Đề tài: NHỮNG ĐIỂM MỚI CỦA LUẬT TỔ CHỨC CHÍNH QUYỀN ĐỊA
PHƯƠNG NĂM 2015 VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT
ĐỘNG CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG TRONG BỐI CẢNH XÂY DỰNG
NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
1. Những điểm mới trong Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015
1.1. Đối với những quy định chung
Thứ nhất, đổi mới về tên gọi của Luật, từ Luật Tổ chức HĐND và UBND
năm 2003 thành Luật Tổ chức chính quyền địa phương. Qua đó thấy rõ ý nghĩa,
chức năng, vai trò của HĐND và UBND.
Thứ hai, về phạm vi điều chỉnh và bố cục của Luật: Luật gồm 8 chương và
143 điều, tăng 02 chương và 3 điều so với Luật Tổ chức HĐND và UBND năm
2003. Phạm vi điều chỉnh của Luật liên quan tới đơn vị hành chính và tổ chức, hoạt
động của chính quyền địa phương ở các đơn vị hành chính.
Thứ ba, về đơn vị hành chính tương đương thuộc thành phố trực thuộc trung
ương: Luật Tổ chức chính quyền địa phương xác định các đơn vị hành chính gồm
có tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc
tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc Trung ương; xã, phường, thị trấn và đơn
vị hành chính-kinh tế đặc biệt. Như vậy, so với Luật tổ chức HĐND và UBND năm
2003, Luật Tổ chức chính quyền địa phương đã bổ sung thêm đơn vị hành chính:
thành phố thuộc thành phố trực thuộc Trung ương và đơn vị hành chính - kinh tế
đặc biệt. Đây là quy định nhằm cụ thể hóa Điều 110 Hiến pháp năm 2013.
Thứ tư, về mô hình tổ chức chính quyền địa phương ở các đơn vị hành chính:
Điều 4 Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định cấp chính quyền địa
phương được tổ chức ở các đơn vị hành chính gồm có HĐND và UBND. Chính
quyền địa phương ở nông thôn gồm chính quyền địa phương ở tỉnh, huyện, xã.
Chính quyền địa phương ở đô thị gồm chính quyền địa phương ở thành phố trực
thuộc trung ương, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố
trực thuộc trung ương, phường, thị trấn.
Thứ năm: Về phân định thẩm quyền giữa trung ương, địa phương và giữa các
cấp chính quyền địa phương. Luật đưa ra 6 nguyên tắc về phân định thẩm quyền:
- Bảo đảm quản lý nhà nước thống nhất về thể chế, chính sách, chiến lược và
1.2.1. Cơ cấu tổ chức
- Thường trực HĐND
Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có
Chủ tịch Hội đồng nhân dân, hai Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân, các Ủy viên là
Trưởng ban của Hội đồng nhân dân, Chánh Văn phòng Hội đồng nhân dân tỉnh,
thành phố trực thuộc trung ương (khoản 2, Điều 18; khoản 2, Điều 39; khoản 2,
Điều 53, Luật Tổ chức chính quyền địa phương).
Thường trực Hội đồng nhân dân cấp huyện có Chủ tịch Hội đồng nhân
dân, hai Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân và Ủy viên là Trưởng ban của Hội đồng
nhân dân (khoản 2, Điều 25; khoản 2, Điều 46; khoản 2, Điều 53, Luật Tổ chức
chính quyền địa phương).
Thường trực Hội đồng nhân dân cấp xã có Chủ tịch Hội đồng nhân dân và
một Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân hoạt động
chuyên trách (khoản 2, Điều 32; khoản 2, Điều 60; khoản 2, Điều 67, Luật Tổ chức
chính quyền địa phương).
- Các Ban của Hội đồng nhân dân:
Hội đồng nhân dân thành phố trực thuộc trung ương thành lập thêm Ban Đô
thị ở (khoản 3, Điều 39, Luật Tổ chức chính quyền địa phương).
Hội đồng nhân dân cấp huyện: nơi nào có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số thì
thành lập thêm Ban Dân tộc (khoản 3, Điều 25; khoản 3, Điều 46; khoản 3, Điều
53, Luật Tổ chức chính quyền địa phương).
