Chương 1: Đặc trưng của hoạt động kinh doanh và tiêu dùng
thuốc lá.
1.1. Đặc trưng của hoạt động kinh doanh thuốc lá.
1.1.1. Đặc trưng của khách hàng và thị trường.
• Khách hàng hút thuốc lá hiện nay chủ yếu là nam giới, đặc biệt ở các nước
mà tư tưởng nam giới là người chủ trong gia đình thì tỷ lệ này là rất lá ở tất cả
các lứa tuổi thuộc mọi nghành nghề, trình độ. Trong đó có cả những khách
hàng nhận thức được tác hại của hút thuốc. Ở các khu cao như các nước Việt
Nam, Trung Quốc, Nhật bản. Tuy nhiên hiện nay tỷ lệ nữ giới hút thuốc cũng
ngày một tăng đặc biệt ở các nước có nền kinh tế phát triển như Châu Âu khi
mà người phụ nữ tự chủ được về kinh tế cũng như các quyền lợi.
• Khách hàng hút thuốc vực thị trường khác nhau thì cơ cấu khách hàng có sự
khác nhau nhưng nhìn chung khách hàng hút thuốc lá trong độ tuổi từ 18-55
(đây là lứa tuổi chủ động về hành vi và thu nhập).
• Quy mô thị trường tiêu thụ thuốc lá là rất lớn trải dài trên một khu vực địa lý
rộng lớn. Mặt khác mật độ tiêu dùng thuốc là cũng tương đối dày. Thuốc lá
được coi là mặt hàng tiêu dùng thông thường và người tiêu dùng thuốc lá trải
khắp trong cộng đồng dân cư.
• Việc hút thuốc lá của người dân là do những nguyên nhân:
Do chưa nhận thức được tác hại của thuốc lá.
Do việc muốn thể hiện mình nhiều thanh thiếu niên cho rằng việc hút thuốc lá
thể hiện bản lĩnh và phong cách của họ.
Do ảnh hưởng của thời tiết nhiều khu vực có thời tiết lạnh và họ hút thuốc
nhằm làm cho cơ thể ấm lên.
1
Do ảnh hưởng của công việc, nhiều gười làm việc căng thẳng họ cảm thấy hút
thuốc lá làm họ bớt căng thẳng hơn.
Do thói quen đã hình thành từ lâu và không bỏ được nữa.
1.1.2. Đặc trưng của sản xuất.
1.1.2.1. Công nghệ sản xuất.
Đến thế kỷ XVIII, XIX các nước Âu - Mỹ hoàn thành cách mạng công nghiệp.
Thuốc lá được đưa vào châu Âu khoảng năm 1496-1498 do Roman Pano (nhà
truyền đạo Tây Ban Nha) sau khi đi châu Mỹ về. Năm 1556, Andre Teve cũng
lấy hạt thuốc lá từ Brazil đem về trồng ở Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha. Jean Nicot,
Đại sứ Pháp ở Lisbon dã dâng lên nữ hoàng Pháp Featerina Mechssi những cây
thuốc lá đầu tiên. Theo ông thuốc lá có thể xua đuổi bệnh đau đầu, bằng cách
cho người bệnh ngửi bột thuốc.
Thuốc lá được trồng ở Nga vào năm 1697 do Petro Valeski sau cuộc viếng
thăm Anh và một số quốc gia khác đem về. Vua Sulemam cho trồng thuốc lá ở
Bungari vào khoảng năm 1687.Tại Đức từ năm 1640 đã có nhà máy sản xuất
thuốc lá điếu ở Nordeburg và vào năm 1788 đã có xưởng sản xuất xì gà tại
Hamburg.
3
Tại các nước châu á, Thái Bình Dương, thuốc lá được trồng vào thế kỷ 18.
