Phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc trong nhiệm vụ bảo vệ tổ quốc - Pdf 47

I/ PHẦN MỞ ĐẦU
1/ Tính cấp thiết của đề tài:
“Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết
Thành công, thành công, đại thành công”
Đó là chân lý mà chủ tịch Hồ Chí Minh đã tổng kết và khái quát truyền thống
lịch sử của dân tộc ta. Nhờ có đoàn kết mà 54 dân tộc anh em cùng chung sống trên
mảnh đất không rộng lắm, trình độ phát triển về kinh tế còn thấp kém, nhưng đã
vượt qua bao gian lao, thử thách, chống chọi được với thiên tai, dịch họa, bảo vệ
được giang sơn, bờ cõi, giữ gìn được bản sắc văn hóa dân tộc, và đang chung sức,
xây dựng đất nước.
Để đi đến thắng lợi to lớn ngày nay, cuộc đấu tranh của nhân dân ta đã trải qua
những khó khăn, thử thách, những khúc quạnh với những ấu trĩ, sai lầm, khuyết
điểm. Hơn ai hết, dân tộc ta hiểu rõ giá trị của sự đoàn kết và quyết tâm làm tất cả
những gì có thể làm được để củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, kiên quyết
những gì phá hoại, hoặc làm xói mòi, làm suy yếu khối đại đoàn kết này, vì lịch sử
đã cho chúng ta bài học quý giá “Đoàn kết thì sống, chia rẽ thì chết” .Điều đó cắt
nghĩa vì sao mọi thế lực thù địch muốn phá hoại sự nghiệp chính nghĩa của dân tộc
ta, lại nhằm vào tiêu điểm là phủ nhận, xuyên tạc, phá hoại khối đại đoàn kết toàn
dân tộc của nhân dân ta, vì đây chính là cuội nguồn, là bảo đảm cho thắng lợi cách
mạng của nước ta, là một động lực chủ yếu cho sự phát triển của đất nước hôm nay,
và mai sau. Đấu tranh để bảo vệ sự vững chắc của khối đại đoàn kết toàn dân, tức là
đấu tranh làm thất bại về căn bản âm mưu phá hoại công cuộc xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc.
Truyền thống đoàn kết của dân tộc ta được nâng lên ở tầm cao mới trong thời
đại Hồ Chí Minh, kết tinh thành tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết toàn dân
tộc. Thực tiễn cách mạng nước ta đã chứng minh một cách hùng hồn sức sống
mãnh liệt và sức mạnh vĩ đại không gì chiến thắng nổi của tư tưởng Hồ Chí Minh
về đại đoàn kết toàn dân tộc, và Đảng đã quán triệt sâu sắc tư tưởng đó thành sợi
chỉ đỏ xuyên suốt trong đường lối cách mạng của Đảng qua mọi thời kỳ.

Trang 1

càng ngay gắt,cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng, cuộc cải cách hành chính
chưa đem lại kết quả như mong muốn, cuộc đất tranh phòng chống tham nhũng
kém kết quả ...một số hạn chế trong việc thực hiện chính sách đối với thành phần

Trang 2


kinh tế với một số vấn đề xã hội ... đều là những yếu tố tác động nhất định đến việc
xây dựng và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân.
Xã là một xã bãi ngang ven biển nằm về phía Bắc của Huyện, cách trung tâm
hành chính huyện Núi Thành khoảng 03 km về phía Đông Nam. Trong những năm
qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ, sự điều hành của chính quyền, sự phối hợp vận
động, tập hợp quần chúng của mặt trận và các đoàn thể, sự vào cuộc đồng bộ của cả
hệ thống chính trị, sự đồng thuận của nhân dân xã đạt được nhiều kết quả đáng
khích lệ: kinh tế tiếp tục phát triển mạnh, xã hội ổn định, an ninh quốc phòng và
trật tự xã hội được giữ vững, đời sống nhân dân được cải thiện: các sinh hoạt dân
chủ, sinh hoạt văn hóa tinh thần trong nhân dân ngày càng được nâng cao; cơ sở hạ
tầng được đầu tư xây dựng; đường làng ngõ xóm phong quan, sạch đẹp. Nhân dân
tin tưởng và tích cực sáng tạo trong việc triển khai thực hiện chủ trương, đường lối
đổi mới của Đảng, Chính sách, pháp luật của Nhà nước, đoàn kết phấn đấu vì mục
tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, xây dựng quê hương
ngày càng giàu đẹp. Khối đại đoàn kết toàn dân được củng cố. Đảng bộ nhiều năm
liền đạt trong sạch vững mạnh, đặc biệt được công nhận Đảng bộ trong sạch vững
mạnh tiêu biểu 5 năm liền (2011-2014)
Bên cạnh những kết quả cơ bản đã đạt được, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân
đã được phát huy, xã , vẫn còn một số tồn tại hạn chế như:
Những khó khăn về kinh tế và phát triển xã hội, những mâu thuẫn về lợi ích
trong một bộ phận nhân dân nhất là hiện tượng tranh chấp đất đai có chiều hướng
tăng lên; những vướn mắc trong quan hệ giữa dân với dân; một số mâu thuẫn phát
sinh ở cơ sở chưa được giải quyết kịp thời, dứt điểm …