Đối với Hội đồng nhân dân cấp xã thành lập ban Pháp chế và Ban Kinh tế Xã hội, các Trưởng ban, Phó Trưởng Ban của Hội đồng nhân dân hoạt động kiêm
nhiệm (khoản 3, Điều 32; khoản 3, Điều 60; khoản 3, Điều 67, Luật Tổ chức chính
quyền địa phương).
1.2.2. Nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND
Hội đồng nhân dân tỉnh thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn trong 09 lĩnh vực
(Điều 19, Luật Tổ chức chính quyền địa phương); Hội đồng nhân dân huyện thực
hiện nhiệm vụ, quyền hạn trong 05 lĩnh vực (Điều 26, Luật Tổ chức chính quyền
đại biểu Hội đồng nhân dân từ 30 đại biểu đến không quá 45 đại biểu (khoản 1,
Điều 25; khoản 1, Điều 46; khoản 1, Điều 53, Luật tổ chức Chính quyền địa
phương); Hội đồng nhân dân cấp xã từ 15 đến không quá 35 đại biểu (khoản 1,
Điều 32; khoản 1, Điều 60; khoản 1, Điều 67, Luật tổ chức Chính quyền địa
phương).
Tổ đại biểu: Thực tiễn trong hoạt động của Hội đồng nhân dân đã cho thấy
cần tổ chức đại biểu thành tổ để nâng cao hiệu quả hoạt động, trao đổi chuyên môn
và phối hợp trong công tác. Luật Tổ chức chính quyền địa phương đã bổ sung tổ
đại biểu trong cơ cấu của Hội đồng nhân dân. Tổ đại biểu thành lập ở Hội đồng
nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (khoản 4, Điều 18; khoản 4, Điều
39, Luật Tổ chức chính quyền địa phương); và Hội đồng nhân dân cấp huyện
(khoản 4, Điều 25; khoản 4, Điều 46; khoản 4, Điều 53, Luật Tổ chức chính quyền
địa phương). Đối với Hội đồng nhân dân xã, phường, thị trấn không thành lập Tổ
đại biểu Hội đồng nhân dân.
Đại biểu hoạt động chuyên trách: Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy
định Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Trưởng ban Hội đồng nhân dân có thể là đại biểu
Hội đồng nhân dân hoạt động chuyên trách; Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Phó
Trưởng ban của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện là đại biểu Hội đồng nhân
dân hoạt động chuyên trách (quy định tại khoản 3 các Điều: Điều 18, Điều 67, Điều
25, Điều 46, Điều 53, Luật Tổ chức chính quyền địa phương). Đối với cấp xã Phó
Chủ tịch Hội đồng nhân dân hoạt động chuyên trách, Trưởng ban, Phó Trưởng ban
của Hội đồng nhân dân cấp xã hoạt động kiêm nhiệm (quy định tại khoản 3 các
Điều: Điều 32, Điều 60, Điều 67).
1.2.4. Hoạt động của HĐND
Về kỳ họp HĐND, tại Khoản 3 Điều 78 quy định: “Cử tri ở xã, phường, thị
trấn có quyền làm đơn yêu cầu Hội đồng nhân dân xã, phường, thị trấn họp, bàn và
quyết định những công việc của xã, phường, thị trấn. Khi trong đơn yêu cầu có chữ
ký của trên mười phần trăm tổng số cử tri của xã, phường, thị trấn theo danh sách
vị hành chính, theo đó đối với đơn vị hành chính cấp tỉnh loại đặc biệt (Hà Nội và
Thành phố Hồ Chí Minh) có không quá 05 Phó Chủ tịch, loại I có không quá 04
Phó Chủ tịch, loại II và loại III có không quá 03 Phó Chủ tịch. Đối với đơn vị
hành chính cấp huyện loại I có không quá 03 Phó Chủ tịch, loại II và loại III có
không quá 02 Phó Chủ tịch.
Đối với đơn vị hành chính cấp xã loại I có không quá 02 Phó Chủ tịch, loại II
và loại III có 01 Phó Chủ tịch. Ngoài ra, Luật còn bổ sung Điều 124 quy định về
việc điều động, cách chức Chủ tịch, Phó Chủ tịch UBND cho phù hợp với quy
định của Hiến pháp và Luật Tổ chức Chính phủ.
