trúc lâm tông chỉ nguyên thanh trong văn học phật giáo việt nam thời trung đại - Pdf 24



ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

TRẦN HOÀNG HÙNG

TRÚC LÂM TÔNG CHỈ NGUYÊN THANH
TRONG VĂN HỌC PHẬT GIÁO VIỆT NAM
THỜI TRUNG ĐẠI
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN
CHUYÊN NGÀNH: VĂN HỌC VIỆT NAM

MÃ SỐ: 62.22.34.01
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 2013 ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN TRẦN HOÀNG HÙNG


Trần Hoàng Hùng
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1
1. Ý nghĩa khoa học của đề tài
1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
2
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 14
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 15
5. Đóng góp mới của luận án 15
6. Giới thiệu kết cấu luận án 16
CHƯƠNNG 1. XÃ HỘI - VĂN HOÁ - TƯ TƯỞNG ĐẠI VIỆT THẾ KỈ XVIII
VÀ TÁC PHẨM TRÚC LÂM TÔNG CHỈ NGUYÊN THANH 17
1.1. Xã hội - văn hoá - tư tưởng Đại Việt thế kỉ XVIII 17
1.1.1. Sự sụp đổ của xã hội phong kiến và bi kịch lịch sử của dân tộc 17
1.1.2. Văn hoá - tư tưởng Đại Việt thế kỉ XVIII 22
1.2. Tác giả của tác phẩm Trúc Lâm tông chỉ nguyên thanh 28
1.2.1. Ngô Thì Nhậm 28
1.2.2. Phan Huy Ích 34
1.2.3. Ngô Thì Hoàng 35
1.2.4. Vũ Trinh 37
1.2.5. Nguyễn Đăng Sở 37
1.2.6. Nguyễn Đàm 39
1.3. Về văn bản tác phẩm Trúc Lâm tông chỉ nguyên thanh 40
1.3.1. Nhan đề tác phẩm 40
1.3.2. Giới thiệu tác phẩm 41
1.3.3. So sánh các bản dịch phần chính văn của Trúc Lâm tông chỉ nguyên thanh42
]Tiểu kết 65

Thiền phái Trúc Lâm đời Trần 163
4.2.1. Vài nét về Thiền phái Trúc Lâm đời Trần 163
4.2.2. Sự kế thừa và phát triển tư tưởng Thiền phái Trúc Lâm trong tác phẩm Trúc
Lâm tông chỉ nguyên thanh 171
4.3. Vị trí của Trúc Lâm tông chỉ nguyên thanh trong văn học Phật giáo Việt
Nam thời trung đại 178
Tiểu kết 184
KẾT LUẬN 185
DANH MỤC NHỮNG CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ CÓ
LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 191
TÀI LIỆU THAM KHẢO 193 1

MỞ ĐẦU

1. Ý NGHĨA KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Văn hoá là cái hồn của dân tộc, là bảo vật vô giá và đặc thù để tạo nên bản
sắc riêng của dân tộc; là động lực để đất nước phát triển kinh tế, xã hội. Thực tế lịch
sử đã chứng minh chính nền văn hoá đặc sắc của cư dân lúa nước phương Nam đã
thổi một luồng sinh khí vào hồn dân tộc Việt tạo nên sức sống vô cùng mãnh liệt và
bất diệt, dù cho bao nhiêu thế lực ngoại xâm muốn thống trị và đồng hoá nhưng vẫn
không làm gì được.
Văn học là xương sống của văn hoá, là tấm gương phản chiếu trung thực và đầy
đủ mọi khía cạnh vật chất, tinh thần của đời sống xã hội. Hơn bao giờ hết, trong thời
đại ngày nay việc kế thừa, gìn giữ và phát huy văn hoá truyền thống, tiếp thu có chọn
lọc những thành tựu văn hoá của quá khứ, của nhân loại để làm phong phú thêm cho
văn hoá nước nhà là việc làm vô cùng bức thiết. Bởi lẽ cùng với sự bùng nổ của khoa
học công nghệ thông tin và xu hướng toàn cầu hoá, vấn đề xây dựng và bảo vệ quốc

