Hướng dẫn học sinh làm bài tập thực hành trong
dạy học lịch sử Việt Nam ở lớp 7
trường trung học cơ sở
Instructing students to do practical exercises in teaching Vietnam History for Grade 7
Students at Secondary School
NXB H. : ĐHGD, 2012 Số trang 116 tr. + Trần Thị Thanh Hường Trường Đại học Quốc gia Hà Nội; Trường Đại học Giáo dục
Luận văn ThS ngành: Lý luận và phương pháp dạy học Lịch sử; Mã số: 60 14 10
Cán bộ hướng dẫn khoa học: GS.TS.Nguyễn Thị Côi
Năm bảo vệ: 2012
Abstract. Tìm hiểu lý luận tâm lý, giáo dục, giáo dục lịch sử về việc hướng dẫn học sinh
(HS) làm bài tập thực hành trong dạy học lịch sử ở trường trung học sơ sở (THCS). Tiến
hành điều tra cơ bản để làm rõ thực trạng dạy học môn lịch sử ở trường THCS nói chung,
thực trạng của việc hướng dẫn cho HS làm bài tập thực hành trong dạy học lịch sử nói riêng.
Tìm hiểu chương trình lịch sử lớp 7 THCS, phần lịch sử Việt Nam từ thế kỉ X đến giữa thế
kỉ XIX và thiết kế hệ thống bài tập thực hành và phương pháp hướng dẫn HS làm bài tập
thực hành (theo hướng phát huy tính tích cực học tập của HS). Tiến hành thực nghiệm sư
phạm.
Keywords: Phương pháp giảng dạy; Lịch sử Việt Nam; Bài tập thực hành; Lớp 7
Content.
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Giáo dục thế hệ trẻ là quốc sách hàng đầu của tất cả các quốc gia trên thế giới. Ở
những kĩ năng cần thiết khi làm bài tập, đặc biệt là các dạng bài tập thực hành môn lịch sử, điều đó
ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng dạy học bộ môn.
Đối với HS lớp 7, khi học phần lịch sử Việt Nam từ thế kỉ X đến giữa thế kỉ XIX các
em thường gặp khó khăn khi phải tiếp thu một khối lượng kiến thức khá lớn với nhiều sự kiện khác
nhau. Bên cạnh đó thời gian học trên lớp trong giờ nội khóa lại có hạn. Muốn nắm vững kiến thức,
HS phải đầu tư một lượng thời gian thích hợp cho việc giải quyết các bài tập - nhất là bài tập thực
hành bộ môn. Mặt khác, HS lớp 7 là một trong những khối lớp đầu của cấp THCS nên các em chưa
có được các kĩ năng làm bài tập thực hành. Do vậy, hướng dẫn HS làm bài tập thực hành là cách định
hướng cho HS chủ động, linh hoạt và sáng tạo trong quá trình vận dụng kiến thức đã học vào việc
giải quyết nhiệm vụ học tập bộ môn. Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi lựa chọn vấn đề
“Hướng dẫn học sinh làm bài tập thực hành trong dạy học lịch sử Việt Nam ở lớp 7 trường trung
học cơ sở” làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
2.1 Nghiên cứu của các tác giả nước ngoài
T.A.Ilina trong cuốn “Giáo dục học” (Tập 2, 1973) đã khẳng định: hoạt động học tập và thực tiễn
có sự tham gia tích cực vào quá trình nhận thức của HS. Vì vậy, việc dạy cho HS hệ thống các hành
động và cách thức cần thiết cho giải đáp thực tiễn giữ vai trò quan trọng. Nó không chỉ giúp các em
nắm kiến thức vững chắc từ giai đoạn nhận thức cảm tính sang nhận thức lí tính mà còn hình thành
và phát triển kĩ năng, kĩ xảo bộ môn; khắc phục được chủ nghĩa hình thức trong dạy học.
Đai- ri trong sách chuyên khảo “Chuẩn bị giờ học lịch sử như thế nào”, đã đề cao việc phát huy
tính tích cực, độc lập của HS trong học tập lịch sử. Theo tác giả, một trong những biện pháp hiệu quả
nhằm phát triển tư duy và rèn luyện kĩ năng thực hành bộ môn là yêu cầu HS hoàn thành các bài tập;
bởi vì: tính chất của bài tập đã đặt học sinh vào tình thế cần thiết phải biểu lộ tính tự lập của tư duy
và để làm được điều đó thì học sinh đã hành động hoàn toàn tự giác [5, tr. 47].