Như vậy vấn đề đại đoàn kết toàn dân tộc đã được nâng lên một tầm cao mới,
rộng lớn và toàn diện hơn, có ý nghĩa cực kỳ quan trọng thúc đẩy công cuộc đổi
mới, trở thành động lực chủ yếu để phát triển đất nước.
Do vậy, thông qua những vần đề lý luận đã học để làm cơ sở nghiên cứu và
thuyết minh ở phần lý luận chung của đề tài, đồng thời nghiên cứu phân tích, khảo
sát đánh giá tình hình thực tiễn của địa phương để rút ra ưu điểm, khuyết điểm và
bài học kinh nghiệm để phân tích đề tài, qua đó, nêu ra những phương hướng, giải
pháp, những kiến nghị về vấn đề xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân của xã để
tham mưu và cùng với lãnh đạo địa phương xem xét, vận dụng có hiệu quả trong
thời gian đến.
4/ Giới hạn đề tài:
Đề tài phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc trong tình hình mới, vì dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh là
một vấn đề rộng lớn, toàn diện và bao trùm trên mọi lĩnh vực đời sống của xã hội,
nhưng do khuôn khổ của một tiểu luận, do điều kiện thời gian và năng lực có giới

Trang 4


hạn, bản thân tập trung nghiên cứu lý luận về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn
dân gắn với thực tiễn của xã
5/ Kết cấu đề tài:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, kèm theo danh mục nguồn tư liệu tham khảo,
nội dung đề tài kết cấu gồm 3 phần:
Chương I: Lý luận chung về xây dựng củng cố phát huy sức mạnh đại
đoàn kết toàn dân.
Chương II: Thực trạng phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân của xã
trong những năm qua.
Chương III: Phương hướng, giải pháp và đề xuất việc phát huy sức mạnh
đại đoàn kết toàn dân của xã trong thời gian đến

của cách mạng, đồng thời biết kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời
đại để làm cuộc cách mạng vô sản.
II/ TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC VÀ
MẶT TRẬN DÂN TỘC THỐNG NHẤT:
Kế tục và phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta đồng thời kết tinh, tinh
hoa văn hóa nhân loại, đặc biệt là lý luận Chủ nghĩa Mác - Lê Nin, Chủ tịch Hồ Chí
Minh đã khẳng định: “Dân là tối thượng”, “Cách mạng là việc chung cả dân chúng
chứ không phải việc một hai người”. Người luôn quan tâm đến vấn đề đoàn kết, vì
đoàn kết là sức mạnh của cách mạng và đoàn kết là truyền thống quý báu của Đảng
và dân tộc ta.
Đoàn kết theo tư tưởng Hồ Chí Minh đó là sự thống nhất đồng tâm, hiệp lực
tạo thành một sức mạnh vô địch để thực hiện ý chí, mục đích và lý tưởng chung,
muốn đoàn kết thì phải có tổ chức chỉ huy, do đó Người chỉ rõ:

