ĐẶC ĐIỂM CỦA TÙY BÚT, BÚT KÍ TRONG VĂN HỌC CÁCH MẠNG VIỆT NAM 1954-1975 - Pdf 29

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH Võ Thị Hải Chi
Chuyên ngành : Lí luận Văn Học
Mã số : 60 22 32

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. NGUYỄN HOÀI THANH
Thành Phố Hồ Chí Minh - 2010
THƯ
VIỆNLỜI CẢM ƠN

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành sâu sắc đến:
- TS. Nguyễn Hoài Thanh – người đã gợi ý cho tôi về đề tài luận văn này, đồng thời

công trình nghiên cứu về tùy bút giai đoạn 1930 – 1945 hay giai đoạn 1975 – 2000. Nhưng
tùy bút, bút kí giai đoạn 1954 – 1975 thì vẫn chưa được chú ý nhiều, chưa có một công trình
nào nghiên cứu một cách toàn diện. Chính vì thế nghiên cứu tùy bút, bút kí giai đoạn 1954 –
1975 thật sự là một điều cần thiết để có cái nhìn tổng thể về hai thể loại này trong lịch sử văn
học Việt Nam.
Mặt khác, hiện nay có khá nhiều tác phẩm kí được trích giảng trong chương trình Ngữ
Văn Trung học cơ sở và Trung học phổ thông, là một giáo viên đang trực tiếp giảng dạy, tôi
thiết nghĩ việc tìm hiểu tùy bút, bút kí giai đoạn 1954 – 1975 là rất quan trọng và có ý nghĩa
thực tiễn.
Vì thế tôi chọn đề tài Đặc điểm của tùy bút, bút kí trong văn học cách mạng Việt Nam
giai đoạn 1954 – 1975 cho bản luận văn này.

2. Mục đích, phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu tùy bút, bút kí giai đoạn 1954 - 1975 nhằm xác định những đặc điểm cơ
bản về nội dung và nghệ thuật của các tác phẩm thuộc hai thể loại này, qua đó thấy được
những đóng góp của tùy bút, bút kí đối với văn học cách mạng Việt Nam. Từ đó sẽ có được
những tư liệu quan trọng phục vụ công tác giảng dạy.
Văn học 1954 – 1975 là giai đoạn văn học gặt hái được nhiều thành tựu ở nhiều thể
loại như tiểu thuyết, thơ, truyện ngắn, kí…. Đặc biệt là vào thập niên sáu mươi, thể kí với sự
nở rộ của nhiều thể loại đã tạo được sự chú ý của đông đảo bạn đọc và giới nghiên cứu.
Riêng tùy bút, bút kí, đã có rất nhiều tác phẩm ra đời có giá trị cao cả về nội dung lẫn nghệ
thuật định hình được phong cách của nhiều nhà văn. Tuy nhiên trong khuôn khổ của luận
văn, người viết không thể bao quát được tất cả những tác phẩm của hai thể loại ra đời trong
hơn hai mươi năm mà chỉ tiếp cận những tác phẩm nổi bật, có sức ảnh hưởng lớn đối với đời
sống văn học và cũng phần nào làm nên tên tuổi của nhà văn. Đó là những tác phẩm tiêu
biểu của những nhà văn như: Nguyễn Tuân, Chế Lan Viên, Nguyễn Thi, Nguyễn Trung
Thành, Anh Đức, Bùi Hiển, Thép Mới, Trần Hiếu Minh, Khánh Vân,… và một số tác phẩm
của các tác giả khác đã in chung ở một số sách.
3. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
3.1. Nghiên cứu chung về tùy bút, bút kí giai đoạn 1954 – 1975