Tác phẩm Trúc Lâm tông chỉ nguyên thanh được viết bằng chữ Hán, dưới ánh
sáng của tư tưởng và mỹ học Thiền mà các tác giả của nó lại là những nhân vật đặc
biệt: nhà Nho - Thiền sư - Thi sĩ, nên việc tìm hiểu giá trị của tác phẩm này là khó
khăn và phức tạp: phải hiểu Hán học; phải thông tư tưởng Phật giáo, Thiền học, mà
Phật - Thiền Đại Việt có sự dung hợp tư tưởng tam giáo, và đặc biệt là, muốn thực
hiện thành công đề tài, người viết phải đích thân trải nghiệm vào cảnh giới Thiền
định thì mới mong giải mã được một cách chính xác nội dung tư tưởng của tác phẩm.
Thật may mắn là người viết luận án này thân ở cửa Thiền, tu học và thực hành Thiền
định đã hơn hai chục năm; có cơ hội được tiếp xúc và nghiên cứu Thiền học, Hán
học gần hai mươi năm; giảng dạy chữ Hán và tiếng Hoa trên năm năm; đặc biệt là từ
thuở nhỏ bản thân đã rất thích và học thuộc làu không ít những tác phẩm thơ văn
mang đậm chất Thiền và giàu tính nhân văn của bộ phận văn học Phật giáo Việt Nam
thời trung đại.
2. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ
Luận án đặt tác phẩm Trúc Lâm tông chỉ nguyên thanh trong tiến trình phát
triển của bộ phận văn học Phật giáo Việt Nam thời trung đại, do vậy, luận án không
thể không nêu lại những thành tựu sưu tầm văn bản văn học Phật giáo Việt Nam,
những thành tựu nghiên cứu về văn học Phật giáo Việt Nam thời trung đại (với hai
thời đại: Lý - Trần, Lê - Nguyễn) của các nhà nghiên cứu từ trước đến nay, trong đó
trọng tâm là tác phẩm Trúc Lâm tông chỉ nguyên thanh.
2.1. Thành tựu về văn bản học và nghiên cứu văn học Phật giáo Việt Nam
thời trung đại
Trước khi luận thuyết Trúc Lâm tông chỉ nguyên thanh ra đời, thì văn học Phật
giáo đã có nhiều tác phẩm có giá trị. Thế kỷ thứ II có Lý hoặc luận của Mâu Bác,

3
một tác phẩm luận thuyết nổi tiếng của Phật giáo vùng Đông Á, cắm cái mốc khởi
đầu cho văn học Phật giáo Việt Nam; thế kỷ thứ III có Lục độ tập kinh cùng một số
tác phẩm khác của Khương Tăng Hội; thế kỷ thứ V có cuộc tranh luận về Phật pháp
giữa hai vị thiền sư là Đạo Cao và Pháp Minh với sứ quân Lý Miễu thông qua Sáu


4
Bắc có: Việt Nam cổ văn học sử của Nguyễn Đổng Chi (1942); Văn học đời Lý và
Văn học đời Trần của Ngô Tất Tố (1942); Việt Nam văn học sử yếu của Dương
Quảng Hàm (1943); Lịch sử văn học Việt Nam, tập 2, Bùi Văn Nguyên chủ biên
(1961); Lịch sử văn học Việt Nam, tập 3, Lê Trí Viễn chủ biên (1961); Văn học cổ
Việt Nam, 2 tập, Đinh Gia Khánh chủ biên (1964); Văn học Việt Nam từ thế kỷ X đến
đầu thế kỷ XVIII, 2 tập, Đinh Gia Khánh chủ biên, (1977, 1978); Văn học Việt Nam
từ giữa thế kỷ XVIII đến nửa đầu thế kỷ XIX, 2 tập, Nguyễn Lộc, (1976, 1978), Văn
học Việt Nam từ thế kỷ X đến giữa thế kỷ XVIII, Bùi Văn Nguyên chủ biên (1989).
Ở miền Nam có: Văn học sử Việt Nam của Lê Văn Siêu (1956); Việt Nam văn
học sử giản ước tân biên của Phạm Thế Ngũ, tập 1: Văn học lịch triều - Hán văn; tập
2: Văn học lịch triều - Việt văn, (1961-1965); Việt Nam văn học giảng bình của
Phạm Văn Diêu (1960), Hai trăm năm văn học đời Lý và Văn học Trần - Hồ của
Phạm Văn Diêu, in rônêô, bài giảng tại Đại học Văn khoa và Đại học Sư phạm Sài
Gòn niên khóa 1971-1972 v.v
Những công trình nghiên cứu về Phật giáo sử, về tư tưởng Thiền Phật, trong đó
có đề cập văn học Phật giáo của các nhà nghiên cứu như của Trần Văn Giáp: Le
Bouddhisme en Annam des origines au XIII
e
siècle (BEFEO, Hà Nội, 1932); của Mật
Thể: Việt Nam Phật giáo sử lược (1943); một loạt công trình nghiên cứu của Nguyễn
Đăng Thục xuất bản trước năm 1975: Thiền học Việt Nam (1967), Lịch sử tư tưởng
Việt Nam (1967), Lịch sử triết học Đông phương (tb 1968), Thiền học Trần Thái
Tông (1971), Phật giáo Việt Nam (1974) và các bài viết đăng trên Tạp chí Tư tưởng
số 2 và 4-1972, số 4 và 6-1972. Qua những công trình trên, Nguyễn Đăng Thục đã
chỉ ra những nét đặc thù của Thiền học Việt Nam: mô hình tổ chức, đường lối hoạt
động, phương thức tu trì… có những đóng góp lớn trong việc phục hưng văn hóa Đại
Việt.
Nguyễn Lang (Thích Nhất Hạnh) trong bộ Việt Nam Phật giáo sử luận, 3 tập,

