Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Lời nói đầu
Trong những năm qua, kinh tế nớc ta đã có những thay đổi mạnh mẽ,
do có những quyết sách phù hợp. Nhiều sản phẩm của Việt Nam có chất lợng
cao, chiếm lĩnh đợc thị trờng trong nớc và đợc xuất khẩu ra nớc ngoài. Thành
công đó tạo đợc nguồn thu ngoại tệ đáng kể cho đất nớc, trong đó có ngành
dệt may. Tuy nhiên, trớc thềm hội nhập, để tồn tại và phát triển bền vững thì
ngành dệt may cần phải củng cố, tăng cờng hơn nữa vị thế của mình trong n-
ớc và trên trờng quốc tế.
Dệt may là một ngành công nghiệp chủ chốt tạo đà cho các ngành khác
phát triển, góp phần vào quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hoá đất nớc.
Thực tế hơn 10 năm qua cho thấy sản phẩm đã có nhiều tiến bộ về chất lợng,
mẫu mã. Nhng nếu so với các đối thủ cạnh tranh, chúng ta vẫn còn nhiều yếu
kém, thị trờng xuất khẩu vẫn còn hạn hẹp. Dù có nhiều cải tiến và hiện đại
hoá công nghệ sản xuất nhng đạt đợc đến tầm cỡ khu vực.
Do đó, cần phải có những biện pháp thích hợp để nâng cao hiệu quả
cạnh tranh. Đây là một công việc hết sức cần thiết, vì ngành dệt may trong n-
ớc đóng vai trò rất quan trọng không chỉ về kinh tế, mà còn cả về xã hội.
Nhận thức đợc tầm quan trọng của hoạt động xuất khẩu hàng dệt may
đối với nền kinh tế cũng nh những thách thức mà ngành này phải đối mặt
trong bối cảnh hiện nay, em đã mạnh dạn chọn đề tài Hoạt động kinh
doanh xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam thực trạng và giải pháp.
Mục đích khi chọn đề tài này là làm sáng tỏ về thực trạng kinh doanh
hàng dệt may Việt Nam trong những năm qua. Trên góc độ cá nhân, xin đợc
có ý kiến đánh giá những thành công, tồn tại, phân tích thuận lợi và khó khăn
của ngành để từ đó đa ra một số giải pháp nhằm thúc đẩy hoạt động kinh
doanh xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam.
1
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Với mục đích nghiên cứu, bài viết đợc chia làm ba phần chính:
- Chơng I: Tình hình xuất khẩu và tiêu dùng hàng dệt may trên thế giới.
Do vậy, trên thế giới thực sự chỉ có nghành công nghiệp dệt may ở các n-
ớc Tây Âu và Hoa Kỳ mới phát triển và cung cấp phần lớn sản phẩm dệt may.
Tuy nhiên, hàng dệt may thờng đợc tiêu thụ ở chính thị trờng nơi sản xuất, mà ít
có sự buôn bán trao đổi giữa các nớc, ngoại trừ việc nhập khẩu sợi lanh, bông và
lụa từ các thuộc địa.
Tóm lại, đặc điểm chung của thời kỳ này là ngành dệt may chỉ tập trung
ở một số nớc và giao dịch thơng mại tơng đối hạn chế.
1.2. Giai đoạn từ sau chiến tranh thế giới thứ hai đến năm 1997:
Giai đoạn này, chỉ còn vài cuộc chiến tranh cục bộ nhằm giành chủ
quyền và độc lập dân tộc. Thế giới phân thành hai đối cực là xã hội chủ nghĩa
và t bản chủ nghĩa. Hai phe này đều cố gắng mở rộng ảnh hởng của mình ra thế
3
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
giới. Do đó, đã dẫn tới sự chuyển giao công nghệ và vốn từ các nớc t bản sang
các quốc gia mới thành lập ở khu vực Châu á và Châu Phi. Cuối giai đoạn này,
hệ thống xã hội chủ nghĩa bị sụp đổ và các nớc trong khối này hầu hết đều
chuyển sang hình thức nền kinh tế theo mô hình chuyển đổi.
Về dệt may, đặc biệt từ những năm của thập kỉ 70, chúng ta đợc chứng
kiến những sự phát triển và thay đổi to lớn về luợng và về chất.