- Theo Điều 20, quy định cơ cấu tổ chức của UBND Tỉnh:
Ủy ban nhân dân tỉnh gồm Chủ tịch, Phó Chủ tịch và các Ủy viên.
+ Ủy ban nhân dân tỉnh loại I có không quá bốn Phó Chủ tịch; tỉnh loại II và
loại III có không quá ba Phó Chủ tịch.
+ Ủy viên Ủy ban nhân dân tỉnh gồm các Ủy viên là người đứng đầu cơ quan
chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, Ủy viên phụ trách quân sự, Ủy viên phụ
trách công an.
Cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh gồm có các sở và cơ quan
tương đương sở.
- Theo Điều 27, quy định cơ cấu tổ chức của UBND Huyện:
Ủy ban nhân dân huyện gồm Chủ tịch, Phó Chủ tịch và các Ủy viên.
+Ủy ban nhân dân huyện loại I có không quá ba Phó Chủ tịch; huyện loại II
và loại III có không quá hai Phó Chủ tịch.
+Ủy viên Ủy ban nhân dân huyện gồm các Ủy viên là người đứng đầu cơ
quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân huyện, Ủy viên phụ trách quân sự, Ủy
viên phụ trách công an.
Cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân huyện gồm có các phòng và cơ
quan tương đương phòng.
- Theo Điều 34, quy định cơ cấu tổ chức của UBND Xã:
Ủy ban nhân dân xã gồm Chủ tịch, Phó Chủ tịch, Ủy viên phụ trách quân sự,
Ủy viên phụ trách công an.
28 Luật TCCQĐP năm 2015)
- UBND Xã
Xây dựng, trình Hội đồng nhân dân xã quyết định các nội dung quy định tại
các khoản 1, 2 và 4 Điều 33 của Luật này và tổ chức thực hiện các nghị quyết của
Hội đồng nhân dân xã.(Theo Khoản 1 Điều 35 Luật TCCQĐP năm 2015). Tổ chức
thực hiện ngân sách địa phương.(Theo Khoản 2 Điều 35 Luật TCCQĐP năm 2015)
Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn do cơ quan nhà nước cấp trên phân cấp, ủy
quyền cho Ủy ban nhân dân xã. . (Theo Khoản 3 Điều 35 Luật TCCQĐP năm
2015).
Nếu như Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003 quy định riêng từng lĩnh
vực cho nhiệm vụ và quyền hạn của UBND thì Luật Tổ chức chính quyền địa
phương năm 2015 vừa quy định từng lĩnh vực, xây dựng và tổ chức thực hiện các
chương trình, dự án, đề án, vừa quy định tổ chức bộ máy và nhiệm vụ, quyền hạn
cụ thể của các cơ quan chuyên môn và việc phân cấp, ủy quyền cho UBND cấp
dưới cũng như các cơ quan, tổ chức khác thực hiện nhiệm vụ.
1.4. Chủ tịch UBND
Chủ tịch UBND “ là người đứng đầu UBND” , đề cao trách nhiệm cá nhân
chủ tịch UBND trong công tác lãnh đạo, điều hành công việc UBND, Ủy viên
UBND. Điều này thể hiện trong nguyên tắc Tổ chức và hoạt động của chính quyền
địa phương, nhiệm vụ, quyền hạn của chủ tịch UBND “ UBND hoạt động theo chế
đọ tập thể, UBND kết hợp với trách nhiệm của chủ tịch UBND” - Khoản 4 Điều 5
Luật Tổ chức chính quyền Địa phương năm 2015.
1.5. Nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Chủ tịch UBND
Nếu như Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003 quy định chung cho Chủ
tịch UBND ở các cấp đều ngang nhau thì Luật Tổ chức chính quyền địa phương
2015 quy định một cách cụ thể cho Chủ tịch UBND từng cấp, từng vùng, có nhiệm
vụ, quyền hạn phù hợp, có thêm quy định về việc giao quyền Chủ tịch Ủy ban nhân
dân cấp huyện trong trường hợp khuyết Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện giữa
giao thông, chống ùn tắc giao thông.