Trang 6


“Việt minh là cơ sở cho sự đoàn kết, phấn đấu của dân tộc ta trong lúc này, hãy
ra nhập Việt minh, ủng hộ Việt minh, làm cho Việt minh rộng lớn mạnh mẽ”.
Để tập hợp lực lượng sức mạnh đoàn kết của cả dân tộc, người kêu gọi: “Đồng
bào kinh hay Thổ, Mường hay Mán, Gia Nai hay Ê Đê, Xê Đăng hay Ba Na và các
dân tộc tiểu số khác, đều là con cháu Việt Nam, đều là anh em ruột thịt, chúng ta
sống chết có nhau, sướng khổ cùng nhau, no đói giúp nhau”.
* Về phương pháp đoàn kết Người nói:
“Tôi khuyên đồng bào đoàn kết chặt chẽ và rộng rãi, năm ngón tay cũng có
ngón ngăn ngón dài. Nhưng ngắn dài đều hợp nhau lại nơi bàn tay. Trong mấy
triệu người có có người thế này hay thế khác, nhưng thế này hay thế khác đều dòng
dõi của tổ tiên ta, nên ta phải khoan hồng đại độ ta phải nhận rằng đã là con cháu
lạc hồng thì ai cũng có ít hay nhiều lòng ái quốc. Đối với những người đồng
bào lạc lối lầm đường, ta phải lấy tình nhân ái mà cảm hóa họ, có như thế mới

chống kẻ thù chung, giải phóng dân tộc.
Tiếp thu và phát triển lý luận Chủ nghĩa Mác - Lê nin và vai trò sứ mệnh lịch
sử của quần chúng, trong thời kỳ này Đảng đã thành lập Mặt trận dân tộc thống
nhất Việt Nam để xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân. Qua các giai đoạn của cách
mạng Đảng đã chủ trương thay đổi tên gọi của Mặt trận cho phù hợp với tình hình,
đồng thời có những hình thức về biện pháp mới về tổ chức để tập hợp, đoàn kết
rộng rãi các tầng lớp nhân dân, liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hòa
bình thực hiện thắng lợi cuộc cách mạng giải phóng dân tộc.
2. Quan điểm của Đảng ta về xây dựng, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân
trong thời kỳ đổi mới:
Xây dựng, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc đã được Đại hội VI của
Đảng tổng kết thành bài học lịch sử trong đó nổi bật là 2 bài học lớn: Lấy dân làm
gốc và kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại, thực hiện đoàn kết
quốc tế, tư tưởng đại đoàn kết toàn dân tộc đã được nâng lên một tầng cao mới.
Đến Đại hội VII, Đảng ta chủ trương mở rộng khối đại đoàn kết, trước hết là
mở rộng nền tảng của khối đại đoàn kết toàn dân tộc bao gồm công nhân, nông dân,
trí thức đặt lợi ích dân tộc và lợi ích con người lên hàng đầu, coi đó là xuất phát

Trang 8


điểm của các chính sách, là cơ sở xây dựng củng cố khối đại đoàn kết toàn dân
trong thời kỳ mới.
Đại hội lần thứ VIII của Đảng ta tiếp tục khẳng định những quan điểm trên,
đồng thời đề ra các chính sách cụ thể đối với các dân tộc trong nước, nhằm tạo ra
những động lực mới thúc đẩy phong trào cách mạng của nhân dân.
Tiếp tục cụ thể hóa và nâng cao hơn tầm vóc của chủ trương đại đoàn kết Đại
hội IX của Đảng ta đã khẳng định chủ trương và mở rộng biên độ của đại đoàn kết
toàn dân tộc, bao gồm các dân tộc, tôn giáo, giai cấp, tầng lớp, thành phần kinh tế,
mọi giới, mọi lứa tuổi, mọi vùng của đất nước, người trong Đảng và người ngoài