Ngành kỹ thuật trồng trọt, công nghệ sinh học đã phát triển rất nhanh chóng để
sản xuất đa dạng các loại nguyên liệu thuốc lá đáp ứng cho công nghiệp chế
biến, nhu cầu thị hiếu đa dạng về thuốc điếu và đặc biệt để xuất khẩu.Trong thời
gian dài, thuốc lá được gọi rất nhiều tên như La Herba Sanena (cây làm thuốc),
Herba Panacea (cây thuốc trị mọi bệnh), L’Herbe etrange (cây làm thuốc dị
thường), L’Herbe d’Ambassadeur (cây kỷ niệm tên Đại sứ ở Lisbon). Sau đó các
tên mất dần chỉ còn lại tên gọi Nicotiana để kỷ niệm tên Jean Nicot, người có
công truyền bá trồng thuốc lá ở châu Âu. Ngày nay nhiều nước có tên gọi thuốc
lá giống nhau là Tabacco (Anh, Mỹ), Tabak (Đức, Nga), Trutrun (Thổ Nhĩ Kỳ,
Bungari), Tutun (Rumania)... Còn tên khoa học của cây thuốc lá vàng là
Nicotiana Tabacum L. Thuốc lá được trồng rộng rãi ở các điều kiện tự nhiên
khác nhau, tiêu chí khác hẳn thời nguyên thủy. Phạm vi phân bổ vùng trồng từ
40 vĩ độ Nam đến 60 vĩ độ Bắc, nhưng tập trung nhiều ở vĩ độ Bắc. Thuốc lá có
tính di truyền phong phú, tính thích ứng rộng rãi, dưới sự tác động trực tiếp của
con người, ngày nay thuốc lá có nhiều đặc trưng phẩm chất, ngoại hình khác
nhau. Có thể kể đến loại thuốc lá vàng sấy có hương vị độc đáo là Virginia (Hoa
Kỳ, Zimbabwe...), thuốc lá Oriental - đặc sản của vùng Địa trung Hải, xì gà nổi
lớn, mật độ thị trường dày.
5
• Sản phẩm có thể tích nhỏ, trọng lượng bé, giá trị trên một đơn vị sản phẩm
là nhỏ.
• Sản phẩm được tiêu chuẩn hoá cao.
Chính những đặc điểm này quyết định đến những đặc trưng của việc phân
phối thuốc lá đó là:
• Sử dụng phương thức phân phối rộng rãi: Tức doanh nghiệp đưa sản phẩm
của mình đến càng nhiều nhà bán buôn và bán lẻ càng tốt.
• Phân phối thường có nhiều cấp độ trung gian bởi: Nhà máy sản xuất
thường được xây dựng ở các vùng nguyên liệu do đó có thể xa thị trường
tiêu dùng, hơn nữa sản phẩm có giá trị nhỏ được tiêu dùng trên một thị
trường rộng lớn nên cần sử dụng nhiều trung gian để giảm bớt chi phí
trong phân phối. Mặt khác sản phẩm được tiêu chuẩn hoá cao nên việc
phân phối qua nhiều trung gian không ảnh hưỏng đáng kể.
• Các công ty thuốc lá hiện nay thường áp dụng mô hình phân phối:
MH1: MH2:
NHÀ SẢN XUẤT
NGƯÒI BÁN BUÔN
NGƯỜI BÁN LẺ
NGƯÒI TIÊU DÙNG
NHÀ SẢN XUẤT
ĐẠI LÝ
NGƯÒI BÁN BUÔN
NGƯỜ BÁN LẺ
NGƯỜI TIÊU DÙNG
6
1.2. Những áp lực đối với hoạt động kinh doanh thuốc lá.
1.2.1. Từ chính sách của các nước.
Các quốc gia trên thế giới nhìn chung đều có những chính sách giảm việc sản
rằng việc sử dụng thuốc lá và phơi nhiễm với khói thuốc là nguyên nhân dẫn
đến tử vong, bệnh tật và tàn phế và rằng có một khoảng cách về thời gian từ
khi bắt đầu phơi nhiễm với khói thuốc và những sử dụng khác của sản phẩm
thuốc lá đến khi có các biểu hiện về các bệnh tật liên quan đến thuốc lá.
• Cũng nhận thức rõ rằng thuốc lá và một số sản phẩm khác chứa thuốc lá
được chế tạo một cách tinh xảo nhằm mục đích tạo ra và duy trì sự phụ thuộc
vào thuốc lá và rằng nhiều hợp chất chứa trong thuốc lá và khói do thuốc lá
sinh ra có hoạt tính dược lý, độc hại, gây biến đổi gen và gây ung thư, và
rằng riêng sự phụ thuộc vào thuốc lá đã được xếp loại là một tình trạng rối
loạn trong các phân loại về bệnh tật của quốc tế .