Trong cuốn “Phát huy tính tích cực học tập của học sinh như thế nào?”, I.F Khar-la-mốp (1979)
cho rằng học tập là quá trình nhận thức tích cực trong đó có bước ôn tập kiến thức, đào sâu, hệ thống
hóa kiến thức đã học. Do vậy muốn có kiến thức một cách sâu sắc: Học sinh phải thực hiện chu
trình đầy đủ những hoạt động trí tuệ, bao gồm: tri giác tài liệu, thông hiểu, ghi nhớ; luyện kĩ năng, kĩ
xảo; khái quát hóa, hệ thống hóa kiến thức [10, tr. 28].
H.V.Savin: “Giáo dục học” tập I, nhấn mạnh mục đích của công tác thực hành là nhằm đảm
dạng bài tập thực hành bộ môn nhằm khôi phục, cụ thể hóa hình ảnh của quá khứ với các loại tài liệu,
phương tiện trực quan; hai là sử dụng kiến thức đã học để tiếp thu kiến thức mới và vận dụng vào
thực tiễn cuộc sống.
Phan Ngọc Liên - Trần Văn Trị (chủ biên) “Phương pháp dạy học lịch sử”, Nxb Giáo dục, 1992,
các tác giả đã đưa ra những nội dung của việc thực hành trong dạy học lịch sử như: thực hành bộ
môn để tạo cho học sinh có biểu tượng lịch sử chân xác, giàu hình ảnh… vẽ bản đồ, đắp sa bàn, lập
niên biểu, các bảng thống kê, tập viết và trình bày các bài tường thuật, miêu tả về một sự kiện lịch
sử, đọc tài liệu, giải thích, phân tích nội dung một hiện tượng, minh họa bằng tranh vẽ một sự kiện,
chân dung một nhân vật lịch sử; vận dụng kiến thức đã học để tiếp thu kiến thức mới và hoàn thành
những công việc công ích xã hội; Các hoạt động ngoại khóa trong trường; liên hệ, so sánh, đối chiếu
tài liệu lịch sử đang học với hiện tại” [13, tr. 113 - 114]. Thông qua các hoạt động xã hội, thực hành
bộ môn mà bồi dưỡng kĩ năng, rèn luyện những phẩm chất tốt đẹp, những hành động yêu nước cho
thế hệ trẻ.
Phan Ngọc Liên (chủ biên), Trịnh Đình Tùng, Nguyễn Thị Côi: “Phương pháp dạy học lịch sử”,
tập I, Nxb Đại học Sư phạm 2010, cho rằng nhất định phải gắn “học” với “hành” để phát huy vai trò
chủ thể của HS trong nhận thức, khắc phục cách học giáo điều, nhồi sọ. Việc phát triển năng lực
nhận thức và hành động cho HS trong quá trình học tập lịch sử không chỉ làm cho HS hiểu biết sâu
sắc hơn, mà còn tập luyện cho các em trở thành người có tư duy độc lập, chủ động, tích cực trong
suy nghĩ và hành động. [14, tr. 198]. Cũng trong cuốn sách trên, ở tập II, chương “Bài học lịch sử ở
trường phổ thông” các tác giả đưa ra một số dạng bài tập về nhà nhằm phát triển hoạt động nhận thức
độc lập của HS và nâng cao hiệu quả bài học; trong đó có dạng bài tập rèn luyện kĩ năng thực hành,
hệ thống khái quát hóa kiến thức và vận dụng kiến thức.
2.2.2.2 Giáo trình rèn luyện nghiệp vụ sư phạm
Nguyễn Thị Côi - Trịnh Đình Tùng - Trần Viết Thụ: “Rèn luyện kĩ năng nghiệp vụ sư phạm môn
lịch sử, các tác giả nêu ra các nội dung cơ bản của việc rèn luyện kĩ năng nghiệp vụ sư phạm môn
lịch sử, bao gồm các kĩ năng thực hành như: kĩ năng xây dựng và sử dụng các loại đồ dùng trực
quan; kĩ năng sử dụng SGK và xây dựng, sử dụng hồ sơ tư liệu; kĩ năng tổ chức các hoạt động ngoại
khóa và công tác công ích xã hội. Tuy nhiên, đây là cuốn sách rèn luyện kĩ năng, nghiệp vụ sư phạm
cho đối tượng là các sinh viên nên không đưa ra các biện pháp cụ thể nhằm rèn luyện kĩ năng thực
hành cho HS.
* Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hướng dẫn HS làm bài tập thực hành trong dạy học lịch sử
Lịch sử ở lớp 7 trường trung học cơ sở.