giành lại độc lập tự do”[48].
Trong năm 2007, luận văn thạc sĩ của Võ Thị Bích Hiền – Trường Đại học Khoa học
xã hội và nhân văn – Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh với đề tài Tùy bút Việt Nam
giai đoạn 1975 – 2000, có phác thảo một vài nét về tùy bút giai đoạn 1954 – 1975 trong quá
trình phát triển của tùy bút Việt Nam…
3.2. Nghiên cứu về từng tác giả
3.2.1. Bút kí Anh Đức
Chu Nga trong bài viết bàn về Phong cách trữ tình trong sáng tác của Anh Đức, đã
lấy bút kí của Anh Đức làm đối tượng trung tâm để nghiên cứu “Đọc các bút kí của anh,
chúng ta luôn luôn có cảm giác như anh đang trực tiếp nói chuyện với ta. Anh kể cho ta nghe
về vùng quê anh – Cà Mau – nơi “cuối đất” của Tổ quốc, về những gian nan vất vả mà đồng
bào ta trong ấy đã trải qua trên hai mươi năm trời chiến đấu. Nhưng điều chính nhất mà anh
kể trong thư có lẽ vẫn là những thắng lợi ngày càng lớn mà đồng bào miền Nam đã giành
được kể từ sau ngày đồng khởi”[56].
Diệp Minh Tuyền đánh giá cao bút kí của Anh Đức ở nhiều khía cạnh như nghệ thuật
miêu tả, ngôn ngữ. Tác giả kết luận “Các bài bút kí của anh có cái chiều dài rộng lớn của
không gian bao la và cái chiều dài của thời gian đằng đẵng”[89].
Trong bài viết về tác giả Anh Đức, tác giả Phạm Văn Sĩ nhận xét “bút kí của Anh Đức
giàu tính chất hiện thực và viết khá duyên dáng”[68/253], tiếp đó tác giả phân tích những
biểu hiện nội dung, nghệ thuật của các bài bút kí để minh chứng cho nhận định trên.
Bàn về thiên nhiên trong tác phẩm của Anh Đức, đặc biệt trong bút kí, tác giả Hoài
Anh nhận xét “Anh không những đã có vốn sống viết về những cái thực sự mình nếm trải mà
còn có năng lực cảm thụ thiên nhiên, nhạy bén nắm bắt những thay đổi tinh tế trong cảnh sắc
thiên nhiên ở vùng đất Rạch Giá, Cà Mau và nói chung là miền Tây Nam Bộ”[2], ….
3.2.2. Tùy bút, bút kí Nguyễn Trung Thành
Phạm Văn Sĩ đã có những nhận xét rất xác đáng về tùy bút cũng như bút kí của
Nguyễn Trung Thành, đặc biệt là về giá trị và sức ảnh hưởng của những tác phẩm này, ông
cho rằng “Tùy bút của Nguyễn Trung Thành mang những suy nghĩ của tác giả về cuộc kháng
chiến hôm nay, về lịch sử dân tộc hôm qua và nói lên thái độ sắt son khảng khái của nhà văn
được bạn đọc chúng ta xem như một tuyên ngôn chống Mĩ, cứu nước của nhà văn miền

“Tập bút kí của Trần Hiếu Minh có tác dụng giáo dục tích cực, kịp thời, trước hết là vì
những chất liệu mà tác giả khai thác là những chất liệu rất quý giá, rút ra từ trong thực tế
máu lửa của chiến tranh và của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, rút ra từ trong ngọn lửa đồng
khởi, ngay trên mảnh đất quê hương của đồng khởi. Tập bút kí viết kịp thời nóng hổi không
khí cách mạng và khí thế anh hùng của người Bến Tre, đóng góp vào việc thúc đẩy sự nghiệp
chống Mĩ của nhân dân miền Nam.”[68/289].
3.2.5. Bút kí Bùi Hiển
Trong quá trình đi lâu dài trên trên vùng tuyến lửa khu 4, Bùi Hiển viết khá nhiều bút
kí. Phần lớn những bài viết đó đã được tập hợp trong Đường lớn và tập Trong gió cát (Trong
gió cát in chung với một số truyện ngắn).
Nguyễn Cương trong bài Đọc Đường lớn, bút kí của Bùi Hiển viết “Ấn tượng sâu nhất
còn để lại sau khi đọc tập bút kí này là những bài viết về tội ác đẫm máu của giặc Mĩ. Những
bài viết đó tuy chiếm số ít nhưng gây được nhiều xúc động ở người đọc. Đó là Nợ máu và
đặc biệt: Chúng nó là một lũ đê hèn”[8].
Tuy nhiên người viết bài này cũng có nhắc đến một vài khuyết điểm của tập bút kí
“Nếu như chỗ mạnh của anh là quan sát tỉ mỉ, công phu, sử dụng đến mức cao nhất tiếng nói
của bản thân chất liệu cuộc sống thì chỗ yếu của anh lại chính là sự việc có lúc bị đưa vào
quá nhiều, chưa thành những điểm tựa để khi đứng cạnh nhau làm bật lên những vấn đề của
cuộc sống. Nhược điểm đó làm cho vài bài viết của anh trở nên bằng phẳng và tản mạn”[8].
Tác giả Nguyễn Phan Ngọc lại ấn tượng với năm bài bút kí của Bùi Hiển, đó là Bám
biển, Về Đại Phong, Nhật kí Vĩnh Linh, Trong gió cát, Chúng ta chiến đấu và chiến thắng,
ông viết “Năm bài bút kí đã giúp tôi hiểu thêm những con người Việt Nam mới, dũng cảm,
đầy khí phách anh hùng, đầy tinh thần chiến đấu và chiến thắng; biết rõ thêm cuộc sống mới,
cuộc sống mỗi ngày mỗi phát triển vô cùng nhanh chóng và diệu kì.”[60].
3.2.6. Tùy bút, bút kí Chế Lan Viên.
Các bài viết của Phan Hồng Giang, Hoàng Như Mai đều ca ngợi giá trị của tập bút kí
Những ngày nổi giận. Đọc xong cuốn sách, Hoàng Như Mai có cảm giác “Tôi thấy lòng
mình bình tĩnh, và tôi chắc rằng đó cũng là cảm tưởng của nhiều người” và khẳng định “tập
bút kí của Chế Lan viên những điều anh nói, cái cách anh nói đều toát lên điều đó – đánh
giặc Mĩ, đánh thắng”[39].