• Công nhận rằng có bằng chứng khoa học rõ ràng cho thấy việc phụ nữ có thai
phơi nhiễm với khói thuốc sẽ gây hại đối với sức khoẻ và điều kiện phát triển
của trẻ em,
• Lo ngại sâu sắc về sự gia tăng trong việc hút thuốc lá và các hình thức sử
dụng thuốc lá khác ở trẻ em và thiếu niên toàn cầu, đặc biệt là việc hút thuốc
ở các lứa tuổi ngày càng trẻ.
8
• Báo động về tình trạng gia tăng hút thuốc và các hình thức sử dụng thuốc lá
khác trong phụ nữ và thiếu nữ trên toàn thế giới và nhận thức rõ nhu cầu phải
có sự tham gia đầy đủ của phụ nữ tại tất cả các cấp của quá trình hình thành
và thực hiện chính sách và nhu cầu phải có các chiến lược chú trọng tới vấn
đề giới trong kiểm soát thuốc lá.
• Lo ngại sâu sắc về mức độ cao về hút thuốc lá và sử dụng thuốc lá dưới các
dạng khác trong những người bản xứ.
• Lo ngại sâu sắc về tác động của tất cả các hình thức quảng cáo, khuyến mãi
và tài trợ nhằm khuyến khích sử dụng các sản phẩm thuốc lá.
• Nhận thức rằng cần phải có hành động hợp tác nhằm xóa bỏ tất cả các hình
thức buôn bán bất hợp pháp thuốc lá và các sản phẩm thuốc lá khác, bao gồm
buôn lậu, sản xuất bất hợp pháp và sản xuất thuốc lá giả.
• Nhận thức rõ rằng việc kiểm soát thuốc lá ở tất cả các cấp và đặc biệt là tại
hội do Đại hội đồng Liên Hợp Quốc thông qua ngày 16 tháng 12 năm 1966
khẳng định quyền của tất cả mọi người được hưởng mức độ sức khoẻ về thể
lực và tâm thần cao nhất mà họ có thể đạt được.
• Khẳng định lại Lời nói đầu trong Hiến chương của TCYTTG, nêu rõ việc đạt
được mức độ cao nhất về sức khoẻ là một trong những quyền cơ bản của mỗi
người, không phân biệt chủng tộc, tôn giáo, chính kiến, điều kiện kinh tế
hoặc xã hội.
10
• Quyết tâm tăng cường các biện pháp kiểm soát thuốc lá dựa trên việc xem
xét các điều kiện phù hợp hiện tại về khoa học, kỹ thuật và kinh tế.
• Nhắc lại Công ước về Loại bỏ Mọi Hình thức Phân biệt đối xử chống Phụ
nữ do ĐHĐ Liên Hợp Quốc thông qua ngày 18 tháng 12 năm 1979 quy định
rằng các Quốc gia tham gia Công ước này sẽ tiến hành các biện pháp thích
hợp để loại bỏ sự phân biệt đối xử chống phụ nữ trong lĩnh vực chăm sóc
sức khoẻ.
• Nhắc lại thêm rằng Công ước về Quyền Trẻ em do ĐHĐ Liên Hợp Quốc
thông qua ngày 20 tháng 11 năm 1989, quy định rằng các Quốc gia tham gia
Công ước này công nhận quyền của trẻ em được hưởng mức độ sức khoẻ cao
nhất có thể có được.
Nội dung công ước
Điều 1: Sử dụng các thuật ngữ đối với các mục đích của Công ước này:
• "Buôn bán trái phép" có nghĩa là bất kỳ việc hành nghề hoặc một hành vi
nào bị luật pháp cấm mà có liên quan đến việc sản xuất, chuyên chở, nhận ,
sở hữu, phân phối, bán hoặc mua bao gồm bất kỳ việc hành nghề hoặc hành
vi nào nhằm tạo điều kiện cho các hoạt động trên.
• “Tổ chức hội nhập kinh tế khu vực” có nghĩa là một tổ chức bao gồm các
quốc gia có chủ quyền và đối với tổ chức này các Quốc gia Thành viên đã
chuyển giao năng lực trong một loạt các vấn đề bao gồm thẩm quyền đưa ra
những quyết định ràng buộc đối với các Quốc gia Thành viên liên quan đến
những vấn đề đó.
thư có liên quan, với điều kiện là các hiệp định đó tương xứng với nghĩa vụ
của các Bên theo Công ước và các nghị định thư có liên quan. Các Bên liên
quan sẽ truyền đạt các hiệp định như vậy với Hội nghị các Bên thông qua Ban
Thư ký.