- Sự vơn lên của các quốc gia và lãnh thổ ở Châu á, đặc biệt khu vực
Đông á, nh là Hàn Quốc, Đài Loan, Hồng Kông, Singapore, Thái Lan,
Inđônêxia, vv... Với chiến lợc phát triển kinh tế hớng về xuất khẩu, nhằm thu
ngoại tệ phục vụ cho công nghiệp hoá đất nớc, dệt may đã trở thành ngành
trọng điểm và đợc các nớc này quan tâm mạnh đặc biệt. Dựa trên lợi thế nhân
công rẻ, họ đã đầu t cho ngành dệt may để làm ra sản phẩm có giá thành rẻ, đủ
sức cạnh tranh trên thị trờng quốc tế. Đồng thời, các nớc trên giải quyết đợc một
lợng lớn công ăn việc làm, tháo gỡ vấn đề thất nghiệp.
- Sự ra đời và phát triển sợi nhân tạo thay thế một phần sợi tự nhiên. Cùng
với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, ngày càng có nhiều loại tơ, sợi tổng hợp đ-
ợc tạo ra. Loại sợi này có tính năng mới và độ bền hơn hẳn sợi tự nhiên, dẫn tới
Dệt may đóng vai trò vô cùng quan trọng trong nền kinh tế của mỗi quốc
gia, đặc biệt với các nớc đang phát triển. Vai trò đó thể hiện ở ba khía cạnh
trong nền kinh tế:
- Đây là ngành cung cấp cho xã hội những sản phẩm thiết yếu của đời
sống hàng ngày.
5
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
- Ngành dệt may góp phần quan trọng trong việc giải quyết công ăn việc
làm bởi vì đây là ngành cần rất nhiều lao động, mặc dù không cần nhiều vốn so
với các ngành công nghiệp khác.
- Dệt may dễ đem lại lợi nhuận về ngoại tệ để có thể nhập thiết bị cho các
ngành khác, nhất là ở các nớc đang phát triển.
Thông qua việc phát triển công nghiệp may mặc, sản xuất hàng xuất
khẩu, các quốc gia đang phát triển chỉ phải đầu t một lợng vốn nhỏ, nhng có thể
thu về một lợng ngoại tệ lớn cho việc nhập khẩu máy móc và công nghệ cho các
ngành khác.
Để chứng minh luận điểm trên, ta có thể thấy rõ sự đóng góp to lớn của
ngành dệt may cho nền kinh tế qua hai trờng hợp điển hình cụ thể ở khu vực
Đông Nam á. Đó là Inđônêxia và Thái Lan.
- Tại Inđônêxia, dệt may đã có những sự phát triển vợt bậc. Năm 2001,
giá trị xuất khẩu hàng dệt may đạt mức 7,68 tỷ USD (Đôla Mỹ), chiếm 17,58%
tổng giá trị của các sản phẩm xuất khẩu phi dầu mỏ, chiếm 20,39% tổng giá trị
xuất khẩu của các sản phẩm chế tạo. Ngành dệt may của Inđônêxia tạo ra hơn
1,2 triệu việc làm và con số này còn tăng lên trong tơng lai khi ngành dệt may
đợc mở rộng.
- Tại Thái Lan, dệt may cũng đóng góp một phần không nhỏ cho nền
kinh tế. Năm 2000, chiếm vị trí dẫn đầu trong số các ngành xuất khẩu. Giá trị
xuất khẩu đạt 5,3 tỷ USD, chiếm 8,1 % trong tổng giá trị xuất khẩu của Thái
Lan. Là ngành đóng góp nhiều nhất vào tổng sản phẩm quốc nội. Chiếm tỷ lệ
13,8% đóng góp của ngành công nghiệp chế tạo. Là ngành tạo ra nhiều việc làm
7
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Năm 2001, Thái Lan có 4.544 công ty sản xuất hàng dệt may. Trong đó,
khoảng 90% nhà máy nằm ở Băngkok và các vùng lân cận (Băngkok, Samut
Prakarn, Samut Sakhon, Nontaburi, Patumtani Nakhon Pathom). Cũng trong
năm 2001, công nghiệp dệt may Thái Lan có số nhân công 1.081.540 ngời. Đây
cũng là số nhân công lớn nhất so với các ngành công nghiệp chế tạo khác. Các
sản phẩm chính gồm có tơ, sợi, vải tổng hợp các loại và quần áo. Sản lợng của
các sản phẩm này đợc thống kê nh sau:
Bảng 1: Sản lợng đầu ra của ngành dệt may Thái Lan năm 2001
Đơn vị:1.000 tấn
Sản phẩm Sản lợng
Tơ nhân tạo 742,3
Sợi cotton 337,7
Sợi tổng hợp 550,5
Vải các loại 718,8
Quần áo 446,6
Nguồn: Báo cáo của Thái Lan tại Hội nghị hàng dệt may khu vực Châu á -
Thái Bình Dơng năm 2002.