bài viết của các nhà nghiên cứu; của Nguyễn Hùng Hậu: Lược khảo tư tưởng Thiền
phái Trúc Lâm Việt Nam (1997); của Trương Văn Chung: Tư tưởng triết học của
Thiền phái Trúc Lâm (1997); và Kỷ yếu Hội thảo Khoa học kỷ niệm 700 năm (1308-
2008) ngày Phật Hoàng Trần Nhân Tông nhập Niết bàn: “Đức vua - Phật Hoàng
Trần Nhân Tông: cuộc đời và sự nghiệp” với 81 bài viết của các nhà nghiên cứu, do
Giáo hội Phật giáo Việt Nam và Viện Khoa học Xã hội Việt Nam tổ chức tại Quảng
Ninh ngày 26-11-2008.
Những bài giới thiệu và dịch thơ văn Lý - Trần, trong đó có văn học Phật giáo,
của các nhà nghiên cứu đã công bố trên các tạp chí từ trước năm 1945 như: Đinh
Văn Chấp, Đông Châu Nguyễn Hữu Tiến, Ngô Tất Tố đã dịch thơ văn đời Lý, đời
Trần công bố trên tạp chí Nam Phong nhiều số liền, để sau này các nhà nghiên cứu ở
Viện Văn học kế thừa tiếp bước và hoàn thành bộ Thơ văn Lý – Trần ba tập (1977,
1979, 1988) mà ở trên chúng tôi có nêu.

6
Những bài viết về thơ văn Lý - Trần của các nhà nghiên cứu như: Nguyễn
Trọng Thuật với Bình luận về sách Khóa hư đăng trên Tạp chí Nam Phong, tập
XXXIII, số 189, tháng 10-1933 đã nêu lên nhận thức của tác giả về nội dung tư
tưởng tác phẩm của Trần Thái Tông; Đặng Thai Mai với bài Về mối quan hệ lâu đời
và mật thiết giữa văn học Việt Nam và văn học Trung Quốc (Tạp chí Nghiên cứu Văn
học số 7-1961) đã chỉ ra mối quan hệ tác động qua lại giữa thơ văn Lý - Trần với thơ
văn Đường - Tống; còn trong bài Mấy điều tâm đắc khi đọc lại thơ văn của một thời
đại (Tạp chí Văn học số 6-1974) vị học giả lão thành đã chia văn học nước ta làm ba
thời kỳ: từ thế kỷ thứ III TCN đến đầu thế kỷ thứ X; từ thế kỷ XI đến giữa thế kỷ
XIX; từ giữa thế kỷ XIX đến thế kỷ XX. Trong đó, tác giả nêu lên giá trị nội dung tư
tưởng của văn học đời Trần góp phần làm nên lịch sử văn học nước nhà, qua những
đóng góp đáng kể của Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Tuệ Trung, Trần Nhân
Tông, Pháp Loa, Huyền Quang. Đồng thời bài viết còn đề cập đến một đạo Phật
khoan dung cởi mở, từ đó sinh ra những nhà thơ có bản lĩnh, có tâm hồn phóng
khoáng, giàu chất nhân bản với những bài thơ Thiền độc đáo, có khí sắc, đạo nhưng