mạnh là do tác giả có tình cảm cách mạng phong phú, sôi nổi và những tình cảm đó được thể
hiện trong mỗi suy nghĩ, mỗi hình tượng mà anh xây dựng”[24]. Cũng như tác giả Vũ Đức
Phúc, Lê Thị Đức Hạnh cũng nói đến nhược điểm trong bút kí Thép Mới “Thép Mới viết
chưa đều tay, hãy còn những đoạn văn hơi khô, thiếu những hình tượng thật cụ thể, sinh
động và có lúc lại quá thiên về triết lí. Đó đây còn nhắc đi nhắc lại một số hình ảnh quá quen.
Một ít bài còn ở mức tường thuật.”[24].
3.2.8. Tùy bút Nguyễn Tuân
Có thể nói đây là tác giả mà tác phẩm của ông được giới nghiên cứu quan tâm nhiều
nhất. Tuy nhiên tùy bút Nguyễn Tuân trong giai đoạn chống Mĩ thì nổi bật ở một số ý kiến
của các nhà nghiên cứu như Nguyễn Đăng Mạnh, Vương Trí Nhàn, Hà Văn Đức…
Nguyễn Đăng Mạnh trong bài “Con đường Nguyễn Tuân đi đến bút kí chống Mĩ” đã lí
giải, phân tích những đổi thay trong quan niệm nghệ thuật cũng như trong tác phẩm tùy bút
trước và sau cách mạng. “Đến bút kí chống Mĩ, quả thực cuộc sống xã hội đi vào Nguyễn
Tuân có tấp nập hơn, sôi nổi hơn và điều đáng chú ý là những con người trong đó phần nhiều
được anh mô tả một cách khách quan hơn.”[43].
Quan tâm đến đặc điểm thể loại, Hà Văn Đức có bài viết “Tùy bút Nguyễn Tuân sau
cách mạng tháng Tám”, ông nhận thấy tùy bút giai đoạn chống Mĩ của Nguyễn Tuân “Chất
trữ tình đậm đà được kết hợp với chất trí tuệ sắc sảo, với những liên tưởng phong phú, táo
bạo bất ngờ đã làm nên nét độc đáo riêng biệt của Nguyễn Tuân” hay “đặc sắc trong tùy bút
của Nguyễn Tuân còn ở cái tài kể chuyện rất vui, rất hóm và có duyên của ông.”[18].
Gần đây, năm 2004, Nguyễn Thị Hồng Hà trong luận án tiến sĩ Ngữ Văn Trường Đại
học Khoa học xã hội và nhân văn – Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, với đề tài Đặc
trưng tùy bút Nguyễn Tuân, đã nêu lên toàn bộ đặc trưng tùy bút Nguyễn Tuân cả về nội
dung và nghệ thuật, trong đó những tác phẩm tùy bút giai đoạn 1954 – 1975 của Nguyễn
Tuân cũng được quan tâm rất nhiều. Đặc biệt về hai tập tùy bút nổi tiếng Sông Đà và Hà Nội
ta đánh Mĩ giỏi, tác giả luận án đã cho rằng: “Nếu Sông Đà là một bộ tranh liên hoàn hoành
tráng diễn tả vẻ đẹp độc đáo cùng khí thế mở mang lao động đất nước, với chất men lãng
mạn đầy chất thơ; thì Hà nội ta đánh Mĩ giỏi là thiên anh hùng ca của tọa độ lửa kiên cường,
do chính một nhà văn gốc Hà Nội viết. Nó thể hiện được bản lĩnh văn hóa cao đẹp của thủ đô
nghìn năm văn hiến”[22/33]…

Chương 3. Bút pháp đa dạng, linh hoạt.(đặc trưng về nghệ thuật)
Chương 1
DIỆN MẠO VÀ VỊ TRÍ CỦA TÙY BÚT, BÚT KÍ VĂN HỌC TRONG
VĂN HỌC CÁCH MẠNG VIỆT NAM 1954 – 1975

Kí là một thể loại văn học “áp sát” đời sống. Thể loại tùy bút, bút kí giai đoạn này đã
bám sát, phản ánh kịp thời hiện thực đời sống. Để tìm hiểu thành tựu của hai thể loại này,
Luận văn xin trình bày khái quát về bối cảnh lịch sử giai đoạn 1954 – 1975. Trên cơ sở đó
phác họa diện mạo của hai thể loại và tìm hiểu vị trí của nó trong bức tranh chung của văn
học cách mạng giai đoạn này.
1.1. Bối cảnh lịch sử, xã hội Việt Nam giai đoạn 1954 – 1975
Giai đoạn lịch sử 1954 – 1975 xã hội Việt Nam có nhiều biến đổi quan trọng, nhiều sự
kiện liên tiếp nổ ra đã tác động lớn đối với vận mệnh dân tộc. Có thể thấy những biến động
đó trong những chặng đường lịch sử sau:
1.1.1. Từ năm 1954 đến năm 1964
Chiến thắng Đông – xuân 1953 – 1954 mà đỉnh cao là chiến thắng Điện Biên Phủ
(ngày 7-5-1954) đã buộc thực dân Pháp phải kí hiệp định Giơnevơ, rút quân về nước lập lại
hoà bình trên cơ sở thừa nhận chủ quyền dân tộc của ba nước Đông Dương, kết thúc thắng
lợi cuộc kháng chiến chống Pháp. Tuy nhiên do tình hình chính trị thế giới phức tạp, Việt
Nam tạm thời bị chia làm hai miền với hai chế độ chính trị khác nhau: miền Bắc đã hoàn
toàn giải phóng và đi lên chủ nghĩa xã hội, miền Nam tạm thời bị đế quốc Mĩ và các lực
lượng tay sai thống trị. Vì thế sự nghiệp cách mạng vẫn chưa hoàn thành. Hai yêu cầu đặt ra
là xây dựng miền Bắc và giải phóng miền Nam thống nhất đất nước.
Đối với miền Bắc, từ năm 1954 đến 1960, cách mạng đặt ra nhiệm vụ hết sức cấp bách
là khôi phục kinh tế và cải tạo xã hội chủ nghĩa. Công cuộc khôi phục kinh tế diễn ra trong
trong điều kiện hết sức khó khăn vì đất nước vốn là một nước thuộc địa, lại vừa trải qua
chiến tranh, cơ sở vật chất cũng như các yếu tố tinh thần bị tàn phá nặng nề. Trước tình hình
đó, tháng 9 – 1954, Bộ chính trị đã ra nghị quyết và vạch rõ nhiệm vụ trước mắt là ổn định
trật tự xã hội, ổn định vật giá, ổn định thị trường. Trọng tâm ở cả thành phố và nông thôn là
phục hồi và nâng cao sản xuất, phục hồi kinh tế quốc dân mà then chốt là phát triển sản xuất