* Phạm vi nghiên cứu: + Phạm vi kiến thức: tập trung tìm hiểu một số phương pháp hướng dẫn
HS làm các bài tập thực hành trong dạy học phần lịch sử Việt Nam từ thế kỉ X đến giữa thế kỉ XIX ở
lớp 7 trường THCS.
+ Phạm vi điều tra: thực nghiệm sư phạm đối tượng HS lớp 7 THCS ở một số trường
THCS trên địa bàn Huyện Từ Liêm - Thành phố Hà Nội (trường Việt - Úc Hà Nội, trường THCS
Đoàn Thị Điểm, trường Lômônôxốp, trường THCS Cầu Giấy…).
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở khẳng định vai trò, ý nghĩa của việc hướng dẫn
HS làm bài tập thực hành, đề tài đi sâu xác định hệ thống bài tập thực hành lịch sử và đề xuất
phương pháp hướng dẫn HS làm bài tập thực hành trong dạy học lịch sử Việt Nam lớp 7 THCS nhằm
góp phần nâng cao chất lượng bộ môn.
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
+ Tìm hiểu lý luận tâm lý, giáo dục, giáo dục lịch sử về việc hướng dẫn HS làm bài
tập thực hành trong dạy học lịch sử ở trường THCS.
+ Tiến hành điều tra cơ bản để làm rõ thực trạng dạy học môn lịch sử ở trường THCS
nói chung, thực trạng của việc hướng dẫn cho HS làm bài tập thực hành trong dạy học lịch sử nói
riêng.
+ Tìm hiểu chương trình lịch sử lớp 7 THCS, phần lịch sử Việt Nam từ thế kỉ X đến
giữa thế kỉ XIX và thiết kế hệ thống bài tập thực hành và phương pháp hướng dẫn HS làm bài tập
thực hành (theo hướng phát huy tính tích cực học tập của HS).
+ Tiến hành thực nghiệm sư phạm nhằm khẳng định cơ sở khoa học và tính khả thi
của đề tài nghiên cứu.
4. Cơ sở phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
- Cơ sở phương pháp luận của đề tài là dựa trên những quan điểm của chủ nghĩa
Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm đường lối của Đảng và Nhà nước ta về lịch sử, giáo
dục.
- Phương pháp nghiên cứu:
+ Nghiên cứu lí thuyết: Nghiên cứu tài liệu của các tác gia kinh điển, các tài liệu
LÀM BÀI TẬP THỰC HÀNH TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƢỜNG THCS
1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Khái niệm
Hướng dẫn học sinh làm bài tập thực hành lịch sử: là công việc GV tiến hành trong quá trình
giảng dạy nhằm chỉ bảo cho HS cách thức, phương pháp tiến hành giải quyết nhiệm vụ của các bài
tập thực hành lịch sử một cách phù hợp.
1.1.2 Các loại bài tập thực hành trong môn lịch sử
- Bài tập lập niên biểu, thống kê
- Bài tập vẽ sơ đồ, biểu đồ, đồ thị
- Bài tập vẽ và sử dụng lược đồ, bản đồ.
- Bài tập vận dụng kiến thức
1.1.3 Xuất phát điểm của việc hướng dẫn học sinh làm bài tập thực hành trong dạy học lịch sử ở
trường THCS
1.1.3.1 Mục tiêu dạy học
Môn lịch sử ở THCS nhằm giúp HS nắm được những kiến thức cơ bản, cần thiết về lịch sử
dân tộc và lịch sử thế giới. Đó là cơ sở bước đầu cho việc hình thành thế giới quan khoa học, giáo
dục lòng yêu quê hương, đất nước, truyền thống dân tộc, tạo cho HS có năng lực tư duy, hành động,
có thái độ ứng xử đúng đắn trong đời sống xã hội. Cụ thể học xong chương trình lịch sử trung học
cơ sở, HS cần đạt được những yêu cầu sau:
Về kiến thức
HS có được những hiểu biết một cách toàn diện về các mặt kinh tế, xã hội, chính trị, quân sự,
văn hóa, giáo dục, tư tưởng của lịch sử thế giới và lịch sử dân tộc từ khi con người xuất hiện đến nay,
trải qua các hình thái kinh tế - xã hội kế tiếp nhau trong sự phát triển xã hội hợp quy luật. Qua việc
nắm vững kiến thức lịch sử, HS còn được trang bị những kiến thức quan trọng về phương pháp học
tập bộ môn nhằm nâng cao hiệu quả của quá trình học tập.