Mai Quốc Liên trong bài viết Các nhà thơ đời Trần (trong tiểu luận Dưới gốc
me vườn Nguyễn Huệ, 1986) đã đề cập đến những điểm cơ bản của đặc trưng thơ
Thiền: văng lặng, hư tịch, phản ánh chân như của vũ trụ theo quan điểm Phật giáo,
mà thơ Thiền của Trần Nhân Tông đã mang đặc trưng ấy.
Phạm Ngọc Lan trong Trần Nhân Tông và cảm hứng Thiền trong thơ (Tạp chí
Văn học, số 4-1992) đã đề cập cảm hứng Thiền trong những bài thơ viết về thiên
nhiên của Trần Nhân Tông.
Những bài viết trên Tạp chí Văn học, số 2-1992, số 3-1993, và công trình Khảo
sát một số đặc trưng nghệ thuật của thơ Thiền Việt Nam thế kỷ XI - XIV (luận án
Tiến sĩ bảo vệ 1995, xuất bản 1996) đã nêu lên những đặc trưng nghệ thuật thơ Thiền
qua khảo sát ngôn ngữ thơ Thiền, hình tượng con người, thiên nhiên; không gian và
thời gian nghệ thuật; thể thơ, kết cấu, cách miêu tả, giọng điệu thơ Thiền; so sánh
đặc trưng nghệ thuật thơ Thiền với thơ Nho cùng thời, có đối chiếu với thơ Thiền
Trung Hoa và Nhật Bản.
Công trình của Nguyễn Phạm Hùng Văn học Lý - Trần nhìn từ thể loại (1998)
đã nghiên cứu hệ thống thể loại văn học thời Lý - Trần trong đó có các thể loại văn
học Phật giáo như Kệ và thơ Thiền, Ngữ lục, Truyện ký v.v ; Một loạt bài viết của
nhà nghiên cứu này về văn học Phật giáo in trong tuyển tập Trên hành trình văn học
trung đại (2001) đã giúp người đọc có một cái nhìn chung về thẩm mỹ của thơ
Thiền, cảm hứng sáng tạo của thơ Thiền, hình ảnh biểu tượng Phật lý, thủ pháp nghệ
thuật đặc trưng của văn học Phật giáo và bút pháp của từng gương mặt tiêu biểu
trong bộ phận văn học Phật giáo.
Nguyễn Hữu Sơn với chuyên luận Loại hình Thiền uyển tập anh (2002) đã xác
định tác phẩm là sự đan xen nhiều thể loại như ngữ lục, truyện truyền đăng, có sự

8
tích hợp folklore và có giá trị tàng trữ thi ca, và theo ông có thể xem tác phẩm như là
một thể tài biến văn. Những bài viết của nhà nghiên cứu này in trong tuyển tập Văn
học trung đại Việt Nam – Quan niệm con người và tiến trình phát triển (2005) như
Vịnh Vân Yên tự phú – nẻo về thiên nhiên Phật và cõi vô tâm đã khái quát cuộc đời


9
trong các tác phẩm văn - triết của các tác giả thuộc Thiền phái này. Bên cạnh, tác giả
này còn có một số bài viết về tác giả, tác phẩm văn học Thiền thời Lý – Trần, nhát là
về Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, công bố vào các năm 2004, 2006, 2007, 2008,
2009, 2010.
Thời Lê - Nguyễn (thế kỷ XV - thế kỷ XIX), bên cạnh một số công trình viết về
hành trạng và tác phẩm của các vị thiền sư thuộc giai đoạn này của các nhà Phật học,
nhất là các công trình của Nguyễn Lang Thích Nhất Hạnh và của Lê Mạnh Thát như
ở trên vừa nêu thì còn có một số bài viết về văn học Phật giáo, về ảnh hưởng tư
tưởng Thiền Phật trong thơ văn của Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tông, Nguyễn Bỉnh
Khiêm, Nguyễn Du, v.v của các nhà nghiên cứu như: Đinh Gia Khánh, Bùi Văn
Nguyên, Bùi Duy Tân, Minh Chi, Hà Thúc Minh, Trần Thị Băng Thanh, Nguyễn
Hữu Sơn, Nguyễn Công Lý, Nguyễn Phạm Hùng, v.v
2.2. Thành tựu nghiên cứu về tác gia Ngô Thì Nhậm và tác phẩm Trúc Lâm
tông chỉ nguyên thanh
Từ thế kỷ XIX về trước, các bậc tiên Nho, các sử gia trong các bộ chính sử triều
Nguyễn ít nhiều đã có nhắc đến Ngô Thì Nhậm.
Sang thế kỷ XX, trong các bộ văn học sử của trường Đại học Sư phạm Hà Nội,
của trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, của Phạm Thế Ngũ, v.v mà ở trên có đề cập,
ít nhiều đều có nhắc qua Ngô Thì Nhậm dù rất sơ lược, còn về tác phẩm Trúc Lâm
tông chỉ nguyên thanh thì hầu như chưa được tìm hiểu trong các công trình nghiên
cứu ở Việt Nam từ 1954 trở về trước.
Lần đầu tiên Nguyễn Lang (Thích Nhất Hạnh) trong Việt Nam Phật giáo sử
luận tập 2 (1972), ở chương XXIV Lý học và Phật giáo đã dành 27 trang với nhiều
mục (từ trang 269 đến trang 295) để giới thiều về Ngô Thì Nhậm và tác phẩm Trúc
Lâm tông chỉ nguyên thanh qua các tiêu đề: Đại chân Viên giác thanh; Một tổng hợp
Nho Phật độc đáo; Một số chủ đề khác của Trúc Lâm tông chỉ nguyên thanh; Quan
niệm Thiền của Hải Lượng và các bạn; Con người của Hải Lượng. Chỉ bấy nhiêu đó
nhưng cũng gợi mở giúp người đọc có cái nhìn tổng quát về tác giả và tác phẩm luận