Tiếp tục cụ thể hóa và làm rõ hơn nữa biện pháp, hình thức chủ trương, chính
sách đại đoàn kết toàn dân tộc trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước, Đại hội X của Đảng ta đề ra các quan điểm như sau:
Một là: Đại đoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân
với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, dưới sự lãnh đạo của Đảng là đường lối
chiến lược của cách mạng Việt Nam; là nguồn sức mạnh, động lực chủ yếu và là
nhân tố có ý nghĩa quyết định bảo đảm thắng lợi bền vững của sự nghiệp xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc.
Hai là: Đại đoàn kết là sự nghiệp của toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị
mà hạt nhân lãnh đạo là các tổ chức Đảng, được thực hiện bằng nhiều biện pháp,
hình thức, trong đó các chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà
nước có ý nghĩa quan trọng hàng đầu.
Ba là: Đảng thực hiện vai trò lãnh đạo của mình thông qua đường lối và chính
sách, liên hệ mật thiết với nhân dân.
Bốn là: Thực hiện đồng bộ các chính sách pháp luật của Nhà nước nhằm phát
huy dân chủ (dân chủ đại diện, dân chủ trực tiếp và chế độ tự quản của cộng đồng
dân cư) và giữ vững kỷ cương trong xã hội.
Đoàn kết tiếp tục được khẳng định:
Trong Hiến pháp năm 2013, tư tưởng đại đoàn kết toàn dân tộc được kế thừa
từ các bản Hiến pháp trong lịch sử lập hiến của nước ta và phát huy mạnh mẽ, được
quy định một cách cụ thể trong nhiều điều. Tư tưởng đại đoàn kết dân tộc được ghi
nhận trong Hiến pháp 2013 cũng là quan điểm nhất quán mà Đại hội Đảng toàn
quốc lần thứ XI đã khẳng định: "Nâng cao nhận thức, trách nhiệm của
toàn Đảng, toàn dân về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân

Trang 10


tộc trong bối cảnh mới. Lấy mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam
hoà bình, độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, dân giàu, nước

Thôn

Dân số
Hộ

Ghi chú

Khẩu

1

Đông Xuân

205

623

2

Đông Mỹ

295

1.067

Trang 13


3


1.787

6.036

Tổng cộng

- Đa số người dân sống bằng nghề ngư nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản chiếm
65%, sản xuất nông nghiệp và dịch vụ khác chiếm 35%. Đời sống nhân dân tương
đối ổn định, từng bước phát triển, tỷ lệ hộ nghèo của xã còn 9,19%
- Tình hình kinh tế xã hội địa phương có xu hướng phát triển, ổn định cụ thể:
a/ Về kinh tế:
- Khai thác hải sản: Tổng số phương tiện trên địa bàn xã 54 chiếc, công suất
32.053CV; giảm 5 chiếc, giảm 2.105CV so năm 2013. Sản lượng khai thác
12.397/11.000 tấn, đạt 112,7% kế hoạch năm (tăng 1.895 tấn so với năm 2013); giá
trị sản lượng 234,25 tỷ đồng (tăng 58,2 tỷ đồng so với năm 2013).Trong đó:
+Nghề mực sản lượng ước đạt 11.594/10.500 tấn, đạt 110,4% KH, tăng 930
tấn so năm 2013; giá trị sản lượng 214,52 tỷ đồng.
+Nghề khác, sản lượng 803/500 tấn, đạt 160,6%KH, giá trị sản lượng 19,75
tỷ đồng.
- Nuôi trồng thuỷ sản: Tổng diện tích 170ha, nhân dân đã thả nuôi 145 ha
(đạt 85,2% diện tích nuôi), các hộ nuôi chủ yếu theo hình thức xen canh, nuôi
lồng ghép; sản lượng thu hoạch ước đạt 36 tấn, giá trị sản lượng ước đạt 4,3 tỷ
đồng. Nhìn chung nuôi trồng thủy sản đạt thấp do nhân dân thả nuôi vụ 1 bị dịch
bệnh xảy ra trên diện rộng.
- Lĩnh vực nông nghiệp:
+ Trồng trọt:Tổng diện tích gieo trồng cả năm 351,7ha. Tổng sản lượng cả
năm 914,9/850 tấn, đạt 107,6% kế hoạch, tăng 22,6 tấn (tăng 2,53% so với năm
2013).
+Chăn nuôi: Tổng đàn gia súc, gia cầm là: 9.672 con, tăng 655 con so với
2013. Trong đó: đàn trâu, bò là 483 con (tăng 64 con); đàn heo là 516 con (tăng