Về tình cảm, thái độ, tư tưởng
Việc học tập bộ môn lịch sử ở cấp THCS có tác dụng bồi dưỡng lòng yêu nước,
tinh thần quốc tế chân chính ở HS. Các em có ý thức trân trọng đối với các dân tộc, các nền văn hóa
trên thế giới và bảo vệ, phát huy truyền thống văn hóa dân tộc. Từ đó, hình thành những phẩm chất
cần thiết của một thiếu niên, HS, chuẩn bị tư cách của một công dân tương lai (có thái độ tích cực vì
bảo và hướng dẫn của GV. HS chỉ thể hiện vai trò chủ thể của mình khi GV coi trọng việc dạy cho
HS cách học và tự khám phá tri thức mới hơn là truyền đạt kiến thức. Chính sự định hướng, hướng
dẫn một cách khoa học của GV cho HS khi tiến hành giải quyết các bài tập thực hành sẽ giúp các em
phát huy được những năng lực tư duy độc lập, tự lực chiếm lĩnh tri thức và làm biến đổi bản thân một
cách tích cực.
1.1.3.5 Yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học
Cốt lõi của việc đổi mới việc dạy và học là hướng tới hoạt động học tập chủ động, chống lại
thói quen học tập thụ động. Nói cách khác, mục đích của việc đổi mới PPDH ở trường phổ thông là
thay đổi lối dạy học truyền thụ một chiều sang dạy học theo “phương pháp dạy học tích cực” nhằm
làm cho “học” là quá trình kiến tạo. Theo tinh thần này HS là người tự tìm tòi, khám phá, phát hiện,
luyện tập, khai thác và xử lí thông tin… tự hình thành hiểu biết, năng lực và phẩm chất. GV là người
tổ chức hoạt động nhận thức cho HS, dạy các em cách thức, con đường tìm ra chân lí. Chú trọng hình
thành các năng lực (tự học, sáng tạo, hợp tác…) dạy phương pháp và kĩ thuật lao động khoa học, dạy
cách học. Yêu cầu và hướng dẫn HS làm các bài tập thực hành là thực hiện tích cực hóa, hoạt động
hóa, đa dạng hóa các hoạt động học tập của HS.
1.1.4 Vai trò, ý nghĩa của việc hƣớng dẫn học sinh làm bài tập thực hành trong dạy học Lịch
sử ở trƣờng THCS
1.1.4.1 Vai trò
Hướng dẫn HS làm bài tập thực hành có vai trò quan trọng trong dạy học lịch sử ở trường
phổ thông. Đó chính là phương tiện nhằm thực hiện nguyên lí giáo dục của Đảng theo phương châm:
“học đi đôi với hành”, “lí luận gắn liền với thực tiễn”.
Thông qua việc hướng dẫn HS làm bài tập thực hành, các em nhận thức từ hiện vật, các bằng
chứng khoa học về quá khứ để nhận biết chính xác và tìm hiểu sâu sắc hơn những sự kiện đã xảy ra.
Bên cạnh đó, học tập lịch sử không chỉ rèn luyện về năng lực nhận thức mà còn phát triển năng lực
hành động độc lập, chủ động giải quyết vấn đề, rèn luyện phương pháp hành động. Do vậy, thông
qua làm bài tập thực hành lịch sử với sự định hướng, hướng dẫn của GV mà HS nắm kiến thức một
cách sâu sắc, biết vận dụng kiến thức vào thực tiễn, góp phần vào sự phát triển chung của xã hội.
Hướng dẫn HS làm bài tập thực hành lịch sử còn là biện pháp hữu hiệu phát huy tính tích cực,
độc lập nhận thức của HS để nâng cao chất lượng dạy học bộ môn. Qua các phương pháp hướng dẫn
cụ thể, GV sẽ khơi gợi, kích thích tư duy nhận thức, hứng thú học tập của HS; làm cho các em tích
HS các năng lực nhận thức, trong đó quan trọng là tư duy (tưởng tượng, phân tích, so sánh, khái quát
hóa, trừu tượng hóa ). Thứ hai, hướng dẫn HS làm bài tập thực hành không chỉ dừng lại ở việc phân
tích, khái quát, so sánh… để tìm ra bản chất sự kiện mà còn hình thành cho HS các kỹ năng bộ môn
(đánh giá sự kiện lịch sử, xác định không gian, thời gian…) và kỹ năng thực hành bộ môn như vẽ bản
đồ, lập niên biểu…Thông qua các bài tập thực hành, HS sẽ có những biểu tượng lịch sử sinh động và
chân thực, phát triển khả năng vẽ, tư duy hình học và óc sáng tạo. Ngoài ra, trong dạy học lịch sử ở
trường phổ thông thì làm bài tập thực hành và hướng dẫn HS làm bài tập thực hành còn giúp HS liên
hệ kiến thức sách vở với thực tế cuộc sống.