chí Văn họ
c ở các số 2-1979; số 2-1981; số 6-1982, của Phạm Thị Tú: Đăng khoa lục
sưu giảng và việc ghi nhận Ngô Thì Nhậm là tác giả “Hoàng Lê nhất thống chí” trên
Tạp chí Văn học số 4-1975; Hoàng Hồng Cẩm: Về cuốn “Tam thiên tự” do Ngô Thì
Nhậm soạn, Tạp chí Hán Nôm số 1-2007, v.v
Đặc biệt, trong công trình Tuyển tập thơ văn Ngô Thì Nhậm, quyển 1 (1978) có
hai bài nghiên cứu: Ngô Thì Nhậm - một người trí thức chân chính do học giả lão
thành uyên bác Cao Xuân Huy viết và bài Tiểu sử Ngô Thì Nhậm do Mai Quốc Liên
soạn; Tuyển tập thơ văn Ngô Thì Nhậm, quyển 2 (1978), nhóm biên dịch có mục
Tiểu dẫn với dung lượng hai trang để giới thiệu tác phẩm. Còn trong công trình Ngô
Thì Nhậm tác phẩm, tập 3, có bài khảo luận văn bản của nhà nghiên cứu Hà Thúc
Minh: Về tình trạng của sách “Trúc Lâm tông chỉ nguyên thanh”.

11
Trần Đình Hượu với bài viết “Về xu hướng Tam giáo đồng nguyên trong Trúc
Lâm tông chỉ nguyên thanh” (1986) đã xác định xu hướng tư tưởng chủ đạo của tác
phẩm Trúc Lâm tông chỉ nguyên thanh là Tam giáo đồng nguyên. Đồng thời tác giả
bài viết có lưu ý rằng quan niệm đồng nguyên của Ngô Thì Nhậm trong tác phẩm
cũng chưa vượt ra ngoài quỹ đạo của Chu Hy thời Tống ở Trung Hoa.
Mai Quốc Liên với sáu chương tiểu luận về Ngô Thì Nhậm trong tập một của
bộ “Ngô Thì Nhậm tác phẩm” (2001) đã khái quát những vấn đề về tư tưởng và thi
pháp của Ngô Thì Nhậm, khẳng định thơ văn của Ngô Thì Nhậm là đỉnh cao, là tiêu
biểu đứng đầu của văn học yêu nước thời Tây Sơn.
Lê Giang trong luận án Tiến sĩ “Ý thức văn học cổ trung đại Việt Nam” (2001)
cho rằng Ngô Thì Nhậm thật sự là một nhân vật lịch sử lớn, một nhà tư tưởng lớn mà
bộ môn lịch sử tư tưởng Việt Nam phải dành nhiều trang hơn nữa để viết về ông.
Ông là đại biểu cho loại ý thức văn học của nhà Nho – chính trị gia trong thời hậu kỳ
trung đại Việt Nam, cốt lõi là Nho nhưng không bị bó hẹp ở Nho giáo nguyên thuỷ
mà tiếp thu tinh hoa của nhiều loại tư tưởng khác.
Thích Phước An trong “Từ Nguyễn Trãi đến Ngô Thì Nhậm và con đường lên