1.2.3. C ác phong trào phòng chống thuốc lá trên thế giới.
Hiện nay có nhiều phong trào phòng chống thuốc lá trên thế giới tiêu biêu là:
• Thế giới chọn ngày 31-5 hàng năm là ngày không hút thuốc lá. Năm 1987,
các thành viên của Tổ chức Y tế Thế giới đã đề ra Ngày Thế giới không
Thuốc lá nhằm thu hút sự chú ý của tất cả mọi người đến nạn dịch thuốc lá và
các bệnh tật, sự chết có thể phòng ngừa do thuốc lá gây ra.
• Hàng năm tổ chức y tế thế gới đề ra khẩu hiệu chống thuốc lá trong năm:
- 1990 “Thanh thiếu niên không thuốc lá”
- 1991 “Giao thông và nơi công cộng không thuốc lá”
- 1992 “Nơi làm việc không thuốc lá: an toàn hơn và khoẻ mạnh hơn”
- 1993 “Các dịch vụ Y tế không thuốc lá”
- 1994 “Truyền thông và thuốc lá: truyền thông điệp về thuốc lá tới mọi
người”
- 1995 “Chi phí cho thuốc lá nhiều hơn là bạn tưởng”
- 1996 Thể thao và nghệ thuật không thuốc lá”
- 1997 “ Đoàn kết vì một thế giới không thuốc lá”
- 1998 “ Hãy từ bỏ thuốc lá”
- 2000 “Thuốc lá gây chết người, đừng bị lừa bịp”
- 2001 “Hút thuốc thụ động gây chết người, hãy giữ bầu không khí trong
sạch không có khói thuốc lá”
13
- 2002 “ Thể thao không thuốc lá”
- 2004 "Thuốc lá và đói nghèo"
- 2008 “ Thanh niên không hút thuốc”
1.2.4. Các sản phẩm thay thế.
Hút thuốc lá có hại cho sức khoẻ hiện đang là cảnh báo của toàn xã hội
đến đau đầu khi muốn tận dụng thăng lợi kép này. Nguyên nhân ở chỗ thuế càng
cao bao nhiêu thì nguồn thu cho ngân sách càng cao bấy nhiêu và điều này lại
làm tăng thêm tính hấp dẫn đối với buôn lậu, kích thích buôn lậu phát triển.
Trong thực tế, đã có nhiều quốc gia áp dụng mức bán thuốc lá rất cao, đánh thuế
mạnh nhưng buôn lậu không giảm như các quốc gia phía bán cầu Bắc. Có quốc
gia lại áp dụng giá thuế thấp nhưng buôn lậu vẫn phát triển như các quốc gia
vùng Địa Trung Hải.
Từ thực tế trên, cần nhìn nhận rằng có một nguyên nhân kích thích buôn
lậu thuốc lá là lợi nhuận lớn. Trong thực tế, phần thuế trong giá của một số
thương hiệu thuốc lá nổi tiếng có thể chiếm 50-60% giá bán. Đây là mức chênh
lệch hấp dẫn các tổ chức buôn lậu thế giới. Nhưng nguyên nhân lớn hơn là tình
trạng tham nhũng của các cán bộ có liên quan. Một số quốc gia bị đánh giá là có
tình trạng buôn lậu thuốc lá phát triển do tham nhũng là Banglades, Campuchia,
Colombia. Latvia, Myanmar, Pakistan. Những nước này có lượng thuốc lá buôn
lậu đạt 30-50% lượng tiêu thụ
1.3. Tình hình sản xuất và kinh doanh thuốc lá trên thế giới thời qua.
15
Sản xuất và tiêu thụ thuốc lá hàng năm trên toàn thế giới khoảng 5.500 -
5000 tỷ điếu thuốc lá (275 - 280 tỷ bao) .
