TÓM LƯỢC
Suy thoái kinh tế toàn cầu giai đoạn 2008 – 2012 làm suy giảm tốc độ tăng
trưởng kinh tế các nước trên toàn thế giới. Nền kinh tế Việt Nam cũng vì thế mà chịu
không ít ảnh hưởng. Suy thoái kinh tế ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động sản xuất
cũng như tiêu thụ sản phẩm của các doanh nghiệp trên thị trường Việt Nam. Việc duy
trì sản xuất, đẩy mạnh tiêu thụ, thu lại lợi nhuận là một bài toán khó với các doanh
nghiệp trong thời điểm nền kinh tế có nhiều biến động như hiện nay. Qua nghiên cứu,
kết hợp với thực tiễn thực tập tại công ty TNHH Vina taiyo Spring, tôi đã chọn đề tài :
“Ảnh hưởng của suy thoái kinh tế đến tiêu thụ sản phẩm của công ty TNHH Vina
taiyo Spring”.
Về lý thuyết, đề tài nêu rõ các khái niệm về suy thoái kinh tế, tiêu thụ sản phẩm,
nguyên nhân và ảnh hưởng của suy thoái kinh tế đến tiêu thụ sản phẩm của các doanh
nghiệp, tạo cơ sở cho việc nghiên cứu tìm ra giải pháp giúp doanh nghiệp giữ vững và
đẩy mạnh hoạt động tiêu thụ sản phẩm của mình khi suy thoái kinh tế xảy ra.
Về thực tiễn, đề tài nêu rõ thực trạng tình hình tiêu thụ sản phẩm của công ty và
những ảnh hưởng của suy thoái kinh tế đến hoạt động tiêu thụ sản phẩm của công ty.
Thông qua quá trình nghiên cứu, tìm hiểu, phân tích các số liệu thu thập được mà đưa
ra những thành công và hạn chế công ty đã làm được trong công tác thực hiện các biện
pháp nhằm giảm thiểu sức ảnh hưởng của suy thoái kinh tế và đẩy mạnh tiêu thụ sản
phẩm. Từ đó đề xuất các giải pháp khắc phục những khó khăn công ty còn mắc phải
và hướng giải quyết giúp đẩy mạnh sức cạnh tranh và tiêu thụ sản phẩm trên thị
trường.
1
1
LỜI CẢM ƠN
Sau quá trình nghiên cứu tìm hiểu và viết về đề tài “ Ảnh hưởng của suy thoái
kinh tế đến tiêu thụ sản phẩm của công ty TNHH Vina taiyo Spring”, tôi đã hoàn
thành bài nghiên cứu của mình. Để có được thành quả này tôi xin cảm ơn Nhà trường
và công ty TNHH Vina taiyo Spring đã tạo điều kiện cho tôi hoàn thành bài nghiên
cứu. Cảm ơn các thầy cô ở bộ môn Kinh tế vĩ mô đã giúp tôi có những kiến thức
chuyên ngành, là nền tảng vững chắc để vận dụng vào bài ngiên cứu. Xin cảm ơn các
4
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Suy thoái kinh tế toàn cầu 2008-2012 là cuộc suy thoái kinh tế và suy giảm tốc
độ tăng trưởng kinh tế diễn ra đồng thời ở nhiều nước, nhiều khu vực trên thế giới. Nó
bắt nguồn từ Mỹ từ năm 2008 từ cuộc khủng hoảng tài chính và đã nhanh chóng lan
rộng ra toàn cầu, kéo theo đó là tình trạng suy thoái diễn ra trên toàn thế giới. Tại Mỹ,
đội ngũ thất nghiệp năm 2009 tăng gấp đôi so với năm 2008 và có tiếp tục gia tăng
trong những năm tiếp theo. Các nền kinh tế lớn như Nhật Bản, Ấn Độ và các quốc gia
châu Âu cũng đứng trước tình trạng nền kinh tế suy thoái trầm trọng nhất từ sau chiến
tranh thế giới thứ II trở lại đây.