1.2 Cơ sở thực tiễn
Để tìm hiểu thực tiễn, chúng tôi đã tiến hành điều tra, khảo sát đối với GV và HS ở một số
trường trên địa bàn Huyện Từ Liêm như: Trường Việt - Úc Hà Nội, Trường Lômônôxôp, Trường
THCS Cầu Giấy, Trường THCS Đoàn Thị Điểm…và đưa ra những kết luận về thực trạng của việc
hướng dẫn HS làm bài tập thực hành ở trường THCS.
1.2.1 Kết quả điều tra, khảo sát
1.2.1.1 Về phía giáo viên
Qua điều tra thăm dò ý kiến, đa số GV đều nhận thức được sự cần thiết đổi mới PPDH trong
giảng dạy lịch sử, đặc biệt là việc sử dụng bài tập thực hành và hướng dẫn HS làm bài tập thực hành.
Các GV đều nhất trí cho rằng: hướng dẫn HS làm bài tập thực hành trong dạy học lịch sử ở trường
phổ thông có tác dụng nhiều mặt đặc biệt là gây hứng thú học tập, phát triển tư duy độc lập, rèn
luyện kỹ năng thực hành bộ môn cho HS.
Bên cạnh đó vẫn còn một bộ phận GV nhận thức về vấn đề hướng dẫn HS làm bài tập thực hành lịch
sử chưa sâu sắc, đồng thời họ còn gặp nhiều khó khăn lúng túng trong việc xây dựng và phương pháp
hướng dẫn HS làm bài tập. Qua dự giờ một số GV chúng tôi thấy rằng hầu hết thời gian ở trên lớp
GV dành cho việc truyền đạt kiến thức mới. Khâu hướng dẫn HS làm các bài tập thực hành chỉ
mang tính qua loa, chiếu lệ mà không có sự đầu tư biên soạn bài tập và tìm tòi, nghiên cứu để lựa
chọn các phương pháp hướng dẫn HS làm bài tập một cách phù hợp, hiệu quả.
1.2.1.2 Về phía học sinh
HS THCS đã có ý thức làm bài tập thực hành lịch sử xong chưa được hướng dẫn
đầy đủ về phương pháp dẫn đến kỹ năng phân tích tổng hợp, hệ thống hóa, khái quát hóa và đặc biệt
là những kỹ năng thực hành bộ môn còn yếu. Nguyên nhân của tình trạng này có nhiều, song chủ yếu
2.1.2.2 Về thái độ
Bồi dưỡng cho HS lòng yêu nước, yêu quê hương và tự hào với truyền thống dân tộc. Hình
thành ở các em lòng khâm phục, kính trọng, biết ơn sâu sắc đối với các anh hùng dân tộc đã có công
trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Có niềm tin về sự phát triển đi lên của lịch sử dân tộc. Nâng cao
lòng ham thích môn học Lịch sử; ý thức trách nhiệm, sự nỗ lực vươn lên trong học tập và lao động
vì dân tộc trong tương lai.
2.1.2.3 Về kỹ năng
Rèn luyện cho HS tinh thần học tập chủ động, tích cực, kĩ năng sử dụng lược đồ, lập biểu
bảng, thống kê ; đồng thời giúp HS tập sử dụng SGK, quan sát hiện vật, hình ảnh, lược đồ, bản đồ,
sơ đồ, biểu đồ để: nêu nhận xét cần thiết, biết so sánh, đối chiếu các sự kiện, sử liệu, hiện tượng lịch
sử để suy nghĩ độc lập và trao đổi, thảo luận, xây dựng bài học ở lớp. Xây dựng cho HS một phong
cách học tập chủ động, tích cực, biết vận dụng những kiến thức đã học vào cuộc sống.
2.1.3 Nội dung cơ bản của phần lịch sử Việt Nam lớp 7 cần tập trung xây dựng bài tập thực hành
2.1.3.1 Nội dung 1: Buổi đầu độc lập thời Ngô - Đinh - Tiền Lê (TK X)
Với việc xây dựng chính quyền độc lập, tự chủ; đánh tan giặc ngoại xâm chính là điều kiện
thuận lợi để đất nước thời Đinh - Tiền Lê bước đầu phát triển về kinh tế, văn hóa, xã hội và thực hiện
chính sách đối ngoại tích cực.