3.2.2. Về xuất khẩu:
Năm 2000, thị phần xuất khẩu của Thái Lan trên thế giới sau cuộc khủng
hoảng năm 1997 đã giảm xuống chỉ còn 2% so với 2,6% năm 1990. Tuy nhiên,
nếu xét về mức độ tăng trởng thì năm 2000, dệt may nớc này đang có dấu hiệu
hồi phục với mức tăng trởng 14%. Sản phẩm xuất khẩu của Thái Lan có vị trí
quan trọng trên thế giới và chủ yếu là hàng may mặc. Bảng số liệu sau sẽ cho
thấy tình hình xuất khẩu cụ thể hàng dệt may của Thái Lan năm 2001:
Bảng 2: Xuất khẩu hàng dệt may của Thái Lan trong năm 2001
8
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Sản phẩm
Bảng 3: Xuất khẩu hàng dệt may của Inđônêsia năm 1997 - 2001
Đơn vị: triệu USD
Sản phẩm 1997 1998 1999 2000 2001
Tơ 135 146 97 135 105
Sợi 762 889 1.177 1.326 1.244
Vải 1.354 1.345 1.614 1.913 1.526
Hàng may mặc 2.678 2.406 3.526 4.281 4.000
Hàng dệt may khác 243 235 437 549 800
Tổng giá trị 7.319 7.321 7.157 8.204 7.678
Nguồn: Báo cáo của Inđônêsia tại hội nghị hàng dệt may khu vực Châu á -
Thái Bình Dơng năm 2002.
Với sự phát triển liên tục, kể cả khi có khủng hoảng trên thế giới và trong
khu vực, sự kỳ vọng đạt đợc 9 tỷ USD kim ngạch xuất khẩu vào năm 2004 của
Inđônêxia là có khả năng. Đây là nớc có tiềm năng đáng để các nớc khác kính
nể.
Bảng 4: Năng lực sản xuất của ngành dệt may Inđônêsia
Đơn vị: 1.000 tấn
Sản phẩm 1997 1998 1999 2000 2001
Tơ 797 8566 905 1.039 1.049
Sợi 1.937 2.074 2.107 2.298 2.3215
Vải 1.752 1.894 1.904 1.972 1.992
Hàng may mặc 486 564 572 573 584
10
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Nguồn: Báo cáo của Inđônêsia tại Hội nghị hàng dệt may khu vực
Châu á - Thái Bình Dơng năm 2002.
Để chứng minh sự ổn định đó, ta hãy so sánh giữa khả năng công suất
sản xuất của Inđônêxia với sản lợng thực tế đợc nêu trong bảng sau:
Bảng 5: Sản lợng thực tế của ngành dệt may Inđônêsia
Đơn vị: 1.000 tấn
tiêu dùng hàng hoá với số lợng lớn trên thế giới. Song trong những năm gần
đây, với sự phát triển kinh tế thần kỳ của mình, Trung Quốc đợc biết đến nh
một thị trờng mới đầy hấp dẫn. Trung Quốc chiếm tỷ lệ lớn trong tổng tiêu
dùng hàng dệt may trên thế giới.
12
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Biểu đồ 1: Tiêu dùng hàng dệt may ở một số khu vực thị trờng
Đơn vị: triệu tấn
Nguồn : Textile Outlook International.