Bảng 1.1: Sản lượng thuốc lá sản xuất của 20 quốc gia hàng đầu thế giới
Quốc gia Thứ
tự
Năm
1998
Năm
1999
Năm
2000
Năm
2001
tự
Năm
1998
Năm
1999
Năm
2000
Năm
2001
Năm
2002
% so với tổng số
năm 2002
Trung Quốc 1 1.655,1 1.666,0 1.687,8 1.689,0 1.697,4 30,7
Mỹ 2 465,0 435,0 430,0 425,0 420,0 7,6
Nga 3 260,0 270,0 280,0 320,0 340,0 6,1
Nhật Bản 4 336,6 332,2 324,5 319,3 312,6 5,7
Indonesia 5 215,1 216,2 221,1 214,4 194,8 3,5
Đức 6 152,8 153,9 153,8 155,5 155,6 2,8
Thổ Nhĩ Kỳ 7 109,3 115,5 115,5 116,0 115,5 2,1
Brazil 8 105,0 105,1 104,4 109,8 105,5 1,9
Italia 9 93,5 95,3 100,5 101,5 102,4 1,9
Tây Ban Nha 10 89,9 89,9 91,6 93,1 94,3 1,7
Nam Triều Tiên 11 106,6 95,5 104,9 98,9 91,2 1,6
Ukraina 12 87,0 88,0 89,0 90,0 90,0 1,6
Ba Lan 13 92,7 90,4 90,0 89,4 89,4 1,6
Ấn Độ 14 96,8 96,0 95,9 85,4 89,0 1,6
Philipin 15 70,2 71,6 72,7 81,2 84,0 1,5
Pháp 16 83,8 83,7 82,5 83,5 80,5 1,5
Anh 17 84,0 84,0 81,5 79,0 76,0 1,4
Bảng 2.1: Tỷ lệ nam giới hút thuốc theo độ tuổi.
Độ tuổi nam giới hút thuốc lá Tỷ lệ%
Từ 18 - 20 tuổi
Từ 21 - 30 tuổi
Từ 31 - 40 tuổi
Từ 41 - 50 tuổi
Từ 51 tuổi trở lên
1,9
24,8
36,0
27,3
10,0
( Nguồn: Tổng Công ty thuốc lá Việt Nam)
19
Nam giới hút thuốc lá có nghề nghiệp đa dạng, đủ loại, đủ các cấp độ và
ngành nghề khác nhau ở Việt Nam hiện nay. Tập trung vào một số ngành nghề
như: Buôn bán nhỏ, công nhân viên, thợ thủ công, lái xe ô tô, nông dân… Bên
cạnh đó, cũng có một số bộ phận chưa có việc làm cũng hút thuốc lá. Ngoài ra
giới lãnh đạo, quản lý hiện nay cũng hút thuốc lá.
Bảng 2.2: Phân bố nam giới hút thuốc theo ngành nghề
Nghề nghiệp đang làm Tỷ lệ (%)
1. Buôn bán nhỏ 11,4
2. Cán bộ lãnh đạo, quản lý 5,9
3. Nhân viên, viên chức 3,7
4. Công nhân 7,7
5. Giáo viên, huấn luyện viên 2,2
6. Lái xe 6,1
7. Chủ cơ sở tư nhân 5,9
8. Chạy xe thồ, xe ôm 6,8
9. Thợ các loại 25,0
(Nguồn: Tổng Công ty Thuốc lá Việt Nam)
2.1.2. Thị trường.
• Thị trường nông thôn:
21
Thị trường nông thôn tiêu thụ khoảng 60% tổng số sản lượng tiêu thụ
thuốc lá trên thi trường. Do thu nhập thấp, tiêu thụ thuốc lá tại thị trường nông
thôn là sản phẩm thuốc lá không đầu lọc và sản phẩm thuốc lá đầu lọc cấp thấp.
Với mức giá từ 800 đồng đến 2000đ/bao. Loại thuốc lá này tiêu thụ chiếm
khoảng 90% tổng số tiêu thụ tại thị trường nông thôn.
Các loại thuốc lá cấp trung bình (mức giá 2000 – 6000đ/bao) tiêu thụ ít hơn
(5-7%) và các loại thuốc lá trung cao cấp (mức giá 6000đ/bao trở lên) được tiêu
thụ nhất tại thị trường nông thôn.