tiếp để đánh đổ đế quốc và tay sai, thực hiện hoà bình và thống nhất đất nước.
Miền Bắc, từ năm 1961 Đảng đã xác định lấy xây dựng chủ nghĩa xã hội làm trọng
tâm. Một phong trào thi đua xây dựng chủ nghĩa xã hội được dấy lên sôi nổi khắp nơi. Nếu
giai đoạn trước, Đảng chú ý phát triển nông nghiệp thì sang giai đoạn này đã bước đầu chú ý
công nghiệp hoá nước nhà – điều này được thể hiện rất rõ trong kế hoạch năm năm lần thứ
nhất(1961 – 1965). Trong công nghiệp, các ngành công nghiệp chủ yếu như điện, cơ khí,
luyện kim, hoá chất, vật liệu xây dựng, đã được hình thành và phát triển rất nhanh, nhất là
ngành điện và cơ khí. Đây được coi là điều kiện thuận lợi cho các ngành công nghiệp nói
chung phát triển với tốc độ nhanh hơn nữa. Nông nghiệp cũng được ưu tiên đầu tư đúng
mức, đặc biệt đã chú ý phát triển hợp tác xã nông nghiệp và nông trường quốc doanh để làm
cơ sở cho sự phát triển nông nghiệp. Văn hoá, giáo dục ngày càng ổn định, đời sống vật chất
và tinh thần của nhân dân không ngừng được nâng cao. Trong năm năm này, đời sống của
nhân dân miền Bắc ổn định, với tinh thần tất cả cho chủ nghĩa xã hội, miền Bắc đã thực hiện
thắng lợi kế hoạch năm năm lần thứ nhất, tạo ra được sự chuyển biến mạnh mẽ và khơi gợi
nhiều phong trào thi đua giữa các tỉnh với nhau. “Thắng lợi đó đã tạo cho miền Bắc cơ sở
chính trị tinh thần và vật chất để tự bảo vệ, liên tiếp đánh thắng các cuộc chiến tranh phá
hoại của Mĩ sau này, đồng thời làm trọn nhiệm vụ cơ sở của cách mạng giải phóng miền
Nam, hậu phương lớn của tiền tuyến lớn miền Nam và là hậu phương lớn của cả cách mạng
ba nước Đông Dương”[23/179].
Trong khi đó, ở miền Nam, tình hình xã hội đã có nhiều biến động. Sau khi Kennơđi
lên làm tổng thống, Mĩ đã điên cuồng chống phá cách mạng Việt nam dưới nhiều hình thức –
tiêu biểu là thực hiện kiểu chiến tranh đặc biệt. Chúng đã dồn nhân dân vào ấp chiến lược để
dễ dàng cho chúng trong việc thực hiện âm mưu của mình. Chúng dùng sức mạnh của bộ
máy quân sự và chính trị để cưỡng bức, càn quét, chúng còn tiến hành những cuộc hành quân
càn quét dài ngày vào những vùng Bến Cát, Tây Ninh, Bình Định, Phú Yên…, đời sống của
nhân dân vô cùng cực khổ, đau thương, qua những trận càn đó, cách mạng đã có rất nhiều
mất mát, hi sinh. Tháng 1 – 1961, Bộ chính trị họp, quyết định về những nhiệm vụ công tác
trước mắt của cách mạng miền Nam, theo đó phong trào cách mạng đã có nhiều sự thay đổi.
Đấu tranh vũ trang được phát huy với quy mô ngày càng lớn, kết hợp chặt chẽ với đấu tranh
chính trị. Phong trào này bước đầu đã phá vỡ từng mảng chính quyền địch ở nông thôn, tiêu