tính Lý học Tống Nho để thực hiện chủ ý “Chỉ vật truyền tâm” của thiền gia. Dù Ngô
Thì Nhậm đã làm một chiếc cầu nối giữa Phật và Nho trong thời kỳ các nhà Nho bảo
thủ để kình chống Phật giáo, nhưng ông chưa phải là thiền sư đạt ngộ.
Lâm Giang trong bài viết “Tư tưởng Nho - Phật hoà đồng trong tác phẩm Trúc
Lâm tông chỉ nguyên thanh của Ngô Thì Nhậm” (2007) đã đi từ phân tích sự hoà
đồng nhất trí của Phật - Nho trong Trúc Lâm tông chỉ nguyên thanh qua các phạm trù
nhân quả, luân hồi, định mệnh, tâm tính đến kết luận là sự nhất trí ấy do Phật kế
thừa từ Nho. Hơn nữa Phật của Ngô Thì Nhậm là Phật hành sự trong thực tiễn không
yếm thế, chán đời.
Trần Ngọc Ánh trong “Nhận thức luận của Ngô Thì Nhậm – bước tiến của tư
tưởng triết học Việt Nam thế kỷ XVIII” (2009) đã xác định Ngô Thì Nhậm góp phần
tạo ra một bước tiến của lịch sử tư tưởng triết học của dân tộc thế kỷ XVIII. Mặc dù
Ngô Thì Nhậm có kế thừa Lý học của Tống Nho, nhưng ông đã có những đóng góp
riêng về mặt nhận thức luận như, không dừng lại ở hiện tượng mà đi sâu vào bản
chất; sự thống nhất giữa nội dung và hình thức, giữa cái bên trong và cái bên ngoài.
Doãn Chính - Nguyễn Thị Hồng Phương trong “Ngô Thì Nhậm – Hải Lượng
đại thiền sư” (2010) cho rằng, khuynh hướng chủ đạo trong bản thể luận của Ngô
Thì Nhậm là hướng đến sự dung hoà Tam giáo với sự kế thừa tư tưởng các vị Tổ
khai sáng Thiền phái Trúc Lâm. Ngô Thì Nhậm không kế thừa, dung hợp triết lý
Tam giáo như các học giả đời Tống, mà chỉ sử dụng các phạm trù tâm, tính, lý, dục
của Tống Nho để giải thích trở lại các quan điểm triết học Phật giáo.
Nhìn chung, tất cả những thành tựu như vừa nêu là rất đáng quý, tất cả là chỗ
dựa, là những gợi ý quan trọng để người viết luận án này suy nghĩ, tiếp thu và triển
khai nội dung, ý tưởng khi thực hiện đề tài.

13
3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đề tài của luận án là “Trúc Lâm tông chỉ nguyên thanh trong văn học Phật giáo
Việt Nam thời trung đại”. Như vậy đối tượng nghiên cứu chính của luận án là tác
phẩm Trúc Lâm tông chỉ nguyên thanh. Nhưng để thấy được nét đặc thù về tư tưởng,


14
phẩm, mà cần phải dùng trực cảm để chiêm nghiệm, lĩnh hội vấn đề, tức dùng
phương pháp tĩnh lự, thiền quán - trực cảm tâm linh để có thể thấu rõ bản chất và đặc
điểm của đối tượng nghiên cứu.
Thật ra, việc phân chia phương pháp nghiên cứu như trên chỉ là tương đối, vì
trong khi thực hiện, người viết sẽ vận dụng tổng hợp, đan xen các phương pháp sao
cho có hiệu quả nhất nhằm mục đích là giải quyết các yêu cầu khoa học mà bản thân
đề tài luận án đã đặt ra.
5. ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN
- Lần đầu tiên trong văn học sử Việt Nam, tác phẩm Trúc Lâm tông chỉ nguyên
thanh là đối tượng được nghiên cứu một cách có hệ thống từ diện mạo, cấu trúc văn
bản đến các tác giả tham gia viết các phần trong tác phẩm; so sánh các văn bản dịch
hiện hành, có đối chiếu với nguyên tác, nhằm mục đích giúp cho việc hiểu văn bản
một cách đúng nhất.
- Từ tác phẩm Trúc Lâm tông chỉ nguyên thanh, bước đầu luận án đã nêu lên
những đặc trưng chủ yếu của thể loại luận thuyết triết lý tôn giáo.
- Trên cơ sở đó, luận án chỉ ra những giá trị nội dung tư tưởng cùng giá trị nghệ
thuật của tác phẩm Trúc Lâm tông chỉ nguyên thanh.
- Cuối cùng, luận án nêu lên vị trí và đóng góp của tác phẩm trong lịch sử tư
tưởng Phật giáo Việt Nam và trong tiến trình phát triển của văn học Phật giáo Việt
Nam thời trung đại.
6. GIỚI THIỆU CẤU TRÚC LUẬN ÁN
Luận án có dung lượng 188 trang chính văn. Ngoài phần Mở đầu trình bày
những vấn đề chung mang tính trường quy như vừa nêu (tr.1-tr.15), trọng tâm của
luận án được dàn dựng thành bốn chương như sau:
Chương 1. Xã hội – Văn hoá – Tư tưởng Đại Việt thế kỷ XVIII và tác phẩm
Trúc Lâm tông chỉ nguyên thanh, 48 trang (tr.16-tr.63).
Chương 2. Trúc Lâm tông chỉ nguyên thanh nhìn từ nội dung tư tưởng, 47 trang
(tr.64-tr.110).