• Thị trường các đô thị (thị trấn, thị tứ, thị xã, thành phố):
Thị trường các đô thị Việt Nam tiêu thụ khoảng 40% tổng sản lượng tiêu
thụ trên thị trường. Xu hướng tiêu dùng chuyển dần tiêu thụ thuốc lá cấp thấp
sang cấp cao. Do thu nhập của người dân ở đây ngày càng tăng.
Các loại thuốc lá cao cấp được phối chế từ nguyên liệu thuốc lá vàng (gout Anh)
như Vinataba, “555” Craven A, White horse, Virginia gold, Sài Gòn, Dunhill,
Cotap…và các loại thuốc lá điếu được sản xuất từ nguyên liệu tổng hợp
Virginia, Burbley, Oriental (gout Mỹ) như Marlboro ngày càng được người tiêu
dùng chấp nhận và tiêu thụ tăng lên.
• Xuất khẩu thuốc lá:
- Xuất khẩu nguyên liệu:
Hàng năm ngành thuốc lá xuất khẩu được một số nguyên liệu (lá thuốc lá, sợi
thuốc lá). Tuy nhiên xuất khẩu nguyên liệu không ổn định. Vì nguyên liệu thuốc
lá ở Việt Nam chất lượng không cao do đầu tư cho trồng thuốc lá thấp, thổ
nhưỡng, khí hậu không phải là vùng để tạo ra nguyên liệu có chất lượng tốt. Giá
xuất khẩu tuy không cao, nhưng đem lại lợi nhuận cho nông dân và ngành thuốc
lá.
22
Thuốc lá là một trong những nguyên nhân gây ra nhiều loại bệnh nguy
hiểm đối với con người như ung thư phổi, nhồi máu cơ tim, xơ vữa động mạch
và các bệnh về hô hấp... Theo số liệu điều tra năm 1997, ở Việt Nam tỷ lệ nam
giới hút thuốc lá là 50% và nữ giới là 3,4%, ước tính 10% dân số (khoảng trên 7
triệu người chết do các bệnh có liên quan đến thuốc lá, trong đó 3,7 triệu người
chết ở tuổi trung niên). Theo dự báo của tổ chức Y tế Thế giới, đến năm 2020 số
người chết trên thế giới vì thuốc lá sẽ nhiều hơn số người chết vì HIV/AIDS, lao,
tai nạn giao thông đường bộ. Ngoài những tác hại đối với sức khoẻ con người thì
hút thuốc lá còn gây ra những tổn thất lớn về kinh tế của từng gia đình và toàn xã
hội. Vì vậy mà Chính phủ Việt Nam đã ban hành nhiều Nghị quyết, Nghị định,
chỉ thị... về phòng chống tác hại của thuốc lá và các chính sách giảm sản xuất, sử
dụng các sản phẩm thuốc lá như:
Nghị định số 194/CP ngày 31/12/1994 của Chính Phủ và thông tư số
37/VHTT ngày 1/7/1995 hướng dẫn thi hành Nghị định quy định cấm quảng cáo
thuốc lá trên các phương tiện thông tin đại chúng.
Chỉ thị số 13/CT-TTg ngày 12/5/1999 của Thủ tướng Chính Phủ quy định
về tổ chức sắp xếp ngành hàng thuốc lá.
Quyết định 175/1999/QĐ-TTg ngày 25/8/1999 của Thủ tướng Chính Phủ
về việc dán tem thuốc lá sản xuất trong nước.
24
Quyết định số 178/1999/QĐ-TTg ngày 30/8/1999 của Thủ tướng Chính
phủ về việc ban hành Quy chế ghi nhãn hàng hoá lưu thông trong nước và hàng
hoá xuất khẩu, nhập khẩu.
Nghị quyết số 12/2000/NQ-CP ngày 14/8/2000 về “Chính sách quốc gia
phòng, chống tác hại của thuốc lá” trong giai đoạn 2000 – 2010.
Nghị định của Chính Phủ số 76/2001/NĐ-CP ngày 22/10/2001 về hoạt
động sản xuất và kinh doanh thuốc lá.
Quyết định số 08/2002/QĐ-BVGCP ngày 24/1/2002 của Ban vật giá
Chính phủ về giá bán tối thiểu thuốc bao sản xuất trong nước.
2.2.1.1. Các chính sách nhằm giảm sử dụng các sản phẩm thuốc lá.