Tuy nhiên, cứ với đà tăng trởng nh hiện nay thì chỉ đến năm 2005, Trung
Quốc sẽ trở thành thị trờng lớn nhất trên thế giới. Điều này hoàn toàn có thể xảy
ra, vì Hoa Kỳ cũng nh EU đang áp dụng rất nhiều rào cản kỹ thuật đối với hàng
hoá nhập khẩu từ nớc ngoài. Còn Nhật Bản, dù có chính sách phi hạn ngạch, với
số dân 193 triệu ngời (năm 2000) và có mức tiêu dùng đầu ngời rất cao cũng
không thể sánh đợc với thị trờng 1,2 tỷ dân của Trung Quốc. Có thể nói trong
những năm tới đây, Trung Quốc sẽ là thị trờng đầy tiềm năng cho hàng dệt may.
Ngoài ra, cũng có thể thấy qua con số thống kê lợng hàng nhập khẩu của
các nớc này trong những năm 1980 2000:
13
Hoa Kỳ
Trung Quốc EU
Nhật Bản
0
2
4
6
8
10
12
4.8
Italia 6,12 4,6 5,7 3,7 0 3 -9 2
Mêxicô 6,1 0,2 0,9 3,6 20 20 41 26
Nhật Bản 4,94 2,9 3,8 2,9 2 -25 4 9
Canada 4,13 2,3 2,2 2,5 6 4 -1 3
Bỉ 3,63 - - 2,2 - - - -4
Tây Ban
Nha
3,32 0,6 1,9 2 5 12 -2 -4
Hàn Quốc 3 0,7 1,8 1,9 5 -38 35 -
Hà Lan 2,64 4 3,4 1,6 -3 -24 -4 -6
Ba Lan 2,43 0,5 0,2 1,5 26 14 -7 -4
Tổng cộng 89,27 55,4 62,6 53,4 - - - -
Nguồn: www.wto. org
Biểu đồ số 1 và bảng số liệu 6 cho thấy Hoa Kỳ đang là thị trờng tiêu thụ
hàng dệt may lớn nhất trên thế giới. Mức tiêu thụ sản phẩm dệt may của Hoa
Kỳ là 9,6 triệu tấn năm 2001. Tiếp theo sau là Trung Quốc với mức tiêu thụ 8,7
triệu tấn. Các vị trí tiếp sau thuộc về EU và Nhật Bản.
14
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Qua phân tích vai trò của dệt may trong nền kinh tế quốc dân, tình hình
nhu cầu tiêu thụ, sản xuất và xuất khẩu một số nớc tiêu biểu trên thế giới, ta rút
ra nhận xét: dệt may chiếm một vị thế quan trọng không thể thiếu đợc đối với
chính sách phát triển kinh tế của mỗi nớc, đặc biệt những nớc đang phát triển.
Hỗu hết các nớc mạnh về dệt may đều có những điểm tơng đồng với Việt Nam.
Bài học của họ rất có ích cho chúng ta. Đồng thời, ta cũng nên phát huy những -
u điểm của họ và những nhợc điểm mà các nớc này mắc phải.
Chơng II
Tình hình sản xuất và xuất khẩu hàng
dệt may ở Việt Nam
1. Lịch sử phát triển ngành dệt may Việt Nam:
ngành kinh tế mạnh trong nền kinh tế quốc dân. Điều này dẫn tới một nhu cầu
cần có một tổ chức đứng ra quản lý chung, thay vì trực tiếp chịu sự giám sát của
Bộ Công Nghiệp nhẹ. Xuất phát từ nhu cầu đó, Chính phủ đã thành lập Liên
hiệp các xí nghiệp dệt và Liên hiệp các xí nghiệp may. Hai cơ quan này có
16
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
nhiệm vụ quản lý và điều hành sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp dệt
và may.
Tới năm 1990, hai cơ quan trên sát nhập lại và lấy tên là Liên hiệp Sản
xuất - Xuất nhập khẩu dệt may. Đây là mô hình tổ chức quản lý đặc trng cho cơ
chế quản lý kế hoạch hoá tập trung.
Sự phát triển trên thực sự là qua trình chuẩn bị rất tốt cho ngành dệt may
Việt Nam. Giờ đây, những doanh nghiệp nh May 10, May Việt Tiến, May Nhà
Bè, May Thăng Long, Dệt 8 - 3 đ ợc coi là những tên tuổi lớn trong ngành dệt
may Việt Nam đều đợc xây dựng trong thời gian này. Nhờ đầu t theo kế hoạch
nên có sự phát triển tơng đối cân bằng giữa ngành may và ngành dệt.