2.1.3.2 Nội dung 2: Nước Đại Việt thời Lý (TK XI - XII)
Năm 1010, nhà Lý dời đô từ Hoa Lư về Thăng Long tạo điều kiện cho đất nước phát triển về
mọi mặt. Từ năm 1075 – 1077, nhà Lý đã đánh thắng quân xâm lược Tống, bảo vệ và giữ vững chủ
quyền quốc gia - dân tộc.
2.1.3.3 Nội dung 3: Nước Đại Việt thời Trần (TK XII - XIV)
Nhà Trần tiếp tục củng cố chế độ quân chủ tập quyền, phục hồi và phát triển kinh tế; đồng
thời tiến hành thắng lợi ba lần kháng chiến chống quân xâm lược Mông - Nguyên. Nhà Hồ lên nắm
quyền trong bối cảnh đất nước khủng hoảng, đứng trước nguy cơ xâm lược của nhà Minh. Hồ Quý
Ly đã tiến hành cuộc cải cách toàn diện về mọi mặt với nhiều điểm tiến bộ, tuy nhiên cuộc cải cách
vẫn còn không ít hạn chế nên không đáp ứng được yêu cầu của lịch sử dân tộc.
2.1.3.4 Nội dung 4: Đại Việt thời Lê sơ (TK XV - đầu TK XVI)
Nước Đại Việt thời Lê sơ đã phát triển mọi mặt từ chính trị, quân đội, pháp luật đến kinh tế,
2.4.2 Lựa chọn phương pháp hướng dẫn phải phù hợp, phát huy tính tích cực của HS
2.4.3 Đảm bảo tính đa dạng và sự linh hoạt trong sử dụng các PP hướng dẫn
2.4.4 Kiểm tra, đánh giá kết quả làm bài tập thực hành của học sinh
2.5 Một số phƣơng pháp hƣớng dẫn học sinh làm bài tập thực hành trong dạy học phần lịch sử
Việt Nam ở lớp 7 trƣờng trung học cơ cở
2.5.1 Đối với bài tập lập niên biểu
- Trước hết GV cần cho HS phân biệt được các dạng khác nhau của niên biểu và sự phù hợp của
dạng niên biểu với từng loại bài tập.
- Bước tiếp theo là tìm hiểu cấu trúc niên biểu: các vấn đề cần trình bày (thông thường niên biểu có 3
phần: thời gian, các sự kiện chính, ý nghĩa sự kiện), thiết lập các cột tương ứng với các đơn vị kiến
thức và sắp xếp cột cho hợp lí.
- Sau bước hướng dẫn HS tìm hiểu cấu trúc niên biểu, GV tiếp tục hướng dẫn HS dựa vào SGK, kiến
thức bài học để tìm thông tin hoàn thành nội dung của niên biểu.
- Bước cuối cùng, GV hướng dẫn HS rút ra những nhận xét, đánh giá của mình về phần nội dung
kiến thức vừa hoàn thành.
2.5.2 Đối với bài tập rèn luyện kỹ năng sử dụng lược đồ lịch sử
- Trước hết, GV phải hướng dẫn HS hiểu các ký hiệu thường được sử dụng trong bản đồ, lược đồ lịch sử.
- Thứ hai, GV hướng dẫn HS nghiên cứu bản chú dẫn để đọc được bản đồ, lược đồ; nghĩa là hiểu một
cách cụ thể nội dung các sự kiện lịch sử diễn đạt bằng ngôn ngữ lược đồ; từ đó rút ra những kết luận.
- Thứ ba, HS thực hiện những yêu cầu đặt ra của bài tập như điền địa danh, nhân vật lịch sử hoặc tô
màu vào các kí hiệu để trống trên lược đồ. Với bước làm việc này, GV cần lưu ý HS: xác định rõ
yêu cầu của bài tập; dựa vào nội dung SGK và kiến thức bài học để lựa chọn thông tin và thông tin
đó phải là thông tin chính tiêu biểu, chính xác.
- Bước cuối cùng trong làm bài tập rèn luyện kĩ năng sử dụng lược đồ là HS liên kết các thông tin để trình
bày kiến thức. Đối với bước này GV định hướng cho các em lựa chọn những nội dung, sự kiện cơ bản để
trình bày, tránh việc ôm đồm trình bày quá nhiều kiến thức, sự kiện; kết hợp nhịp nhàng giữa việc trình
bày với việc chỉ lược đồ sao cho chính xác; ngôn ngữ thuyết trình đảm bảo tính khoa học.
2.5.3 Đối với bài tập rèn luyện kĩ năng vẽ sơ đồ
- Bước 1: Hướng dẫn HS biết và hiểu được các quy ước về sơ đồ.
