế toàn thế giới đang dần phục hồi. Năm 2011 kinh tế thế giới
tiếp tục tăng trưởng, nhưng ở mức khiêm tốn, chưa có bước đột phá, vẫn tiềm ẩn nguy
cơ tái khủng hoảng Vì thế, khách quan đòi hỏi các nước trên thế giới phải có có sự
SV: Nguyễn Thuý Quỳnh- K43E5 Trường Đại học Thương Mại
GVHD: Th.S Phan Thu Giang Chuyên đề tốt nghiệp
phối hợp với nhau cao hơn nữa thì mới có thế cân bằng, tạo cơ sở phục hồi và phát triển
bền vững của nền kinh tế thế giới năm 2011 và những năm tiếp sau.
2.2.1.2 Thị trường châu Á trong bối cảnh suy thoái kinh tế thế giới.
Có thể nói châu Á là thị trường xuất khẩu lớn- nó chiếm kim ngạch xuất khẩu lớn
trong hoạt động xuất khẩu của nước ta. Hiện nay châu Á là thị trường tiêu dùng mà bất

trường tài chính Hoa Kỳ, Châu Âu và Nhật Bản mà đây lại là thị trường xuất khẩu chính
của Việt Nam. Chính vì vậy mà khi nền kinh tế của ba khu vực này bị suy thoái, Việt
Nam cũng không nằm ngoài vùng ảnh hưởng. Nhu cầu giảm mạnh và xu hướng giảm
giá toàn cầu đã làm cho giá trị kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam giảm sút khá mạnh.
Tác động của cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu đã bắt đầu thể
hiện trong hoạt động xuất khẩu của các doanh nghiệp Việt Nam. Hầu hết các mặt hàng xuất
khẩu đồng loạt giảm giá mạnh, đặc biệt ở mặt hàng dầu thô, nông sản,thủy sản…
Theo báo cáo của Chính phủ ngày 18/12/2008, kim ngạch xuất khẩu những tháng
cuối cùng của năm 2008 đã biểu hiện sự sụt giảm rõ nét. Kim ngạch tháng 10 giảm
3,3% so với tháng 9, và tháng 11 giảm 4,8% so với tháng 10. Kim ngạch hàng hóa xuất
khẩu tháng 1/2009 ước tính chỉ đạt 3,8 tỷ USD, giảm 18,6% so với tháng 12/2008 và
giảm 24,2% so với cùng kỳ năm trước. So với cùng kỳ năm 2008, hầu hết các mặt hàng
đều có sự giảm sút kim ngạch trong tháng 1/2009. Tác động mà khủng hoảng kinh tế
gây ra trực tiếp đối với lĩnh vực xuất khẩu là do nhu cầu tiêu dùng giảm. Hàng loạt các
hệ thống bán lẻ bị phá sản dẫn đến nhu cầu nhập khẩu bị giảm sút nghiêm trọng. Không
chỉ có vậy mà suy thoái kinh tế còn ảnh hưởng mạnh mẽ tới cung cầu đồng USD ở Việt
Nam, gây ra nhiều tác động tới tỷ giá hối đoái và làm ảnh hưởng tới hoạt động xuất
khẩu. Năm 2010 thì kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam đạt 71,6 tỷ USD- tăng đáng kể
so với năm 2009. Và tính đến hết quý I/2011 thì kim ngạch xuất khẩu thu được 19,6 tỷ
USD. Quý I/2011, hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu của Việt Nam ghi nhận sự tăng
mạnh về kim ngạch trong buôn bán với các thị trường châu Á, châu Mỹ và châu Phi.
2.2.1.4 Thị trường vật liệu xây dựng Việt Nam trong bối cảnh suy thoái
Đặc tính nổi bật của ngành là nhạy cảm với chu kỳ kinh doanh của nền kinh tế vĩ
mô. Khi nền kinh tế tăng trưởng, doanh số và lợi nhuận của các công ty trong ngành sẽ
tăng cao. Sở dĩ như vậy vì ngành vật liệu xây dựng là đầu vào của các ngành khác.
Chẳng hạn như sắt, thép, xi măng là đầu vào cho các công trình nhà xưởng, cao ốc, cầu
đường…của ngành xây dựng. Khi mà cuộc suy thoái diễn ra thì hầu như sự đầu tư cho
xây dựng bị thu hẹp lại. Chính vì vậy mà doanh thu, cũng như lợi nhuận của các công ty
sản xuất, kinh doanh mặt hàng xây dựng bị giảm sút.
Năm 2009 là năm gặp không ít các khó khăn của các công ty trong ngành do ảnh