Trường THCS: Tổng số học sinh đầu năm 431 em đến cuối năm giảm 5 em,
trong đó bỏ học 3 em (tỷ lệ 0,69%). Học sinh giỏi 94 em, đạt tỷ lệ 21,8%; khá 150
em, tỷ lệ 34,8%; tốt nghiệp đạt 100 %.
Trường Tiểu học: Tổng số học sinh đầu năm 520 em, cuối năm giảm 2 em
(do chuyển trường). Trong đó: Học sinh xuất sắc 259 em, tỷ lệ 50%; Tiên tiến 129
em, tỷ lệ 24,9%; Hoàn thành chương trình tiểu học lớp 5 đạt 100%;
Trường Mẫu giáo: Tổng số cháu cuối năm học 306 cháu (Công lập 260
cháu). Bé khoẻ, bé ngoan đạt 100%;
Tỷ lệ học sinh khá, giỏi ngày càng tăng, hằng năm đều có học sinh thi học
sinh giỏi cấp tỉnh, cấp huyện đạt giải: Trường THCS Phan Châu Trinh đạt 04 giải
cấp tỉnh, 31 giải cấp huyện, Trường TH Lê Hồng Phong đạt 11 giải cấp huyện.
- Y tế, DSGĐ – TE:
- Y tế: Duy trì tôt các chương trình y tế Quốc gia, làm tốt công tác vệ sinh
phòng dịch; vệ sinh an toàn thực phẩm, đã tiến hành tổ chức kiểm tra trên 22 cơ sở.
Tích cực trong công tác phục vụ khám chữa bệnh cho nhân dân; chất lượng khám
chữa bệnh được nâng lên, tổng số lần khám 9612 lần (tăng 2.428 lần so với cùng kỳ
năm 2013); Công tác tuyền truyền và thông tin về bảo vệ, chăm sóc và nâng cao
Trang 15


sức khoẻ cho nhân dân được thực hiện thường xuyên. Tỷ lệ hộ gia đình sử dụng
nước sạch 95,1%.
- Công tác DSKHGĐ: Được sự quan tâm chỉ đạo thường xuyên, công tác
truyền thông, lồng ghép dịch vụ đạt kết quả tốt. Tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng dưới 2
tuổi 6,84% , dưới 5 tuổi 9,17% (giảm 1,02% so năm 2013), trẻ em suy dinh dưỡng
thấp còi 14,74% (giảm 1,22% so cùng kỳ).
- Văn hoá, thể thao và truyền thanh:
Công tác xây dựng đời sống văn hóa ngày càng nâng lên về chất lượng.
Trong nhiều kết quả đạt được, đáng lưu ý là phong trào xây dựng gia đình văn hoá,
tộc họ văn hoá, tổ đoàn kết tiên tiến xuất sắc được đẩy mạnh, triển khai có chất



2/ Những thuận lợi và khó khăn về công tác Mặt trận của xã trong những
năm qua:
a/ Thuận lợi:
Được sự quan tâm lãnh đạo toàn diện của Đảng bộ, quan tâm lãnh chỉ đạo
bằng Nghị quyết hằng năm, 06 tháng, quý và hằng tháng. Sự phối hợp ngày càng
hiệu quả của chính quyên, sự chủ động, tích cực của các tổ chức thành viên, sự nỗ
lực, tâm huyết của đội ngũ cán bộ làm công tác mặt trận từ xã đến thôn, đặc biệt là
sự quan tâm ủng hộ đồng thuận cao của nhân dân xã nhà.
Việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở, triển khai thực hiện các cuộc vận
động, phong trào: “Toàn dân xây dựng đời sống văn hóa” “Ngày vì người nghèo”,
“Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”; phong trào “Đền ơn đáp nghĩa”,
“hưởng ứng xây dựng nông thôn mới” v.v... đã trở thành chìa khóa mở ra những
hành động thiết thực nhất đối với mọi người, đối với cộng đồng, và Mặt trận là cơ
sở để tập hợp, vận động nhân dân hưởng ứng thực hiện tốt.
Các chính sách xã hội của Đảng, Nhà nước đã tác động tích cực đến phát triển
KT - XH của địa phương, nhân dân tin tưởng vào đường lối đổi mới của Đảng, tinh
thần đoàn kết cộng đồng khu dân cư ngày càng được nâng lên
b/ Khó khăn:
-Việc tập hợp nhân dân vào tổ chức và hoạt động của mặt trận và các đoàn thể,
các tổ chức thành viên vẫn còn nhiều khó khăn, còn nhiều lúng túng trong việc đề
ra nội dung, cách làm phù hợp với yêu cầu tập hợp, vận động quần chúng trong tình
hình mới; chưa có nhiều hình thức, biện pháp thích hợp và hấp dẫn để thu hút đông
đảo các lực lượng xã hội tham gia vào tổ chức. Chất lượng một số phong trào, một
số cuộc vận động chưa ngang tầm với yêu cầu nhiệm vụ, chưa tương xứng với tiềm
năng và sức mạnh nội lực trong nhân dân.
-Hoạt động giám sát của mặt trận , các thành viên thời gian qua mặc dù có
kết quả tích cực hơn, song nhìn chung vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu. Một số hoạt
động giám sát của MTTQ xã chậm được triển khia như: hoạt động phản biện xã