Tuy nhiên, trong giai đoạn này vẫn còn những hạn chế do cơ chế chung
của cả nền kinh tế. Các doanh nghiệp chỉ sản xuất theo chỉ tiêu kế hoạch nhà n-
ớc giao, mà không có sự linh động sáng tạo trong sản xuất, cũng nh cải tiến sản
phẩm, nâng cao chất lợng. Điều đó dẫn đến cần có những thay đổi nhận thức
mới để tạo ra một thời kỳ chuyển biến mới.
17
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
1.2. Giai đoạn từ 1986 - 1997:
Nếu nh giai đoạn trớc 1986 là quá trình hình thành và định hình ngành
công nghiệp dệt may Việt Nam thì giai đoạn này chính là quá trình phát triển.
1.2.1. Tình hình kinh tế trong nớc:
Trớc năm 1990, do Việt Nam chỉ quan hệ với các nớc xã hội chủ nghĩa
nên phần lớn sản phẩm dệt may đợc tiêu thụ trong nớc và xuất khẩu sang các n-
ớc Đông Âu. Khi thị trờng xã hội chủ nghĩa tại các nớc Đông Âu sụp đổ, cũng
viết tắt là VINATEX, trên cơ sở Nghị định 91/NĐ - CP. VINATEX hoạt động
nh một pháp nhân độc lập và trực thuộc Bộ Công nghiệp.
VINATEX có cơ cấu tổ chức, hoạt động theo phơng thức tập đoàn kinh
tế, nhằm tập hợp các doanh nghiệp, tập trung vốn, tổ chức phân công chuyên
môn hoá hòng tạo nên sức mạnh tổng hợp và sức cạnh tranh lớn trên thị trờng
quốc tế. Việc thành lập VINATEX đã tạo điều kiện cho dệt may Việt Nam phát
triển đóng góp hơn nữa cho nền kinh tế quốc dân.
Ngày nay, khi nói đến sự thành công của ngành dệt may Việt Nam không
thể không nói đến VINATEX. Xin sơ lợc một số nét về cơ cấu tổ chức và hoạt
động của Tổng công ty này.
1.2.2.1. Cơ cấu tổ chức của VINATEX:
VINATEX gồm 55 thành viên với 45 doanh nghiệp, 2 Viện nghiên cứu
Kinh tế, Kỹ thuật, Thiết kế Thời trang, 3 trờng đào tạo công nhân, 4 công ty cơ
khí và 1 công ty tài chính.
19
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Các thành viên của Tổng công ty có quan hệ chặt chẽ về sản xuất, kinh
tế, tài chính, công nghệ, thông tin, đào tạo, vv Cơ cấu đó nhằm tạo sự đồng
bộ trong toàn ngành từ đầu t, cung cấp nguyên vật liệu tới tổ chức sản xuất, tiêu
thụ sản phẩm và xuất khẩu.
Đồng thời, VINATEX cũng là một tổ chức liên kết các doanh nghiệp
trong nớc với nớc ngoài, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp có cơ hội tiếp xúc,
ứng dụng khoa học công nghệ, tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất kinh doanh và đào
tạo nhân viên quản lý, công nhân sản xuất.
1.2.2.2. Sản xuất kinh doanh:
Tổng công ty Dệt may Việt Nam đợc thành lập là bớc ngoặt đáng chú ý,
nó đánh dấu một thời kỳ phát triển nhảy vọt chung của cả ngành dệt may Việt
Nam. Mức đầu t vào công nghệ cùng với việc giảm bớt lao động d thừa phản
ánh cam kết của ngành tới công tác cải tiến chất lợng liên tục. (Continuous
Quality Improvement CQI), đặc biệt là hiện đại hoá, tăng năng suất và đẩy
25.5 30,9 33,3 35,1 41,3
Nguồn: Báo cáo tổng kết Ban kế hoạch đầu t (VINATEX).