- Bước 2: GV phải hướng dẫn HS xác định đúng nội dung kiến thức cơ bản của đề bài yêu cầu, bởi
2.6.2 Đối tượng, địa bàn thực nghiệm
Đối tượng thực nghiệm mà chúng tôi lựa chọn là khối lớp 7 của trường THCS Việt - Úc Hà Nội.
2.6.3 Nội dung thực nghiệm
- Để kiểm tra tác dụng của các phương pháp hướng dẫn HS làm bài tập thực hành đối với việc
nhớ, hiểu kiến thức và rèn luyện các kĩ năng thực hành bộ môn của HS, chúng tôi đã quyết định chọn
bài 17 “Ôn tập chương II và chương III” làm nội dung thực nghiệm.
2.6.4 Phương pháp tiến hành thực nghiệm
Sau khi thăm dò ý kiến của HS và trao đổi thống nhất với các GV trong tổ bộ môn, chúng tôi
đã quyết định chọn lớp 7 V1 là lớp thực nghiệm, lớp 7 V2 là lớp đối chứng. Đây là các lớp được lựa
chọn theo nguyên tắc chất lượng, trình độ nhận thức, môi trường học tập, lứa tuổi, số lượng… không
có sự khác biệt nhiều. Lớp thực nghiệm dạy theo giáo án mà tác giả luận văn soạn, còn lớp đối chứng
dạy theo giáo án bình thường - GV không hướng dẫn cụ thể các bước làm bài tập thực hành cho HS.
Sau khi kết thúc bài học ở cả lớp thực nghiệm và lớp đối chứng, chúng tôi tiến hành kiểm tra
sự lĩnh hội kiến thức và kĩ năng làm bài tập thực hành của HS với nội dung và phương pháp như
nhau (câu hỏi kiểm tra - xem phần phụ lục). Thực hiện chấm bài ở cả hai lớp, tổng kết số liệu thì
chúng tôi có kết quả sau đây:
2.6.5 Kết quả thực nghiệm
* Về mặt định tính: Thông qua quan sát để đưa ra những đánh giá đối với HS khi làm đề
kiểm tra về tinh thần, thái độ, hứng thú kiểm tra, năng lực tư duy, tính độc lập trong học tập, khả
năng sáng tạo, ý thức làm bài…
* Về mặt định lƣợng: Đề kiểm tra được đánh giá dựa theo hệ thống các mục tiêu về giáo
dưỡng, giáo dục và kỹ năng.
* Thu thập và phân tích kết quả thực nghiệm:
Sau khi tiến hành cho HS làm đề kiểm tra theo đúng quy trình, chấm bài theo thang điểm đã
quy định, xếp loại HS ở các mức là giỏi (9 10 điểm), khá (7 8 điểm), trung bình (5 6 điểm)
và yếu - kém ( 0 4 điểm). Các đề kiểm tra đối chứng của GV vẫn được thực hiện bình thường,
chúng tôi tiến hành phân tích và thấy được sự phân hóa kết quả của HS ở lớp đối chứng và lớp thực
nghiệm là khá chênh lệch:
Bảng thống kê số điểm bài kiểm tra thực nghiệm học sinh
52,6
15
39,5
3
7,9
+ Ở lớp thực nghiệm (7V1): kết quả nhìn chung cao hơn ở lớp đối chứng. Cụ thể tiến hành thực
nghiệm với tổng số 40 HS: điểm khá - giỏi có 32 HS tương ứng với 80 %, điểm trung bình có 7 HS
tương ứng với 17,5% và điểm yếu là 1 HS tương ứng với 2,5 %.
+ Ở lớp đối chứng (7V2): Ở các lớp đối chứng kết quả thấp hơn thực nghiệm. Cụ thể trong tổng số 38
HS, điểm khá - giỏi có 20 em tương ứng 52,6%, điểm trung bình có 15 em tương ứng với 39,5 % và
điểm yếu kém có 3 tương ứng với 7,9 %. Về sự phân bố tỷ lệ thuận với kết quả ở các lớp thực nghiệm.
Từ kết quả thực nghiệm cho thấy chất lượng học tập của HS lớp thực nghiệm cao hơn lớp đối
chứng, thể hiện như sau:
- Tỉ lệ % HS yếu, kém của các lớp thực nghiệm luôn thấp hơn so với lớp đối chứng.
- Tỉ lệ % HS đạt trung bình, khá giỏi của lớp thực nghiệm luôn cao hơn lớp đối chứng.