mâu thuẫn phát sinh được khắc phục, lợi ích chung được tôn trọng.
Đã mở rộng tổ chức, tăng thêm 02 thành viên. Đoàn TNCS Hồ Chí Minh,
Hội LHPN, Hội Nông dân, Hội CCB...giữ vững khối liên minh và cộng đồng trách
nhiệm trong MTTQ, có nhiều đóng góp tích cực trong việc triển khai thực hiện các
chương trình hành động của MTTQ; Hội NCT, Hội CTĐ, Hội Khuyến học, Hội tù
yêu nước...tiếp tục có sự gắn kết chặt chẽ với UBMT trong việc triển khai thực hiện
chương trình công tác Hội, tham gia giải quyết nhiều vấn đề dân sinh, dân trí ở cơ
sở. Nhìn chung, các tổ chức hội, đoàn thể trong những năm qua có nhiều đổi mới
mạnh mẽ về hình thức tập hợp và vận động nhằm thu hút ngày càng rộng rãi các
tầng lớp nhân dân, gắn bó được đoàn viên hội viên vào tổ chức, số lượng đoàn hội
viên không ngừng tăng, 5 năm qua các tổ chức thành viên đã vận động kết nạp mới
2450 hội viên, qua đó triển khai có kết quả nhiều phong trào quần chúng ở cơ sở.
UBMT xã tiếp tục có nhiều hình thức tập hợp, phát huy vai trò của các cá
nhân tiêu biểu, người có uy tín...tham gia các hoạt động của MTTQ làm cho hiệu
quả và phạm vi của MT được mở rộng và nâng cao. Quan hệ giữa MTTQ xã với tổ
chức tôn giáo, các vị chức sắc...tiếp tục có bước phát triển. Các vị chức sắc đã có

Trang 18


sự tham gia và đóng góp tích cực vào tổ chức và phong trào MT ở địa phương nhất
là các hoạt động nhân đạo, từ thiện, XĐGN...
Mặt trận xã cùng với cấp uỷ đảng và chính quyền chăm lo cuộc sống của
nhân dân, nhất là các tầng lớp, các nhóm xã hội gặp nhiều khó khăn trong cuộc
sống, những lúc thiên tai hoạn nạn.
Ngày hội đại đoàn kết toàn dân tộc được tổ chức hằng năm vào dịp 18/11
thực sự là ngày hội của toàn dân, được đông đảo các tầng lớp nhân dân đồng tình
hưởng ứng. Thông qua ngày hội tiếp tục khơi dậy và phát huy truyền thống yêu
nước, yêu quê hương, sức mạnh khối đoàn kết toàn dân ở công đồng dân cư, tạo sự
đồng thuận xã hội, làm cho mối quan hệ trong nhân dân, giữa nhân dân với cán bộ