Qua bảng trên cho thấy Tổng Công ty Dệt may Việt Nam có tốc độ phát
triển khá cao. Sản lợng tăng 10% đến 19%, doanh thu tăng từ 15% tới 30%, kim
ngạch xuất khẩu tăng từ 13% tới 24%, có năm lên tới 154%. Số liệu về tốc độ
phát triển có thể tổng hợp theo bảng sau:
Bảng 8: Tốc độ phát triển của VINATEX gia đoạn 1993 - 1997
Chỉ tiêu
1994 1995 1996 1997
Tổng sản lợng
72% 19% 11% 11%
Tổng doanh thu
30% 30% 01% 15%
Kim ngạch xuất khẩu
24% 154% 13% 20%
Kim ngạch nhập khẩu
49% 93% 17% 20%
Nếu lấy năm 1993 làm định gốc, thì năm 1997 Tổng Công ty Dệt may
Việt Nam có sản lợng tăng gấp 2,5 lần, tổng doanh thu tăng gấp 2,1 lần, kim
ngạch xuất khẩu tăng 4,4 lần, kim ngạch nhập khẩu tăng 4 lần. Để thấy rõ tốc
độ phát triển, ta xem xét biểu đồ 2.
21
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Biểu đồ 2: Tốc độ phát triển của VINATEX giai đoạn 1993 - 1997
Qua biểu đồ, ta thấy tốc độ tăng của kim ngạch xuất nhập khẩu tăng
nhanh hơn rất nhiều so với tốc độ tăng trởng của giá trị sản lợng và tổng doanh
thu. Điều này cho thấy Tổng Công ty đang cố gắng lấy bộ phận xuất khẩu làm
trung tâm trong hoạt động kinh doanh của mình.
Trong giai đoạn này, còn có những điểm đáng chú ý khác nữa là chính
sách vĩ mô của Nhà nớc và Chính phủ đối với nền kinh tế quốc dân nói chung
1.3. Giai đoạn từ 1997 tới nay:
Giai đoạn này, Việt Nam có những tiến bộ vợt bậc, góp phần quan trọng
vào quá trình ổn định, phát triển kinh tế. Năm 1999, chiếm 8,58% tổng giá trị
đầu ra của các nghành công nghiệp và 15% tổng giá trị xuất khẩu. Hàng dệt
23
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
may xuất khẩu là một trong những những mặt hàng có tốc độ tăng trởng lớn
nhất trong số mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam. Ta có thể thấy rõ trong bảng
sau:
Bảng 9: Xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam so với các hàng khác.
Hàng hoá Đơn vị 2001 2002 Tốc độ tăng tr-
ởng
Thủy sản Triệu USD 1.778 2.024 13,8%
Gạo 1.000 tấn 3.729 3.241 - 13,1%
Cà phê 1.000 tấn 931 710 -23,7%
Cao su 1.000 tấn 308 444 44,2%
Hạt tiêu 1.000 tấn 57 77 35,4%
Nhân điều 1.000 tấn 41 63 54,8%
Lạc nhân 1.000 tấn 78 107 36,7%
Dầu thô 1.000 tấn 16.732 16.850 0,7%
Than đá 1.000 tấn 4.290 5.870 36,8%
Hàng dệt may Triệu USD 1.975 2.710 37,2%
Giày dép các loại Triệu USD 1.559 1.828 17,2%
Hàng thủ công
mỹ nghệ
Triệu USD 235 328 39,5%
Nguồn : Bộ Thơng mại.
Năm 2001 và 2002, mặc dù kinh tế thế giới vẫn ở trong tình trạng ảm
đạm, trì trệ, mức tiêu dùng xuống thấp, dẫn tới giá cả các mặt hàng giảm làm
cho kim ngạch xuất khẩu của các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam nh
G
DP
(%
)
Tổng kim
ngạ
ch
xuất
khẩ
u
(Tỷ
đồn
g)
1999
399.942 7.700 1,9 11.540
2000
444.139 9.120 2,1 14.308
2001
474.340 10.260 2,1 15.810
Nguồn: Bộ Thơng mại.
Một trong những tiến bộ của dệt may Việt Nam là thâm nhập thành công
thị trờng Hoa Kỳ. Sau một thời gian tìm hiểu về thị trờng rộng lớn này, các
doanh nghiệp đã xuất khẩu thành công hàng may mặc sang thị trờng này và
nhập khẩu nguyên liệu cho quá trình sản xuất. Nhờ đó mà năm 2002, Hoa Kỳ
25