Nam hoá chiến tranh, “dùng người Việt đánh người Việt”. Ních xơn đưa ra cùng lúc ba loại
chiến tranh là Chiến tranh giành dân, Chiến tranh hủy diệt và Chiến tranh bóp nghẹt, trên cơ
sở huy động sức mạnh tối đa về quân sự của nước Mĩ kết hợp với thủ đoạn chính trị và ngoại
giao xảo quyệt. Tất cả những chính sách đó đã khiến cho nhân dân miền Nam rơi vào đời
sống vật chất và tinh thần vô cùng cực khổ, mất mát hi sinh ngày càng nhiều.
Đáp lại lời kêu gọi của Hồ Chí Minh, nhiều phong trào quần chúng đã nổ ra ở hầu
khắp các vùng nông thôn Trung Trung Bộ và đồng bằng sông Cửu Long với quyết tâm
chống ác ôn, phá kìm kẹp, giành quyền làm chủ. Ở thành thị, công nhân, học sinh sinh viên,
trí thức, phật tử và các tầng lớp khác đã đấu tranh mạnh mẽ dưới nhiều hình thức phong phú
như bãi công, bãi khoá, mít tinh…và đã thu được nhiều thắng lợi. Cuộc tiến công chiến lược
năm 1972 là sự kiện tiêu biểu cho phong trào chống Mĩ giai đoạn này, tuy bị tổn hại nhiều
nhưng đã giáng đòn mạnh vào quân ngụy và quốc sách “bình định” của chiến lược Việt Nam
hóa chiến tranh của Mĩ.
Giữa lúc cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và cuộc kháng chiến chống Mĩ
cứu nước của nhân dân ta ở cả hai miền đang trên đà thắng lợi thì ngày 2 – 9 – 1969 chủ tịch
Hồ Chí Minh qua đời, đó là một tổn thất lớn đối với dân tộc ta, Đảng ta và cách mạng nước
ta.
Trước nguy cơ phá sản của chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh, để cứu vãn tình thế,
Níchxơn tiến hành “Mĩ hoá” trở lại cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, bằng cách huy
động trở lại lực lượng lớn không quân và hải quân ồ ạt tham chiến ở miền Nam và gây lại
cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc. Do đó miền Bắc tiếp tục khôi phục và phát triển kinh tế
chi viện cho miền Nam, lại vừa phải chống chiến tranh phá hoại lần thứ hai của Mĩ. Bằng
quyết tâm của mình, nhân dân miền Bắc đã làm thất bại cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ hai
này với sự kiện “Điện Biên Phủ trên không” vào cuối năm 1972 đưa miền Bắc trở lại không
khí hòa bình.
Từ năm 1973 đến năm 1975, nhiệm vụ đặt ra cho miền Bắc lúc này vừa tranh thủ hoà
bình để hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phục và phát triển kinh tế đẩy mạnh sản xuất,
xây dựng chủ nghĩa xã hội, ổn định đời sống nhân dân, tăng cường tiềm lực mọi mặt của hậu
phương vừa phải luôn đề cao cảnh giác, sẵn sàng đối phó với mọi âm mưu và hành động của
địch. Bên cạnh đó, miền Bắc còn phải thực hiện nhiệm vụ của hậu phương lớn là chi viện

một tinh thần quyết tâm cao, nhân dân đã bước vào cuộc sống mới một cách tích cực, khẩn
trương, một không khí nhộn nhịp, rộn rã chưa từng thấy. Tất cả đó đã chi phối đến hoạt động
văn học nghệ thuật. Các nhà văn, nhà thơ đã hoà nhập với cuộc sống, về với nhân dân, về với
những vùng đất mới. Các nhà viết kí cũng đã đồng hành trên con đường hoà nhập ấy, những
tùy bút, bút kí mới ra đời, giai đoạn đầu còn sơ sài, nghèo nàn về nội dung, đơn giản về nghệ
thuật nhưng càng về sau những tùy bút, bút kí càng có chất lượng nghệ thuật cao. Đặc biệt
khi báo Văn học tổ chức cuộc thi bút kí, phóng sự đã lôi cuốn, thu hút được rất nhiều người
tham gia và đã có được những tác phẩm có giá trị. Các tác phẩm hầu như đều hướng về đất
nước trong cao trào xây dựng chủ nghĩa xã hội và mang hơi thở trực tiếp của đời sống mới.
Tiêu biểu nhất phải kể đến tập tùy bút Sông Đà của Nguyễn Tuân. Tập tùy bút xuất bản lần
thứ nhất vào năm 1960, ngay sau khi xuất bản đã được bạn đọc đón nhận một cách nồng
nhiệt, trở thành một cuốn sách gối đầu giường của rất nhiều người lúc bấy giờ. Sông Đà gồm
mười lăm bài tùy bút và một bài thơ phác thảo: Đường lên Tây Bắc; Giăng liềm (bài thơ
phác thảo); Tây Trang; Đi mở đường; Dọn nhà lên Điện Biên; Một tí về lịch sử và một bản lí
lịch; Phố núi; Xoè; Đào cộng sản; Đất cũ Sơn La; Tình cao su; Bài ca trên mặt phần đường;
Gió than Uyên; Than Quỳnh Nhai; Người lái đò sông Đà.
Đề tài của Sông Đà là cuộc sống, con người Tây Bắc trong công cuộc xây dựng chủ
nghĩa xã hội, với tập tùy bút này, Nguyễn Tuân đã cho mọi người thấy cái không khí phấn
chấn trong cuộc sống mới ấy không chỉ diễn ra ở những thành phố lớn mà còn lan tỏa đến
những bản Mèo xa xôi, heo hút. Tuy nhiên, với Tây Bắc, nhà văn còn khám phá sâu hơn thế,
nhiều hơn thế, ông về với Tây Bắc của thời quá khứ với “một tí về lịch sử” của tên vua Đèo
Văn Long – tay sai của Pháp, độc ác, dâm ô và những đứa con cùng bản chất với hắn. Cùng
với cuộc sống của tên vua ấy là thân phận của những cô xoè phải “giẫm lên máu mình mà
múa, rồi máu tươi ấy khô dần một đống trên một cuộc đời đã biến thành một cái đệm, lớp
máu đêm sau đóng vẩy lên lớp máu đêm đầu, và cứ thế, cứ thế.”[86/193]. Trở về với hiện tại,
ông tìm đến vẻ đẹp của con người Tây Bắc mà ông gọi đó là “chất vàng mười” của tâm hồn.
Ông đồng tình, ủng hộ với những người “dọn nhà lên Điện Biên” – dù với họ không khỏi bịn
rịn, nhớ thương làng cũ nhưng trên hết là sự chờ đợi, háo hức những đổi thay của cuộc đời
họ trên mảnh đất mới, ông cũng ca ngợi những người đang ngày đêm mở đường xây dựng
Điện Biên và ông hát ca cùng họ trên mặt phần đường. Ông ăn ở cùng những chiến sĩ đồn