sản xuất, kinh doanh và tiêu thụ sản phẩm hàng hoá nội địa trên địa bàn và của cả
nước.
Các tổ chức thành viên còn chủ động tổ chức các phong trào, cuộc vận động
để huy động đoàn viên, hội viên và các tầng lớp nhân dân thực hiện các cuộc vận
động của Mặt trận có hiệu quả như: Đoàn thanh niên với phong trào “hiến máu tình
nguyện”, “ngày chủ nhật xanh”, “Đội thanh niên xung kích ngày công giá rẽ”...Hội
nông dân với phong trào thi đua sản xuất giỏi, xây dựng nông thôn mới, “Nông dân
với van hoá đồng ruộng”... Hội PN với phong trào Phụ nữ tích cực học tập, lao
động sáng tạo, xây dựng gia đình hạnh phúc, mô hình “nuôi heo đất”, CLB “ bảo vệ
và phát triển rừng ngập mặn”, “tổ phụ nữ thu gom rác thải”...; Hội cựu chiến binh
với phong trào làm đường GTNT, mô hình “nuôi heo đất”...; Hội NCT với phong
trào Người cao tuổi nêu gương sáng vì sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc ...
3. Vận động nhân dân phát huy quyền làm chủ trong việc tham gia xây
dựng Đảng, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong sạch vững mạnh,
giữ vững mối quan hệ mật thiết giữa nhân dân với Đảng và Nhà nước.
Hệ thống mặt trận đã tích cực tham gia, đóng góp vào quá trình chuẩn bị và
tổ chức đại hội đảng bộ các cấp tiến tới đại hội toàn quốc lần thứ XII của Đảng. Tổ
chức tuyên truyền sâu rộng trong quần chúng nhân dân về ý nghĩa của đại hội thông
qua đài truyền thanh, tổ chức các buổi sinh hoạt tại khu dân cư, phát động thi đua
đặc biệt chào mừng đại hội, tổ chức cho nhân dân tham gia đóng góp ý kiến vào
các báo cáo của đại hội và nhân sự đại hội đảng bộ xã lần thứ 14. Cuộc vận động
“Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” theo Nghị quyết 06 và
Chỉ thị 03 của Bộ chính trị được UBMT và các tổ chức thành viên thực hiện đồng
bộ và có hiệu quả, hằng năm tổ chức cho nhân dân đóng góp ý kiến cho cán bộ,
đảng viên ở KDC trong quá trình thực hiện cuộc vận động. Tổ chức các hội nghị để
nhân dân đóng góp cho cán bộ, đảng viên thực hiện Nghị quyết TƯ4 về “ Một số
vấn đề cấp bách trong xây dựng Đảng hiện nay”.
Trong cuộc bầu cử HĐND các cấp và bầu cử Quốc hội khoá 13 MTTQ xã

3/ Một số thành tựu chung từ sự phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân
xã trong thời gian qua:
- Về kinh tế đã có sự tăng trưởng vượt bậc, đời sống kinh tế nhân dân ngày
càng nâng cao, tỷ lệ hộ khá, giàu tăng lên, tỷ lệ hộ nghèo giảm còn 9,19%
-Về văn hoá: 6/6 khu dân cư phát động thôn văn hoá, 8 tộc phát động tộc văn
hoá trong đó có 6 khu dân cư đều được công nhận thôn văn hoá cấp huyện, 6 tộc
được công nhận tộc văn hoá.
- Về Giao thông: các tuyến đường liên thôn được khép kín bêtông hoá, tuyến
đường chính được mở rộng 8m, trán nhựa, các tuyến đường liên thôn được mở rộng
6m
- Về an ninh chính trị, TTATXH được giữ vững ổn định, nhân dân đoàn kết, tin
tưởng vào đường lối đổi mới của Đảng, quyết tâm phấn đấu xây dựng Đảng, chính
quyền trong sạch vững mạnh.
III/ ĐÁNH GIÁ CHUNG:
1.Ưu điểm
Có nhiều đổi mới về phương thức, nội dung và đem lại hiệu quả trong công
tác tuyên truyền, vận động đa dạng hoá các hình thức tập hợp đoàn kết các tầng lớp
nhân dân, ý thức chấp hành chủ trương , pháp luật được nâng lên. Phối hợp tổ chức,
triển khai được nhiều mô hình, các cuộc vận động với những cách làm mới được
nhân dân đồng tình hưởng ứng rất cao tạo nên phong trào thi đua yêu nước rộng
Trang 21


khắp và hiệu quả. Thể hiện được vai trò của Mặt trận trong giám sát và phản biện
xã hội, trong nhiệm vụ xây dựng Đảng, chính quyền và hệ thống chính trị ở địa
phương vững mạnh, bảo vệ được quyền và lợi ích chính đáng của người dân.
Phương thức hoạt động của mặt trận có nhiều đổi mới, hướng mạnh về cơ sở, hiệu
quả hoạt động của BCTMT, TĐK được nâng lên; hệ thống mặt trận xã thường
xuyên được củng cố và nâng cao hiệu quả hoạt động.
Nhìn chung, công tác mặt trận và hoạt động của mặt trận xã nhiệm kỳ VI tiếp