Điều 57. Nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị xã,
thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương
1. Thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại Điều 29 của Luật này.
2. Chỉ đạo và tổ chức thực hiện quy hoạch, kế hoạch phát triển hạ tầng đô
thị; quản lý không gian, kiến trúc, cảnh quan đô thị trên địa bàn.
3. Quản lý quỹ đất đô thị; việc sử dụng quỹ đất đô thị phục vụ cho việc xây
dựng công trình hạ tầng đô thị; quản lý nhà đô thị; quản lý việc kinh doanh nhà ở;
sử dụng quỹ nhà ở thuộc sở hữu nhà nước để phát triển nhà ở tại đô thị; chỉ đạo
kiểm tra việc chấp hành pháp luật trong việc xây dựng nhà ở tại đô thị.
4. Chỉ đạo sắp xếp mạng lưới thương mại, dịch vụ, du lịch đô thị; thực hiện
các biện pháp quản lý dân cư và tổ chức đời sống dân cư đô thị.
5. Chỉ đạo và tổ chức thực hiện nhiệm vụ bảo đảm trật tự công cộng, an toàn
giao thông; phòng, chống cháy, nổ, ùn tắc giao thông trên địa bàn.
Điều 59. Nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương ở phường
1. Tổ chức và bảo đảm việc thi hành Hiến pháp và pháp luật trên địa bàn
phường.
2. Quyết định những vấn đề của phường trong phạm vi được phân quyền,
phân cấp theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan.
3. Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn do cơ quan hành chính nhà nước cấp trên
ủy quyền.
4. Chịu trách nhiệm trước chính quyền địa phương ở quận, thị xã, thành phố
thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương về kết quả thực hiện
các nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương ở phường.
5. Quyết định và tổ chức thực hiện các biện pháp nhằm phát huy quyền làm
chủ của Nhân dân, huy động các nguồn lực xã hội để xây dựng và phát triển kinh tế
- xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh trên địa bàn phường.
Điều 64. Nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường
- Hoạt động của chính quyền địa phương ngày cáng chuyên nghiệp và phát
triển dần đem lại sự hài lòng và uy tín trong nhân dân.
Tuy nhiên đi chung với nhiều ưu điểm thì hoạt động của chính quyền địa
phương vẫn vướng mắc những hạn chế sau :
- Lực lượng cán bộ công chức ở các xã phường hiện nay vẫn còn yếu kém dẫn
đến quá trình hoạt động và quản lý của cấp này còn thấp
- Công tác quy hoạch cán bộ chưa được chú ý đúng mức dẫn đến tình trạng
thiếu cán bộ lãnh đạo và sự hẫng hụt về thế hệ
- Việc phát triển đội ngũ cán bộ, công chức trong bộ máy hành chính cấp cơ sở
chưa được chú ý thích đáng
- Công tác đào tạo bồi dưỡng cán bộ công chức nhà nước hiện nay chưa được
quản lí chặc chẽ, chưa theo kịp được những yêu cầu thực tiễn, kiến thức
trang bị cho học viên còn lạc hậu.
- HĐND cấp xã vẫn chưa sử dụng hết quyền của mình trong hoạt động quản lí
- Hệ thống pháp luật chưa phân định rõ ràng cụ thể chính quyền đô thị và
chính quyền nông thôn ,chưa phản ánh hết đặc điểm của chính quyền đô thị ,
nhất là các đô thị lớn.
- Tồn tại sự hách dịch, quấy nhiễu nhân dân và chưa làm hết nhiệm vụ của
mình trong công chức nhất là công chúc cấp cơ sở hiện nay
- Việc phân định trách nhiệm các nhân đối với trách nhiệm tập thể ở hoạt động
chính quyền địa phương hiện nay chưa rõ ràng.
- Hoạt động của chính quyền địa phương chưa thật sự phát huy sự sang tạo,
chủ động
- Việc kiểm tra giám sát giữa các cơ quan trong chính quyền địa phương vẫn
còn hạn chế.
- Thiếu cơ sở vật chất ở các địa phương vùng sâu vùng xa cũng ảnh hưởng lớn
đến hoạt động của chính quyền địa phương
Với những hạn chế trên cần có những giải pháp đẩy mạnh những thế mạnh phát