Suy thoái kinh tế tác động trực tiếp đến mọi mặt cũng như mọi lĩnh vực của đời
sống xã hội, không ngoại trừ một quốc gia nào. Nền kinh tế Việt Nam đang ngày càng
hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới, nhất là từ khi Việt Nam gia nhập tổ chức
thương mại thế giới (WTO) nên khó có thể tránh khỏi những tác động của suy thoái
kinh tế toàn cầu. Trong đó, ngành công nghiệp tại Việt Nam cũng bị ảnh hưởng khá
nhiều, ảnh hưởng đến cả đầu vào và đầu ra của ngành. . Nguyên nhân là do giá của
thiết bị, hàng hóa nhập khẩu tăng giảm theo chiều hướng khó dự đoán và kiểm soát.
Thêm vào đó là tình trạng tỷ lệ thất nghiệp ngày càng tăng cao cùng với những lo ngại
về sự xấu đi của nền kinh tế trong tương lai gần buộc người dân phải cắt giảm chi tiêu
và ưu tiên hơn đối với những mặt hàng thiết yếu, dẫn đến nhu cầu tiêu dùng bị co lại.
Những tác động tiêu cực của suy thoái kinh tế đến Việt Nam đã khiến cho các
doanh nghiệp đang phải đối mặt với nhiều khó khăn thách thức nhưng cũng có không
ít cơ hội.Thông qua việc điều tra, phỏng vấn, thu thập nguồn dữ liệu, phân tích những
đặc điểm về tình hình hoạt động sản xuất và tiêu thụ của công ty trách nhiệm hữu hạn
Vina taiyo Spring,tôi nhận thấy khó khăn cũng như thuận lợi mà công ty gặp phải
trong giai đoạn suy thoái kinh tế là: Cạnh tranh trong ngành tăng cao, nhu cầu sử dụng
mặt hàng liên quan đến sản phẩm của công ty có xu hướng giảm do người dân cắt
giảm chi tiêu, cơ hội tuyển dụng lao động có chất xám có năng lực tốt hơn, mặt bằng
kinh doanh thuận lợi hơn.
6
- “Tác động của suy thoái kinh tế tới hoạt động xuất khẩu hàng thủ công mỹ
nghệ của công ty thủ công mỹ nghệ Artexport Việt Nam sang thị trường Nhật Bản và
các giải pháp khắc phục” - Nguyễn Hoàng Lương - 2009.
Nội dung: Luận văn đi sâu vào nghiên cứu những tác động của suy thoái kinh tế tới
hoạt động xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của công ty TCMN Artexport Việt Nam
sang thị trường Nhật Bản để từ đó đưa ra những giải pháp khắc phục tình trạng đó.
- “Một số giải pháp kích cầu nhằm hạn chế sự ảnh hưởng của suy thoái kinh tế
đến hoạt động kinh doanh nhập khẩu thiết bị văn phòng trên địa bàn Hà Nội”-Trịnh
Thị Huyền - 2009.
Nội dung: Suy thoái kinh tế đã có những tác động tiêu cực đến nền kinh tế, làm
giảm nhu cầu của thị trường đối với mặt hàng thiết bị văn phòng trong cả nước nói
chung và trên địa bàn Hà Nội nói riêng. Mục đích của luận văn là nghiên cứu những
tác động này và qua đó đề xuất một số giải pháp kích cầu đối với mặt hàng thiết bị văn
phòng nhập khẩu trên địa bàn Hà Nội.
- “Tác động của suy thoái kinh tế thế giới tới hoạt động sản xuất kinh doanh
của Công ty TNHH Trường Giang ”- Nguyễn Quốc Chỉnh - Đại học Nông Nghiệp
Hà Nội - 2011.
Nội dung: Phân tích và đánh giá những ảnh hưởng của suy thoái kinh tế thế giới
đến hoạt động sản xuất kinh doanh vận chuyển hành khách và mua bán xe ôtô và phụ
tùng ôtô. Qua những kết quả thu được đề xuất các giải pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động
sản xuất kinh doanh của công ty TNHH Trường Giang.
- “Tác động của khủng hoảng kinh tế toàn cầu tới thị trường hàng hoá dịch vụ
xuất khẩu của Việt Nam( Tổng quan, dệt may, giày dép, sản phẩm gỗ) – Nguyễn Thị
Mai – Học Viện Tài Chính.