Nhận xét chung:
- Theo kết quả của thực nghiệm giúp chúng tôi bước đầu có thể kết luận rằng HS ở lớp thực
nghiệm có kết quả cao hơn ở lớp đối chứng sau khi sử dụng phương pháp mà chúng tôi đã đề xuất.
- Ở lớp thực nghiệm số HS phát biểu xây dựng bài nhiều hơn hẳn so với lớp đối chứng. Hoạt
động độc lập của HS có hiệu quả cao, kĩ năng thực hành: lập bảng thống kê, vẽ sơ đồ, sử dụng lược
đồ, quan sát, phân tích, phán đoán, so sánh và các kĩ năng hoạt động nhóm của học sinh ở lớp thực
nghiệm tốt hơn so với lớp đối chứng.
- Không khí lớp học, các em thường tranh luận về cách giải quyết các bài tập một cách tích
cực. Điều đó chứng tỏ: khi sử dụng các bài tập thực hành thí nghiệm kết hợp với các kĩ thuật dạy học
hiện đại đã kích thích tính tích cực, sáng tạo của học sinh, tạo điều kiện cho các em trở thành người
chủ động trong việc chiếm lĩnh kiến thức, củng cố kiến thức và rèn luyện kĩ năng.
Qua kết quả thực nghiệm trên cho thấy HS ở lớp thực nghiệm đạt kết quả cao hơn khi trả lời
câu hỏi kiểm tra, chứng tỏ rằng các em nắm vững kiến thức và mức độ hiểu bài sâu hơn. Như vậy
việc thiết kế bài học trên lớp theo hướng tích cực hóa, phát tính độc lập nhận thức của HS kết hợp
các bài tập thực hành về nhà có chất lượng, thường xuyên kiểm tra, đánh giá bài tập của HS.
- Đối với mỗi GV cần chú trọng thực hiện vai trò biên soạn các bài tập có chất lượng, tổ chức,
có phương pháp hướng dẫn HS làm bài tập hiệu quả.
References.
1. GS.TS Nguyễn Thị Côi - Phạm Thị Kim Anh (1994), “Hướng dẫn học sinh làm bài tập lịch sử”,
Tạp chí Nghiên cứu giáo dục (6), tr.13-14.
2. Nguyễn Thị Côi, Trịnh Đình Tùng, Lại Đức Thụ, Trần Đức Minh (2009), Rèn luyện kỹ năng
nghiệp vụ sư phạm môn lịch sử. Nhà xuất bản Đại học Sư phạm, Hà Nội.
3. Nguyễn Thị Côi (2008), Các con đường, biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học lịch sử ở trường
phổ thông. Nhà xuất bản Đại học Sư phạm, Hà Nội.
4. Nguyễn Thị Côi - Chủ biên (2010), Hướng dẫn sử dụng kênh hình trong sách giáo khoa lịch sử
trung học cơ sở (Phần LSVN). Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam.
5. Nguyễn Thị Côi (Chủ biên) - Trịnh Đình Tùng - Trần Viết Thụ (2011), Rèn luyện kĩ năng
nghiệp vụ sư phạm môn Lịch sử. Nhà xuất bản Đại học Sư phạm, Hà Nội.
6. N.G Đairi (1973), Chuẩn bị giờ học lịch sử như thế nào. Nhà xuất bản Giáo dục, Matxcơva.
7. Đảng cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI. Nhà xuất bản
Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
8. Phạm Văn Đồng (1990), Về vấn đề giáo dục và đào tạo. Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội.
9. Lê Văn Hồng - Chủ biên (2009), Tâm lí học lứa tuổi và tâm lí học sư phạm. Nhà xuất bản Đại
học Quốc gia, Hà Nội.
10. Đặng Thành Hƣng (2001), Lý luận dạy học hiện đại. Nhà xuất bản Đại học Quốc gia, Hà Nội.
11. I.F Khalamôp (1979), Phát huy tính tích cực của học sinh như thế nào. Nhà xuất bản Giáo dục,
Hà Nội.
12. I.Ia.Lecne (1977), Dạy học nêu vấn đề. Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội.
13. Phan Ngọc Liên, Trịnh Đình Tùng - Chủ biên (1999), Phát huy tính tích cực của học sinh
trong dạy học lịch sử ở trường THCS. Sách bồi dưỡng thường xuyên chu kỳ 1997 – 2000, Nhà xuất
bản Giáo dục, Hà Nội.
14. Phan Ngọc Liên, Trần văn Trị (1992), Phương pháp dạy học lịch sử. Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội.
15. Phan Ngọc Liên (Chủ biên) - Nguyễn Thị Côi - Trịnh Đình Tùng (2010), Phương pháp dạy