cách miêu tả tỉ mỉ Hiên ngang Cu-ba đã thật sự thu hút, đã chinh phục được biết bao trái tim
bạn đọc lúc bấy giờ.
Khác với phong cách của Hiên ngang Cu – ba, khi viết Điện Biên Phủ - một danh từ
Việt Nam với chín bài bút kí, tùy bút xâu chuỗi lẫn nhau, năm bài nói về Điện Biên Phủ: Đâu
có giặc là ta cứ đi; Nhân nghe nói về bọn “cọp đen” và bọn “ó đỏ”; Hakin nên ra mà xem
bảo tàng Điện Biên Phủ; Chiếc ca rỗng chứa sóng ngầm; Điện Biên Phủ, một danh từ Việt
Nam, hai bài lấy khung cảnh rộng lớn là cuộc sống sản xuất và đấu tranh trên những dải đất
nóng bỏng của tiền tuyến: Chiến công tháng Tám; Mùa thu cây lúa và cây súng; một bài ca
ngợi sự biến đổi thần kì, khả năng và tiềm lực vô hạn của Thủ đô: Hà Nội mà chúng ta yêu;
một bài ca ngợi người thợ điện anh hùng của Sài Gòn: Tấm gương của anh Trỗi, cảm xúc
của ông dường như lắng lại bởi ông đang viết về mảnh đất nơi ông đã từng gắn bó cả tuổi
thanh xuân. Cả tập bút kí là sự xen lẫn của nhiều cung bậc cảm xúc của nhà văn trước những
sự kiện, con nguời mà ông nói đến.
Với giọng văn hào sảng, chất tư liệu phong phú, với sự đối chiếu không gian, thời
gian, thể hiện vốn hiểu biết lịch sử sâu sắc của tác giả, hai tập bút kí thật sự đã tạo nên được
những ấn tượng sâu đậm và cũng là đánh dấu cho sự phát triển của bút kí trong văn học cách
mạng Việt Nam.
1.2.2. Tùy bút, bút kí viết về chiến tranh chống Mĩ cứu nước
Giai đoạn chống Mĩ cứu nước là giai đoạn mà thể kí nói chung và tùy bút, bút kí nói
riêng có sự phát triển rực rỡ. Hiện thực đất nước chiến tranh chính là mảnh đất màu mỡ để
các nhà văn khai thác một cách trọn vẹn cho các tác phẩm của mình. Nhiều tùy bút, bút kí ra
đời đã thành công cả về nội dung tư tưởng lẫn hình thức nghệ thuật, tạo nên được dấu ấn và
trở thành tác phẩm tiêu biểu cho thể loại kí, cũng như cho văn học chống Mĩ.
Trước hết phải kể đến những sáng tác của Nguyễn Trung Thành. Ông viết kí không
nhiều (chỉ với những bài bút kí như Người dũng sĩ dưới chân núi Chư Pông; Chị Thuận;
Trên quê hương những anh hùng Điện Ngọc và những tùy bút như Đường chúng ta đi và
Trận đánh bắt đầu từ hôm nay) nhưng những tác phẩm ấy đã gây xúc động sâu sắc, với
những hấp dẫn riêng đã khiến bạn đọc say mê từ những câu văn mở đầu cho đến kết thúc.
Hai thiên tùy bút Đường chúng ta đi và Trận đánh bắt đầu từ hôm nay ghi lại chân thành
những cảm xúc của người chiến sĩ trước giờ xuất kích, nhưng rộng ra là những xúc cảm,