16
CHƯƠNG 1
XÃ HỘI - VĂN HOÁ - TƯ TƯỞNG ĐẠI VIỆT THẾ KỶ XVIII
VÀ TÁC PHẨM TRÚC LÂM TÔNG CHỈ NGUYÊN THANH

1.1. XÃ HỘI - VĂN HOÁ - TƯ TƯỞNG ĐẠI VIỆT THẾ KỶ XVIII
1.1.1. Sự suy yếu của chế độ phong kiến và bi kịch lịch sử của dân tộc
1.1.1.1. Nhìn lại tiến trình phát triển của lịch sử dân tộc, có thể thấy từ đầu thế
kỷ XVIII ở Đàng Ngoài đã diễn ra một cuộc khủng hoảng trầm trọng trong toàn bộ
cơ cấu của xã hội phong kiến. Cuộc khủng hoảng này đã được báo hiệu từ mấy thế
kỷ trước, tức từ hai thập niên đầu của thế kỷ XVI dưới triều Lê sơ với những tên hôn
quân vô đạo như Uy Mục, Tương Dực mà sử sách gọi là “vua lợn”, “vua quỷ”. Năm
1527, nhà Mạc thay thế nhà Lê, tình thế ban đầu ít nhiều có cứu vãn, đưa đất nước
bước sang một chặng đường mới, nhưng con cháu nhà Lê ở Thanh Hóa và các cựu
thần nhà Lê vẫn còn đó, nhà Lê trung hưng được thành lập năm 1533. Từ đó, đất
nước bị chia cắt phân tranh bởi hai tập đoàn: Bắc triều nhà Mạc, Nam triều nhà Lê
trung hưng. Nội chiến Nam - Bắc triều diễn ra khốc liệt từ đó cho đến gần cuối thế

cửi. Cũng có kẻ vì phải nộp gỗ mà phải bỏ rìu, búa, vì phải bắt cá tôm mà xé
lưới chài, vì phải nộp mật mía mà không trồng mía nữa, vì phải nộp bông
chè mà bỏ hoang vườn tược. Làng xóm náo động.” [27]
Vì thế mà các nhà Sử học thời nay đã kết luận: “Quan hệ sản xuất phong kiến
đã trở thành vật chướng ngại trên con đường tiến lên của sức sản xuất, chế độ phong
kiến đã đối lập với sự phát triển của xã hội.” [294]
Trên lĩnh vực chính trị, ngoại giao, giai cấp phong kiến càng trở nên hủ bại hơn
bao giờ hết. Chưa bao giờ lịch sử nước ta lại xuất hiện những tên vua tên chúa vô sỉ
như giai đoạn lịch sử này mà tác phẩm Hoàng Lê nhất thống chí có ghi lại hình ảnh
những con người đại diện cho giai cấp ấy. Đó là Lê Hiển Tông chỉ biết hưởng thụ
chứ không nghĩ đến nhân dân đất nước: “Trời sai chúa phò hộ ta, chúa gánh cái lo,
ta hưởng cái vui, mất chúa cái lo lại về ta, ta còn vui gì”; Đó là Trịnh Sâm chỉ biết
ăn chơi, mê đắm Đặng Thị Huệ, để cho Đặng Mậu Lân là em của Huệ làm những
điều xằng bậy giữa thanh thiên bạch nhật nơi kinh thành, hay như việc chúa phế
trưởng lập thứ nên mới dẫn đến cái loạn kiêu binh; Đó là Lê Chiêu Thống “cõng rắn
cắn gà nhà”, mà việc làm này đã dọn đường cho Nguyễn Ánh bắt chước vào những
năm cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX. Tác phẩm Hoàng Lê nhất thống chí có chép
lại về mối quan hệ giữa Lê Chiêu Thống và tướng nhà Thanh là Tôn Sĩ Nghị như
sau:
“Tuy là hoàng thượng được phong vương nhưng giấy tờ được đưa đi các
nơi vẫn viết niên hiệu Càn Long, vì Nghị còn ở đấy nên không dám viết niên
hiệu Chiêu Thống”, và: “Ngày ngày tan buổi chầu, ngài (chỉ Lê Chiêu
Thống) tự đến dinh Nghị chờ nghe việc quân quốc… Nghị cũng ngông
nghênh tự đắc, hoàng thượng đến dinh có khi Nghị không buồn tiếp, chỉ cho