 Địa chỉ : Phường Hà khẩu-Hạ Long-Quảng Ninh
 Điện thoại : 84.33.3 845927
 Fax : 84.33.3 846 577
 Email :
 Website : www.halongceramic.com.vn
SV: Nguyễn Thuý Quỳnh- K43E5 Trường Đại học Thương Mại
GVHD: Th.S Phan Thu Giang Chuyên đề tốt nghiệp
 Sơ đồ tổ chức công ty ( Phụ lục 1)
Tiền thân là Nhà máy gạch Hạ Long gồm một nhà máy gạch do nước cộng hoà Ba
Lan giúp xây dựng vào năm 1978. Cùng với quá trình hiện đại hoá- công nghiệp hoá đất
nước thì công ty đã phát triển, mở rộng quy mô và lĩnh vực hoạt động sản xuất. Tính
đến năm 2006 với chủ trương chính sách của Đảng và nhà nước thì công ty đã chuyển
đổi từ Công ty Nhà nước sang loại hình CTCP với tên là CTCP Viglacera Hạ Long.
CTCP Viglacera Hạ Long có chức năng là chuyên sản xuất các sản phẩm gạch
ngói đất sét nung cao cấp phục vụ trong nước và xuất khẩu. Nhiệm vụ của công ty là
thực hiện sản xuất kinh doanh theo các chỉ tiêu kế hoạch được giao theo hướng sản xuất
kinh doanh có hiệu quả, tự tích luỹ để phát triển, thực hiện nghĩa vụ đối với nhà nước,
bảo toàn và phát triển vốn, chăm lo tới đời sống công nhân viên chức trong Công ty.
Với những đóng góp to lớn trong quá trình bảo vệ, xây dựng và phát triển đất
nước, CTCP Viglacera Hạ Long đã vinh dự được Đảng và Nhà nước trao tặng nhiều
danh hiệu cao quý như: Danh hiệu anh hùng lao động thời kỳ đổi mới( 04/2008); Giải
thưởng Quốc tế Châu Á- Thái Bình Dương 2010, Huân chương lao động hạng III- Công
đoàn( 2005); Huân chương lao động hạng III- Chính quyền( 2004),…v…v…
2.2.2.2 Các nhân tố nội tại
CTCP Viglacera Hạ Long là công ty chuyên sản xuất và kinh doanh sản phẩm
gạch ngói đất sét nung cao cấp có kinh nghiệm và uy tín lớn ở Việt Nam, và là một
thương hiệu đáng tin cậy của nhiều nước trên Thế giới. Nằm trong tốp 500 doanh
nghiệp hàng đầu Việt Nam, công ty được đánh giá là đơn vị hàng đầu của Tổng công ty
thuỷ tinh và gốm xây dựng- Bộ xây dựng nói riêng và của ngành vật liệu xây dựng Việt
Nam nói chung.

công ty luôn sạch sẽ. Sau giờ làm, công nhân có thể được tắm giặt ngay tại khu nhà “
Tắm- Gội- Sấy khô” của công ty Còn rất nhiều điều mà Viglacera đã làm để chăm sóc
tới đời sống của cán bộ công nhân viên công ty.
CTCP Viglacera Hạ Long đã xây dựng cho mình một cơ cấu quản lý, tổ chức
hoạt động chuyên nghiệp và hiện đại. Mỗi phòng ban chịu trách nhiệm về một mảng
chuyên biệt. Nhưng các phòng ban trong công ty hoạt động mật thiết với nhau, cùng
nhau phát triển đưa công ty ngày một đi lên.
2.3 Thực trạng ảnh hưởng của suy thoái kinh tế thế giới tới kinh doanh xuất khẩu
gạch ngói của CTCP Viglacera Hạ Long sang thị trường các nước châu Á
2.3.1 Kết quả phân tích các dữ liệu sơ cấp
2.3.1.1 Kết quả phỏng vấn
Phiếu phỏng vấn được xây dựng với 4 nội dung về tác động của suy thoái tới hoạt
động xuất khẩu; tình hình công ty trong thời kỳ khủng hoảng; những giải pháp khắc
SV: Nguyễn Thuý Quỳnh- K43E5 Trường Đại học Thương Mại
GVHD: Th.S Phan Thu Giang Chuyên đề tốt nghiệp
phục, định hướng của công ty và đánh giá những giải pháp của nhà nước ( xem phụ lục
2) và có kết quả thu được như sau:
- Với nội dung thứ nhất
Khi được hỏi về tác động của suy thoái kinh tế đến hoạt động xuất khẩu của công
ty thì những người được phỏng vấn đều đánh giá rằng: nhìn chung, công ty đã bị các tác
động không nhỏ về doanh thu từ hạt động xuất khẩu. Suy thoái kinh tế thế giới đã làm
cho giá trị xuất khẩu của công ty năm 2009 so với năm 2008 giảm sút đáng kể. Nguyên
nhân dẫn tới việc này là số lượng đơn đặt hàng bị giảm đáng kể trong giai đoạn này,
nhiều đơn đặt hàng bị huỷ bỏ. Hơn thế nữa, công tác ký kết hợp đồng giữa công ty với
các đối tác lớn ở thị trường chủ chốt- châu Á diễn ra một cách nhỏ lẻ, manh mún.
- Với nội dung thứ hai
Tình hình cụ thể của công ty dưới tác động của suy thoái kinh tế. Trả lời cho câu
hỏi về tình hình hoạt động kinh doanh xuất khẩu của công ty trước và sau khi có suy
thoái. Những người được phỏng vấn cho rằng: Tổng giá trị xuất khẩu năm 2009 so với
năm 2008 sụt giảm đáng kể. Mọi ý kiến đều cho rằng nguyên nhân của tình trạng này là