(tháng 4 – 1967) và ghi chép Chuyện của một nguời cùng quê…. Anh Đức đã tạo ra được
một cách viết kí rất riêng, đặc biệt là những bài bút kí viết dưới dạng những bức thư gửi cho
Nguyễn Tuân hay các đồng nghiệp ở miền Bắc. Bằng một giọng tâm tình thủ thỉ, Anh Đức
đã phản ánh một cách rõ nét cuộc chiến đấu và cảnh sinh hoạt của nhân dân miền Nam cũng
như những tội ác mà giặc Mĩ đã gây nên cho bà con ở đây. Qua những lời tâm sự của ông
chúng ta cũng cảm nhận được sự gắn bó ruột thịt giữa hai miền Nam – Bắc. Dù rất nhiều sự
kiện được đề cập đến nhưng với dòng cảm xúc lắng sâu và qua cách thể hiện rất riêng, đọc
những bài bút kí này người đọc không hề gặp cảm giác khô khan, trái lại nó tạo ra sức lôi
cuốn, và một phần thêm nữa cũng nhờ cái phong vị ngọt ngào của miền Nam trong đó.
Cũng thể hiện khí thế chiến đấu và chiến thắng giặc Mĩ của nhân dân Miền Nam, Trần
Hiếu Minh đã có những bài bút kí khá đặc sắc in thành hai tập Cửu Long cuộn sóng và Sài
Gòn ta đó. Tập bút kí Cửu Long cuộn sóng viết về quê hương đồng khởi Bến Tre gồm mười
bài bút kí: Ngọn lửa Mỏ Cày; Mùa xuân trên nền cũ một khu trù mật; Thăm quê Đồ Chiểu;
Măng tầm vông; Khi giặc Mĩ đến nhà; Đơn vị Girông; Ấp Bắc thành đồng của thành đồng;
Chuyện Thạnh Phú; Chiến thắng; Sóng Cửu Long. Nội dung tiêu biểu của tập Cửu Long
cuộn sóng là phản ánh những nét điển hình của phong trào đồng khởi Bến Tre qua đó vừa
biểu dương nhiều nhân vật anh hùng, từ cụ già cho đến trẻ em vừa tố cáo tội ác của kẻ thù.
Với những tên người, tên đất cụ thể, có thật, và những con số chính xác Trần Hiếu Minh đã
tạo được niềm tin và khơi gợi được nhiều xúc động trong lòng bạn đọc. Dù đôi lúc cách ghi
chép của ông vẫn còn dàn trải, sự kiện chưa thật sự điển hình, khi đọc vẫn còn cảm giác khô
khan nhưng trên hết, tập bút kí này đã cho bạn đọc hình dung được cuộc chiến đấu rất dũng
cảm đang diễn ra nơi đây – điều này đã đáp ứng được yêu cầu của Đảng về văn học nghệ
thuật. Tập bút kí có giá trị cũng là từ đó.
Trong những tháng ngày sôi nổi của phong trào tổng tấn công và nổi dậy năm 1968,
tác giả vào Sài Gòn công tác và viết một số bút kí và truyện in chung trong tập Sài Gòn ta
đó, trong đó có ba bài bút kí Sài Gòn ta đó; Những tiếng nổ đầu xuân; Cờ sao trên nền trời
chợ lớn. Sài Gòn ta đó là một trong số “Tác phẩm hiếm hoi của văn học cách mạng miền
Nam viết về cuộc sống và con người đô thị”[68/275], ba bài bút kí đã phản ánh một số nét về
lòng yêu nước và ý chí quyết đánh giặc Mĩ của nhân dân Sài Gòn. Tác giả đã miêu tả khá
nhiều và sâu sắc những trận đánh lớn cũng như miêu tả sâu sắc một số nhân vật. Nhìn chung