18
người đứng trên linh các truyền rằng: Nay không có việc quân quốc, hãy về
cung nghỉ”. [161]
Trên phương diện sinh hoạt đạo đức, đây là lúc xuất hiện những bạo chúa khét
tiếng dâm ô, tàn ác như Trịnh Giang (1728-1740), Trịnh Sâm (1767-1782); những


19
mà nói, nhà Nguyễn ít nhiều đã đi ngược lại với dân tộc. Khác với các vương triều
phong kiến trước đó thường thiết lập trên cơ sở thắng lợi của chiến tranh vệ quốc,
giải phóng dân tộc, còn ở đây nhà Nguyễn không thắng lợi bằng thực lực mà phải
dựa vào thế lực nước ngoài như các nhà Sử học Việt Nam đã nhận định: “Trong lịch
sử nước ta, các vương triều tiến bộ trước đây đều được thiết lập trên thắng lợi của
một cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, hoặc sau khi thiết lập đã hoàn thành thắng
lợi nhiệm vụ chống ngoại xâm bảo vệ độc lập dân tộc, củng cố thống nhất quốc gia.
Đó là cơ sở chủ yếu tạo nên sức mạnh của các vương triều” [294]. Vì thế mà chính
quyền triều Nguyễn nhanh chóng bị phân hóa nội bộ với thái độ nghi kỵ và hẹp hòi.
Hàng loạt vụ biếm truất, giết hại công thần diễn ra, khủng bố gắt gao con cháu và
hàng ngũ quan lại các triều vua cũ. Hậu quả của chính sách cai trị đó là quần chúng
nổi dậy chống đối lại. Ví dụ như đầu đời Gia Long, Nguyễn Văn Thành cho phổ biến
“Điểm mê khúc” để lên án những kẻ chống đối mà họ gọi phiến loạn, thì nhân dân
đáp lại bằng “Tố khuất khúc” để vạch trần tội ác của vua quan nhà Nguyễn. Dù nhà
Nguyễn tồn tại 143 năm, nhưng nếu tính từ ngày thiết lập vương triều (1802) cho đến
khi Pháp xâm lược (1858) thì chỉ mới 56 năm, vậy mà triều đại này đã giữ kỷ lục về
các cuộc khởi nghĩa nông dân trong l
ịch sử chế độ phong kiến Việt Nam. Điều
đó cũng góp phần giải thích tại sao khi triều đại này va chạm với một thế lực xâm
lược mới thì lại nhanh chóng sụp đổ và dẫn đến mất nước bởi ngoại bang, là bởi triều
đại đó đã làm mất lòng dân! Đành rằng việc mất nước, không chỉ do nguyên nhân
vừa nêu, nhưng đó là một trong những nguyên nhân chính. Cũng cần lưu ý là, hiện
tượng thực dân hóa này là có tính chất thời đại, diễn ra trên phạm vi toàn thế giới,
không chỉ riêng gì ở Việt Nam hay châu Á.
1.1.1.2. Suốt thế kỷ XVIII và nửa đầu XIX được sử sách ghi nhận và tôn vinh là
thế kỷ nông dân khởi nghĩa. Nếu từ cuối thế kỷ XVII trở về trước, phong trào nổi dậy
của quần chúng chỉ diễn ra lẻ tẻ thì sang thế kỷ XVIII trên đất nước ta đã diễn ra một
phong trào nông dân khởi nghĩa liên tục, rộng khắp và quyết liệt, mạnh mẽ chưa từng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status