Nội dung: Phân tích những nhân tố tác động của cuộc khủng hoảng đến các sản
phẩm dệt may, da giầy và đồ gỗ xuất khẩu của Việt Nam và kiến nghị một số giải pháp
hạn chế tác động tiêu cực của khủng hoảng kinh tế đến sản phẩm dệt may, da giầy và
đồ gỗ xuất khẩu của Việt Nam.
Khóa luận có thừa hưởng thành quả của các khóa luận, luận văn nói trên do có
doanh
của công ty Vina taiyo Spring giai đoạn 2008-2012 .
• Phương pháp phân tích
Từ những kết quả thu thập được qua việc thu thập số liệu thứ cấp trên
tôi đã sử dụng phương pháp tổng hợp, phân tích, so sánh các chỉ tiêu kinh tế
biến đổi của công ty Vina taiyo Spring, phương pháp phân tích chủ yếu là
phương pháp so sánh phân tích của các chỉ tiêu của công ty trong các thời kì
khác nhau.
8
8
5. Kết cấu khóa luận tốt nghiệp
Ngoài mục lục, các danh mục bảng biểu, sơ đồ, hình vẽ, từ viết tắt, tài liệu tham
khảo và phụ lục, luận văn bao gồm 4 nội dung chính sau:
- Lời mở đầu
Nêu tính cấp thiết nghiên cứu của đề tài, xác lập và tuyên bố vấn đề, đưa ra các
mục tiêu và phạm vi nghiên cứu của luận văn.
- Chương I: : một số lí luận cơ bản của ảnh hưởng của suy thoái kinh tế đến tiêu thụ
sản phẩm của công ty TNHH Vina taiyo Spring.
Khái quát các vấn đề lý luận cơ bản về khủng hoảng kinh tế, nguyên nhân và
ảnh hưởng của nó đến hoạt động tiêu thụ sản phẩm của các doanh nghiệp nói chung.
- Chương II: Thực trạng của công ty TNHH Vina taiyo Spring trước sức ảnh hưởng của
suy thoái kinh tế giai đoạn 2008-2012
Tìm hiểu thực trạng hoạt động của công ty Vina taiyo Spring trước suy thoái
kinh tế, phân tích và so sánh để thấy được những ảnh hưởng của suy thoái kinh tế đến
hoạt động tiêu thụ sản phẩm của công ty.
- Chương III: Kết luận và đề xuất một số giải pháp giúp công ty TNHH Vina taiyo
Spring giảm thiểu tối đa sự ảnh hưởng của suy thoái kinh tế đến việc tiêu thụ sản
phẩm của công ty.
Đưa ra các kết luận và phát hiện qua nghiên cứu về ảnh hưởng của khủng hoảng
theo đầu tư vào trang thiết bị, nhà xưởng cũng cắt giảm và kết quả là GDP thực tế
giảm sút.
- Cầu về lao động giảm, đầu tiên là số ngày làm việc của người lao động giảm xuống do
hoạt động sản xuất bị đình trệ, đầu tư bị hạn chế, tiếp theo là hiện tượng cắt giảm nhân
công và tỷ lệ thất nghiệp tăng cao.
- Khi sản lượng giảm thì lạm phát sẽ chậm lại do giá đầu vào của sản xuất giảm bởi
nguyên nhân cầu sút kém. Giá cả dịch vụ khó giảm nhưng cũng tăng không nhanh
trong giai đoạn kinh tế suy thoái.
10
10
- Lợi nhuận của các doanh nghiệp giảm mạnh, do nhu cầu giảm làm cho hàng hoá sản
xuất ra không tiêu thụ được. Nhu cầu về vốn cũng giảm đi làm cho lãi suất giảm xuống
trong thời kỳ suy thoái.