kinh tế trên thế giới. Đồng thời họ cũng đánh giá cao những biện pháp giảm thuế, giãn
nợ cho doanh nghiệp đang gặp khó khăn, những biện pháp này đem lại lợi ích trực tiếp
cho mỗi doanh nghiệp xuất khẩu nói chung cũng như CTCP Viglacera Hạ Long nói
riêng. Tuy vậy, công ty cũng gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp nhận các nguồn vốn ưu
đãi của chính phủ do hệ thống chính sánh chưa hoàn chỉnh.
2.3.1.2 Kết quả điều tra trắc nghiệm
Phiếu điều tra trắc nghiệm bao gồm 10 câu hỏi về những vấn đề liên quan đến tác
động của suy thoái kinh tế tới hoạt động xuất khẩu của công ty ( xem phụ lục 3) và thu
được những kết quả như sau:
- Khi hỏi về suy thoái kinh tế có ảnh hưởng tới hoạt động xuất khẩu gạch ngói của
công ty nói chung và hoạt động xuất khẩu của công ty sang thị trường các nước châu Á
thì 100% người được điều tra đều trả lời Có. Nguyên nhân của sự ảnh hưởng đó thì thì
được đánh giá khác nhau do quan điểm của mỗi người. Có đến 9 người trên tổng số 10
người được điều tra trắc nghiệm cho rằng nguyên nhân là do nhu cầu tiêu dùng của
người dân tại khu vực này giảm, chiếm 90% tổng số phiếu được hỏi; 60% ý kiến cho
rằng nguyên nhân là do các bạn hàng gặp khó khăn về nguồn vốn; 70% ý kiến cho là do
người tiêu dùng chuyển sang tiêu dùng các mặt hàng thiết yếu hơn.
- Đối với câu hỏi về doanh thu xuất khẩu nói chung và doanh thu của sản phẩm
gạch ngói tại thị trường châu Á có thay đổi không thì tất cả những người được điều tra
đều trả lời Có. Cụ thể theo bảng sau:
SV: Nguyễn Thuý Quỳnh- K43E5 Trường Đại học Thương Mại
GVHD: Th.S Phan Thu Giang Chuyên đề tốt nghiệp
Bảng 2.1: Kết quả điều tra về mức giảm của năm 2009 so với năm 2008 về doanh
thu nói chung và doanh thu của gạch ngói tại thị trường các nước châu Á
Khoảng sụt giảm Sự giảm doanh thu XK tại
thị trường châu Á
Sự giảm doanh thu của gạch
ngói tại thị trường châu Á
Số phiếu
chọn

thời các biện pháp: có các chương trình khuyến mại, hỗ trợ thanh toán, tích cực tham
gia các hội chợ, triển lãm trong nước và quốc tế, tìm kiếm thị trường mới và áp dụng
các biện pháp phòng ngừa rủi ro để tăng doanh thu trong giai đoạn hiện nay.
2.3.2 Kết quả phân tích các dữ liệu thứ cấp
SV: Nguyễn Thuý Quỳnh- K43E5 Trường Đại học Thương Mại
GVHD: Th.S Phan Thu Giang Chuyên đề tốt nghiệp
Những dữ liệu thứ cấp là dữ liệu do công ty cung cấp mang tính khách quan. Tác
giả lựa chọn một số dữ liệu có thể làm rõ hơn hoạt động xuất khẩu của công ty trong
giai đoạn suy thoái. Dưới đây là số liệu tác giả lựa chọn dùng để phân tích:
Bảng 2.3: Số liệu tác giả sử dụng phân tích
( Đơn vị: USD)
GIÁ TRỊ NĂM 2007 NĂM 2008 NĂM 2009 NĂM 2010
Tổng giá trị XK 2 657.977 3.742.593 3.507.080 3.676.576
Giá trị XK vào TTCA 2.480.768 3.105.624 2.965.395 3.505.536
Giá trị XK gạch ngói vào TTCA 283.272 486.615 268.176 431.577
Giá trị XK của Ngói hài vuông M33
vào TTCA
30.262 34.500 33.120 35.038
Giá trị XK của Ngói vảy cá M07
vào TTCA
198.067 330.552 194.569 288.632
Giá trị XK Ngói M8 vào TTCA 30.124 82.586 8.546 76.658
Giá trị XK các loại ngói khác vào
TTCA
24.819 38.977 31.941 31.294
Giá trị XK ngói từ Campuchia 116.224 207.683 98.574 181.658
Giá trị XK ngói từ Lào 80.576 141.668 78.252 126.945
Giá trị XK ngói từ Myanmar 49.857 88.276 46.293 80.250
Giá trị XK ngói từ các quốc gia khác 36.615 48.988 45.057 42.724
Nguồn: Số liệu tổng hợp từ Báo cáo xuất khẩu phòng Xuất nhập khẩu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status