những bài bút kí, tùy bút rất ấn tượng. Về bút kí ông có hai tập sách được xuất bản ngay sau
khi mới hoàn thành và đã gây được tiếng vang lớn trong đời sống văn học lúc bấy giờ. Đó là
tập Thăm Trung Quốc (1963) và Những ngày nổi giận (1966), ngoài ra còn một số bài tùy
bút in riêng lẻ. Thăm Trung Quốc gồm sáu bài, trong đó có bốn bài đã từng đăng báo Nhân
Dân và Văn Nghệ được tác giả tập hợp lại và được Nhà xuất bản Văn học xuất bản năm
1963. Đó là những bài Cảnh xưa trong đời mới; Sức mạnh và tình yêu; Về thăm những nơi
chiến đấu cũ; Thầy giáo Lưu Thiếu Kì ở mỏ An Nguyên; Về Thiều Sơn quê Mao chủ tịch;
Gặp một đồng chí Hồng quân ở tỉnh Cương Sơn đã thể hiện đậm nét con người và cảnh vật
của đất nước Trung Hoa – một người bạn lâu năm của Việt Nam, thể hiện tình hữu nghị giữa
hai đất nước qua đó bộc lộ những cảm xúc ngợi ca, trân trọng của tác giả đối với đất nước
này.
Sau đó ba năm, vào năm 1966, tác giả tiếp tục ra mắt cuốn Những ngày nổi giận, là
một cuốn sách bao gồm mười một bài bút kí viết từ năm 1963 đến 1966 (Tội ác im lìm, tội ác
sắc trắng; Hoa lửa miền Nam; Một năm như bất cứ năm nào; Những bàn chân, những bức
thư; 1965 mở đầu một năm vĩ đại; Ý nghĩ dọc đường; Từ cái giếng của ta đến chiếc phi cơ
của giặc; Viên kim cương đầu giới tuyến; Những ngày nổi giận; Chuyện Quảng Bình; Mùa
xuân ủng hộ chúng ta). Đây được coi là một cuốn bút kí xuất sắc trong việc thể hiện tội ác
của giặc cũng như sự chiến đấu quật cường của nhân dân ta nhưng tác giả tập trung khai thác
phẩm chất anh hùng của nhân dân Quảng Bình – mảnh đất đã phải gánh chịu rất nhiều bom
đạn trong chiến tranh chống Mĩ. Qua tập bút kí này chúng ta cũng thấy nghệ thuật viết bút kí
được nâng lên một tầm cao mới, cảm xúc và sự kiện kết hợp nhuần nhuyễn với nhau hơn tạo
ra một độ nhấn sâu sắc hơn cho tác phẩm, đồng thời cũng thấy được trí tuệ nhà văn được thể
hiện rất rõ trong cách khai thác sự kiện, trong cách lập luận...
Bùi Hiển cũng đóng góp cho bút kí giai đoạn chống Mĩ khá nhiều tác phẩm, được tập
hợp qua hai tập Đường lớn và Trong gió cát. Tiếc là tập Đường lớn đã có sự mất mát do thời
gian và đã không được tái bản. Còn tập Trong gió cát, thể hiện sự chuyển biến kịp thời từ đề
tài xây dựng chủ nghĩa xã hội sang đề tài chống Mĩ cứu nước với những tác phẩm tiêu biểu
như Sức mạnh Đại Phong; Trong gió cát; Trên một nông trường miền bể; Bám biển; Những
người chiến thắng; Hai bờ tuyến lửa…. Trong tác phẩm của mình, Bùi Hiển ít viết trực tiếp
về đời sống chiến trường nhưng chúng ta lại nhận thấy hình bóng của hậu phương chiến đấu

Ngoài những tác giả, tác phẩm kể trên chúng ta còn thấy có sự đóng góp cho tùy bút,
bút kí chiến tranh nhiều tác phẩm của nhiều tác giả là nhà báo, nhà văn, nhà hoạt động chính
trị, nhà văn hoá…. Những tác phẩm này được in chung trong nhiều cuốn sách, chúng tôi
muốn nói đến một trong số những cuốn sách ấy – đó là tập tùy bút Không có gì quý hơn độc
lập tự do do Nhà xuất bản Thanh niên xuất bản năm 1972 gồm mười sáu tác phẩm của nhiều
tác giả:
Con đường Bác và Đảng chỉ cho ta – Chế Lan Viên,
Người nghệ sĩ tài ba độc đáo – Lưu Quý Kì,
Sức mạnh của tinh thần không có gì quý hơn độc lập tự do – Hoài Nam,
Tiếng ngày xưa và cả tiếng mai sau – Vũ Khiêu,
Không có gì quý hơn độc lập tự do – Nguyễn Khải,
Lời Bác: mệnh lệnh, niềm tin – Giang Nam,
Trận đánh bắt đầu từ hôm nay – Nguyễn Trung Thành,
Những con người và những vùng đất anh hùng – Đặng Văn Nhưng,
Những người chiến thắng trong thời kì mới – Trần Hướng Dương,
Tình cảm tha thiết, nghĩa vụ thiêng liêng – Lê Tấn,
Cả một rừng hoa thế hệ Bác vun trồng – Vũ Giang,
Sông Hồng sắc đỏ - Đỗ Chu,
Tình yêu, hạnh phúc và kẻ thù – Hoàng Tuấn Nhã,
Nhánh chè của má – Phan Tứ,
Đường ra tiền tuyến – Lê Quang Hòa,
Trái tim chúng tôi ở Việt Nam – Tô Hoài.
Với những bài tùy bút này, cuốn sách đã để lại dấu ấn rõ nét trong văn học cách mạng
lúc bấy giờ, góp phần làm phong phú thêm diện mạo tùy bút, bút kí chống Mĩ.
Nhìn chung diện mạo của tùy bút, bút kí văn học giai đoạn 1954 – 1975 khá phong
phú, đa dạng với nhiều tác phẩm ở đỉnh cao của thể loại. Trong bức tranh toàn cảnh đó
chúng ta nhận thấy tùy bút, bút kí viết về chiến tranh chống Mĩ cứu nước chiếm ưu thế với số
lượng bài viết vượt trội hơn so với tùy bút, bút kí viết trong những năm đầu xây dựng chủ
nghĩa xã hội ở miền Bắc. Bởi vì :“Tuy ở miền Bắc đã có nhiều thuận lợi hơn trong việc tổ
chức lại đời sống văn học có kế hoạch, theo dự kiến chủ động và có quy mô toàn cục, nhưng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status