1.1.2.Nguyên nhân của các cuộc suy thoái kinh tế toàn cầu
Những nguyên nhân đích thực của suy thoái kinh tế là đối tượng tranh luận sôi
nổi giữa các nhà lý thuyết và những người làm chính sách mặc dù đa số thống nhất
rằng các kỳ suy thoái kinh tế gây ra bởi sự kết hợp của các yếu tố bên trong (nội sinh)
theo chu kỳ và các cú sốc từ bên ngoài (ngoại sinh). Ví dụ, những nhà kinh tế học chủ
nghĩa Keynes và những lý thuyết gia theo lý thuyết chu kỳ kinh tế thực sẽ bất đồng về
nguyên nhân của chu kỳ kinh tế, nhưng sẽ thống nhất cao rằng các yếu tố ngoại sinh
như giá dầu, thời tiết, hay chiến tranh có thể tự chúng gây ra suy thoái kinh tế nhất
thời, hoặc ngược lại, tăng trưởng kinh tế ngắn hạn.
Trường phái kinh tế học Áo giữ quan điểm rằng lạm phát bởi cung tiền tệ gây ra
suy thoái kinh tế ngày nay và các thời kỳ suy thoái đó là động lực tích cực theo nghĩa
chúng là cơ chế tự nhiên của thị trường điều chỉnh lại những nguồn lực bị sử dụng không
hiệu quả trong giai đoạn “tăng trưởng” hoặc lạm phát. Phần lớn học giả theo thuyết tiền tệ
tin rằng những thay đổi triệt để về cơ cấu kinh tế không phải là nguyên nhân chủ yếu,
nguyên nhân của các thời kỳ suy thoái ở Mỹ là bởi quản lý tiền tệ yếu kém.
Nhìn lại ba cuộc suy thoái kinh tế lớn nhất kể từ sau chiến tranh thế giới thứ hai
trở lại đây cho thấy rằng:
không kiểm soát được các hoạt động đầu cơ quốc tế, việc theo đuổi chính sách phát
triển kinh tế thị trường với quan điểm tự do tuyệt đối, buông lỏng vai trò quản lý, điều
tiết của nhà nước đối với thị trường là nguyên nhân cơ bản dẫn đến tình trạng khủng
hoảng. Do đó, khi thị trường tăng trưởng quá nóng và không còn tuân theo quy luật
cung cầu tất sẽ dẫn đến sự rối loạn trong hoạt động của hệ thống tài chính - ngân hàng
kéo theo đó là sự suy thoái về kinh tế.
Tóm lại, nguyên nhân của ba cuộc khủng hoảng này đều mang những điểm
tương đồng là những lỗ hổng trong hệ thống quản lý của chính phủ các quốc gia và
hậu quả đã dẫn đến những tác động xấu đối với nền kinh tế.
1.2. Lý thuyết về tiêu thụ sản phẩm
1.2.1.Khái niệm tiêu thụ sản phẩm
Tiêu thụ sản phẩm là một trong khâu quan trọng trong quá trình kinh doanh của
doanh nghiệp, đó là giai đoạn cuối cùng của sản xuất kinh doanh, là yếu tố quyết định
sự tồn tại hay phát triển của doanh nghiệp. Nếu như trong cơ chế kế hoạch hoá tập
trung, sản phẩm còn rất khan hiếm thì giám đốc cũng như ban lãnh đạo các doanh
nghiệp rất nhàn hạ, chỉ cần ký giấy phân phối sản phẩm cho các cơ quan theo chỉ tiêu.
12
12
Do vậy khái niệm tiêu thu sản phẩm chỉ dừng ở việc bán sản phẩm tới các địa chỉ, giá
cả đã được quy định trong các pháp lệnh của nhà nước. Còn trong điều kiện nền kinh
tế thị trường ngày nay, các doanh nghiệp độc lập hạch toán kinh doanh tự xác định
xem sản xuất cái gì? Sản xuât cho ai? Sản xuất như thế nào? Hoạt động gắn liền với ba
khâu: mua, sản xuất và bán. Do đó tiêu thụ thụ được hiểu theo nghĩa rộng “Đó là quá
trình tự tìm hiểu nhu cầu cả khách hàng trên thị trường, tổ chức mạng lưới phân phối,
xúc tiến tiêu thụ, hỗ trợ tiêu thụ và tới việc dịch vụ sau bán hàng “.
Như vậy tiêu thụ sản phẩm là một quá trình thực hiện quy luật giá trị. Thông
qua tiêu thụ, hàng chuyển từ hình thái hiện vật sang hình thái giá trị và một quá trình
chu chuyển của vốn sản xuất kinh doanh được hoàn thành. Quá trình tiêu thụ chỉ kết
thúc khi doanh nghiệp đã thu về giá trị bằng tiền, hiện vật khác hoặc được người mua
chấp nhận thanh toán.