- Nguyên nhân về thành công

Trang 22


+ Công tác mặt trận không ngừng được tăng cường sự lãnh đạo của cấp uỷ
đảng; ngày càng được sự quan tâm phối hợp, tạo điều kiện của chính quyền; sự
phối hợp hành động của các tổ chức thành viên và sự hưởng ứng tích cực của các
tầng lớp nhân dân .
+ Tình hình kinh tế, xã hội ở địa phương tuy còn nhiều khó khăn nhưng về cơ
bản được ổn định, an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ngày càng giữ vững đem
lại lòng tin vững chắc trong các tầng lớp nhân dân. Ý thức trách nhiệm, lòng yêu
nước của nhân dân tạo nên sự đồng thuận xã hội làm cho khối đoàn kết toàn dân
ngày càng bền vững tạo nên những thuận lợi cơ bản cho công tác vận động, tập hợp
của Mặt trận.
+ Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam xã và Ban Công tác Mặt trận các khu
dân cư đã có nhiều nỗ lực phấn đấu, khắc phục mọi khó khăn trong việc đổi mới
phương thức hoạt động để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ mới; hướng mạnh hoạt động
về cơ sở, đi vào những vấn đề cụ thể, thiết thực của nhân dân, địa phương nên được
hệ thống chính trị và nhân dân ủng hộ.
- Nguyên nhân của những hạn chế, yếu kém:
+ Nhận thức về vai trò, vị trí của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong nhiệm vụ
xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân theo quan điểm, đường lối của Đảng có lúc, có
nơi chưa được toàn diện và sâu sắc, vai trò nhân dân làm chủ thông qua Mặt trận
chưa được phát huy, làm cho Mặt trận chưa làm tròn vai trò đại diện cho quyền và
lợi ích hợp pháp của các tầng lớp nhân dân. Việc thực hiện Kết luận 62, ngày 0812-2009 của Bộ Chính trị khóa X về "Tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt
động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội" còn biểu
hiện giao khoán cho Mặt trận, thiếu đôn đốc, kiểm tra thực hiện của hệ thống chính
trị.
+ Những tác động tiêu cực của mặt trái cơ chế thị trường; những khó khăn về

công tác MT. Đặc biệt là vai trò cán bộ đảng viên KDC. Đẩy mạnh các phong trào
thi đua gắn với việc làm tốt công tác khen thưởng, kịp thời động viên biểu dương
những tập thể cá nhân xuất sắc.
- Xây dựng, cũng cố hệ thống mặt trận nhất là Ban CTMT, tổ đoàn kết đảm
bảo chất lượng và hiệu quả.

Trang 24


CHƯƠNG III
PHƯƠNG HƯỚNG GIẢI PHÁP VÀ ĐỀ XUẤT VIỆC PHÁT HUY
SỨC MẠNH ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TỘC CỦA
XÃ TRONG THỜI GIAN ĐẾN
Tiếp tục khai thác những thuận lợi, phát huy thành tích đã đạt được, đồng thời
khắc phục khó khăn, tồn tại trong công tác mặt trận xã nhà trong những năm qua,
tự hào về truyền thống cách mạng vẻ vang, về những thành quả đạt được của xã
nhà; với niềm tin tưởng và quyết tâm cao của các tầng lớp nhân dân, tôi xin đề ra
phương hướng, mục tiêu trong thời gian đến:
I.PHƯƠNG HƯỚNG, NHIỆM VỤ
Tiếp tục tuyên truyền, vận động các tầng lớp nhân dân phát huy dân chủ, ý
chí tự lực, tự cường, mở rộng và nâng cao sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc;
tích cực hưởng ứng các cuộc vận động, phong trào thi đua yêu nước, hoàn thành
vượt mức các chỉ tiêu, kế hoạch hằng năm; không ngừng nâng cao chất lượng, hiệu
quả hoạt động của MT, các tổ chức thành viên theo chức năng, nhiệm vụ cùng cấp
uỷ Đảng, chính quyền xây dựng xã nhà ngày càng phát triển, đáp ứng yêu cầu sự
nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và nguyện vọng chính đáng của các
tầng lớp nhân dân.
II. MỘT SỐ CHỈ TIÊU CHỦ YẾU.
- 6/6 KDC triển khai có hiệu quả cuộc vận động TD ĐKXD ĐSVH ở KDC
gắn với xây dựng nông thôn mới. Tiếp tục nâng cao chất lượng xây dựng gia đình


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status