- Tiêu thụ đối với xã hội .
Doanh nghiệp là một đơn vị kinh tế cơ sở nên sự lớn mạnh của doanh nghiệp
góp phần ổn định và phát triển toàn bộ nền kinh tế quốc dân, thực hiện mục tiêu chung
công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước .
Tiêu thụ là cầu nối giữa sản xuất và tiêu dùng, là thước đo đánh giá độ tin cậy
của người tiêu dùng đối với người sản xuất. Tiêu thụ được nhiều sản phẩm chứng tỏ
phạm vi phát huy của giá trị sử dụng của các sản phẩm được mở rộng, xã hội đã thừa
nhận kết quả lao động của doanh nghiệp, chấp nhận sự tồn tại của doanh nghiệp. Sự
tồn tại và phát triển đó sẽ giải quyết công ăn việc làm cho người lao động, góp phần ổn
định xã hội.
Sản phẩm của doanh nghiệp được thị trường chấp nhận có nghĩa là quá trình sản
xuất và tái sản xuất mở rộng sẽ được thực hiện, khi đó doanh nghiệp có nhu cầu sử
dụng các nguồn lực xã hội, sử dụng các sản phẩm của doanh nghiệp khác làm yếu tố
đầu vào cho mình. Do đó, sẽ thúc đẩy quá trình sản xuất của các doanh nghiệp có liên
quan cùng phát triển.
1.2.2.2. Nhiệm vụ của công tác tiêu thụ sản phẩm.
Hoạt động tiêu thụ sản phẩm là một hoạt động trọng yếu của doanh nghiệp, nó
có các nhiệm vụ sau:
- Tiêu thụ phải đảm bảo tăng phần thị trường của doanh ngiệp, từ đó tạo điều
kiện để doanh nghiệp thực hiện tốt muc tiêu gắn sản xuất với tiêu thụ, gắn kế hoạch
với thị trường, quyết định khả năng tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.
- Tiêu thụ góp phần cải thiện vị trí của doanh nghiệp trên thị trường và làm tăng
tài sản vô hình cuả doanh nghiệp. Niềm tin đích thực của người tiêu dùng đối với
14
14
doanh nghiệp và sản phẩm của doanh nghiệp tăng lên, là động lực thúc đẩy hoạt động
tiêu thụ, tạo ra nhiều của cải, tăng cơ sơ vật chất để mở rộng quy mô và nângcao hiệu
quả kinh doanh.
- Tiêu thụ là cầu nối giữa sản xuất với tiêu dùng, là thước đo đánh giá độ tin cậy
của người tiêu dùng đối với người sản xuất. Tiêu thụ được nhiều sản phẩm chứng tỏ
nhu cầu của họ, tới chất lượng mà nó có. Trong điều kiện hiện tại chất lượng là yếu tố
quan trọng bậc nhất mà các doanh nghiệp lớn thường sử dụng trong cạnh tranh vì nó
đem lại khả năng “chiến thắng vững chắc”. Đây cũng là con đường mà doanh nghiệp
thu hút khách hàng và tạo dựng, giữ gìn chữ tín tốt nhất. Bất kỳ một sản phẩm hàng
hóa nào được chào bán trên thị trường đều chứa đựng một giá trị sử dụng nhất định,
các sản phẩm đồng loại nhưng được sản xuất từ các doanh nghiệp khác nhau sẽ có chất
lượng khác nhau và sản phẩm của doanh nghiệp nào có chất lượng cao hơn sẽ thu hút
được nhiều khách hàng về mình. Khi khách hàng biết đến chất lượng sản phảm hàng
hóa của doanh nghiệp và tin vào chất lượng thì họ sẽ mua hàng của doanh nghiệp.
Điều đó cho thấy doanh nghiệp không chỉ bán được hàng duy trì được thị trường
truyền thống mà còn mở rộng được thị trường mới, củng cố thêm vị trí của doanh
nghiệp trên thị trường.
Mục tiêu cao nhất của doanh nghiệp là mục tiêu lợi nhuận nhưng để đạt được
lợi nhuận thì doanh nghiệp phải tiêu thụ được hàng hóa và thu tiền về tức là được
khách hàng chấp nhận. Muốn vậy ngoài yếu tố giá cả doanh nghiệp phải chú trọng tới
yếu tố chất lượng, chính chất lượng sản phẩm có thể tạo nên vị thế cững chắc của sản
phẩm trên thị trường. Đồng thời chất lượng sẽ thu hút khách hàng lâu dài, bền vững và
làm cho khách hàng trung thành với sản phẩm hàng hóa của doanh nghiệp.
• Cơ cấu mặt hàng.
Cơ cấu mặt hàng có ảnh hưởng tới tốc độ tiêu thụ hàng hóa của doanh nghiệp
bởi vì nhu cầu tiêu dùng trên thị rất đa dạng, phong phú, như vậy để đáp ứng nhu cầu
hơn nữa và tăng tốc độ tiêu thụ của đoanh nghiệp cần có cơ cấu mặt hàng hợp lí, đủ
16
16
chủng loại. Hơn nữa, một cơ cấu mặt hàng hợp lí sẽ dễ dàng đáp ứng sự thay đổi
nhanh của nhu cầu thị trường và giảm rủi ro cho doanh nghiệp.
• Các biện pháp quảng cáo.
Trong điều kiện cạnh tranh gay gắt hiện nay quảng cáo đóng vai trò rất lớn
trong việc thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm hàng hóa. Quảng cáo nhằm giới thiệu sản phẩm
tới người tiêu dùng và kích thích nhu cầu của họ.
nữa phải linh hoạt mềm dẻo trong phương thức thanh toán, giao nhận hàng hóa đảm
bảo hai bên cùng có lợi tránh tình trạng gây khó khăn cho khách hàng. ngoài ra những
dịch vụ sau bán hàng cũng góp phần đảm bảo cho khách hàng khi mua sắm hàng hóa,
làm cho khách hàng có niềm tin và yên tâm hơn khi quyết định tiêu dùng sảncủa
doanh nghiệp và do vậy hàng hóa bán sẽ ổn định và nhiều hơn làm tăng việc tiêu thụ
sản phẩm của doanh nghiệp.
1.2.3.2. Các nhân tố bên ngoài doanh nghiệp.
• Các yếu tố kinh tế.
Thu nhập bình quân đầu người (GNP): Tác động lớn tới nhu cầu tiêu dùng,
GNP càng tăng cao sẽ kéo theo sự tăng lên về nhu cầu, về số lượng sản phẩm hàng
hóa, dịch vụ, tăng lên về chủng loại, chất lượng, thị hiếu.v.v Làm cho tốc độ tiêu thụ
hàng hóa của các doanh nghiệp tăng lên.
Yếu tố lạm phát cũng ảnh hưởng: Lạm phát tăng làm tăng giá cả của yếu tố đầu
vào, làm tăng giá bán hạn chế mức tiêu thụ.
Lãi suất cho vay của ngân hàng: Lãi suất cho vay tăng làm chi phí kinh doanh
tăng dẫn đến giá bán tăng và tiêu thụ giảm.
Chính sách thuế: Thuế tăng làm giá thành hàng hóa tăng, tiêu thụ giảm.
18
18
• Số lượng các đối thủ cạnh tranh.
Kinh doanh trên thi trường là sự cạnh tranh khốc liệt giữa các doanh nghiệp với
nhau. Tốc độ tiêu thụ hàng hóa một phần phụ thuộc vào quy mô, số lượng đối thủ cạnh
tranh. Nhân tố này có ảnh hưởng trực tiếp tới tốc độ tiêu thụ sản phẩm hàng hóa của
doanh nghiệp. Ngoài ra tốc độ tiêu thụ còn phụ thuộc rất lớn vào tỷ lệ thị phần của
doanh nghiểp trên thị trường.
• Thị hiếu của người tiêu dùng.
Sản phẩm sản xuất ra phải phù hợp với thị hiếu của người tiêu dùng, có như vậy
mới thoả mãn được nhu cầu của khách hàng mới mong tăng tốc độ tiêu thụ. Đây cũng
là nhân tố ảnh hưởng không nhỏ tới lượng cầu trên thị trường. Người tiêu dùng sẽ mua
nhiều hơn nếu hàng hóa hợp với thị hiếu và thiết yếu đối với họ.
giới đang có dấu hiệu phục hồi, tuy nhiên vẫn còn nhiều những khó khăn trước mắt mà
các quốc gia sẽ phải đối mặt.
1.3.2.Ảnh hưởng của suy thoái kinh tế đến tiêu thụ sản phẩm
Hoạt động tiêu thụ sản phẩm có vai trò quan trọng, mang tính chất sống còn của
mỗi doanh nghiệp. Vì vậy, khi nền kinh tế bị suy thoái thì hoạt động tiêu thụ sản phẩm
của doanh nghiệp cũng sẽ bị ảnh hưởng.
• Tác động trực tiếp
Tác động trực tiếp của suy thoái kinh tế đến hoạt động tiêu thụ là ở cả ba mặt:
Thị trường, giá cả và thanh toán.
- Trước hết, đó là sự sụt giảm của nhu cầu tiêu dùng hàng hoá ở các quốc gia. Do tác
động của suy thoái kinh tế, người tiêu dùng sẽ thắt chặt chi tiêu của họ và ưu tiên hơn
trong tiêu dùng những mặt hàng thiết yếu. Xu hướng này đã khiến cầu tiêu dùng giảm
mạnh.
- Về mặt giá cả: Giá của hàng hóa trong thời kỳ suy thoái thường có xu hướng giảm.
Nguyên nhân là do nhu cầu tiêu dùng ở các quốc gia giảm, sức ép do hàng hoá tồn đọng
nhiều đã buộc các doanh nghiệp phải hạ giá xuống mức thấp nhất có thể để bán được
hàng. Trong khi đó, giá đầu vào lại tăng gây nhiều khó khan cho doanh nghiệp.
- Khả năng thanh toán trong hoạt động của doanh nghiệp sẽ bị hạn chế. Dưới phạm vi
ảnh hưởng rộng của suy thoái kinh tế, các lĩnh vực như : Đầu tư, tài chính - Ngân hàng
20
20
cũng sẽ bị ảnh hưởng. Việc huy động nguồn vốn của các doanh nghiệp để hỗ trợ cho
các khâu sản xuất, tiêu thụ hàng hóa cũng trở nên khó khăn hơn.
- Về mặt nguồn cung nguyên liệu cũng bị ảnh hưởng. Giá các nguyên liệu đầu vào tăng
cao khiến các nhà sản xuất có thể cũng sẽ gặp phải nhiều khó khăn trong hoạt động
sản xuất, kinh doanh. Điều này có thể dẫn đến sự hạn chế về nguồn cung cho hoạt
động sản xuất, tiêu thụ.
• Tác động gián tiếp
Ngoài những tác động trực tiếp nêu trên, hoạt động tiêu thụ sản phẩm còn bị tác
động bởi suy thoái kinh tế qua những yếu tố gián tiếp như: Thu nhập, tỷ lệ thất nghiệp,
- Vốn đầu tư :7 000 000 USD
- Quy mô: + Nhân lực : 170 người
+ Diện tích : gồm 3 nhà máy và khu văn phòng với trang thiết bị hiện đại.
2 Loại hình kinh doanh
- Sản xuất gia công lò xo tấm và các sản phẩm từ kim loại
- Thiết kế và sản xuất khuôn cối
- Gia công bề mặt, sản xuất và lắp giáp các linh kiện cho ô tô xe máy và các
ngành công nghiệp nặng khác
2 Các nhân tố tác động đến hoạt động tiêu thụ sản phẩm của công ty
1 Nhân tố chủ quan
1 Nguồn lực
Là một công ty có vốn đầu tư nước ngoài 100%, ngay từ khi mới thành lập và
bắt tay vào hoạt động, Vina taiyo Spring đã là một công ty có nguồn lực rất mạnh cả
về vốn và nhân lực. Có công ty mẹ tại Nhật và chi nhánh tại Thái Lan từ trước, Vina
taiyo Spring dựa trên đà đó được trang bị đầy đủ từ vật chất, trang thiết bị công nghệ
khoa học hiện đại tới đội ngũ nhân lực có tay nghề và chuyên môn cao.Công ty sử
dụng các trang thiết bị hiện đại để phục vụ sản xuất từ những hãng máy móc nổi tiếng
ở Nhật như : KOMATSU, ISIS, AMADA… Công ty có đội ngũ công nhân với tay
nghề cao, tốt nghiệp từ các trường đào tạo nghề chuyên ngành và được đào tạo chuyên
môn trước khi bắt tay vào làm việc. Vị trí quản lý thì do các kĩ sư người Nhật đảm
nhiệm. Đội ngũ nhân viên Việt Nam làm trong khu văn phòng 100% tốt nghiệp đại
22
22
học chuyên ngành kinh tế, kỹ thuật và có khả năng ngoại ngữ Cơ chế quản lý chặt
chẽ, luôn có mục tiêu chiến lược rõ ràng trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm cũng là
một thế mạnh giúp làm nên thành công của công ty.Lấy chất lượng làm đầu, công ty
sử dụng nguồn nguyên liệu nhập khẩu để cho sản xuất. Nguyên liệu nhập khẩu luôn
được kiểm duyệt kĩ càng trước khi đưa vào sản xuất. Với việc sử dụng công nghệ tiên
tiến nhất hiện nay giúp công ty có được những sản phẩm có chất lượng và độ chính
xác cao. Bên cạnh đó, công ty mẹ còn thường xuyên cắt cử những kĩ sư lành nghề từ
chấp nhận được. Vì thế, dù giá thành có cao, nhưng Vina taiyo Spring vẫn luôn là lựa
chọn hàng đầu của các doanh nghiệp lớn như HONDA, SUZUKI, TOYOTA …
- Chính sách chất lượng
Đặt chất lượng lên là mục tiêu sản xuất hàng đầu của mình, Vina taiyo Spring
luôn chú trọng đến độ chính xác, hoàn hảo của từng sản phẩm. Sản phẩm đưa tới tay
người tiêu dùng luôn là sản phẩm có chất lượng tốt nhất. Tiêu chí chất lượng cũng là
thế mạnh cạnh tranh của công ty. Nó đã tạo nên uy tín cho công ty với khách hàng.
Với thị trường luôn biến đổi, nhu cầu tiêu dùng ngày càng cao, công ty luôn cố gắng
và tìm ra những phương pháp, cách thức sản xuất mới nhằm nâng cao chất lượng sản
phẩm ngày càng tốt hơn mà vẫn thân thiện với môi trường.
- Chính sách phân phối
Công ty không xây dựng các đại lý bán buôn bán lẻ sản phẩm mà trực tiếp cung
cấp sản phẩm cho các doanh nghiệp tiêu dùng khác. Đây cũng là một đặc điểm khá
khác của công ty so với các doanh nghiệp cùng ngành. Hàng hóa sản xuất ra được luân
chuyển giữa 3 chi nhánh : Nhật, Thái Lan, Việt Nam. Do đã có tên tuổi trên thị trường
từ trước, dù không xúc tiến quảng cáo hay lập đại lý, công ty vẫn có được những
khách hàng tiềm năng lớn. Tình trạng ứ đọng hay tồn kho hàng hóa hầu như không có.
Các nhà lãnh đạo công ty luôn có sự căn nhắc, cân đối chi phí để luân chuyển hàng
hóa giữa các chi nhánh với nhau để tối đa hóa lợi nhuận.
2 Nhân tố chủ quan
1 Chính sách pháp luật
Việt Nam đang trên đà hội nhập quốc tế. chính vì vậy Nhà nước luôn tạo điều
kiện cho các doanh nghiệp nước ngoài đầu tư sản xuất tại Việt Nam. Nhà nước cũng
đã hoàn thiện tối đa hóa luật đầu tư, luật khuyến khích luật đầu tư trong nước để tạo
khuôn khổ pháp lý vững chắc, giúp các nhà đầu tư nước ngoài yên tâm khi đầu tư vào
Việt Nam. Vì vậy nên khi gia nhập vào thị trường Việt Nam, Vina taiyo Spring không
gặp khó khăn mà còn được khuyến khích phát triển.
24
24
2 Môi trường kinh tế
25
25