Së gi¸o dôc vµ ®µo t¹o hng yªn
Trêng THPT CHUY£N H¦NG Y£N
---------------------------------
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG HỆ
THỐNG BÀI TẬP TRONG DẠY
VÀ HỌC LỊCH SỬ
VIỆT NAM LỚP 11
Môn:
Lịch sử
Tác giả:
Th.s Nguyễn Thị Hiền
Giáo viên môn: Lịch sử
Trêng THPT Chuyªn Hng Yªn
Năm học 2015 - 2016
1
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU …………………………………………………………………....5
1.Lý do chọn đề tài ………………………………………………………………. ... 5
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ………………………………………………………..6
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu……………………………………………… …7
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu …………………………………………….. …7
PHẦN NỘI DUNG ………………………………………………………………… 8
2.1.3. Nội dung lịch sử Việt Nam từ 1858 – 1918…………………………………52
2.2. Thiết kế bài tập lịch sử trong dạy học lịch sử Việt Nam từ 1858 – 1918,
lớp 11 THPT……………………………………………………………………...56
2.2.1. Nhóm bài tập nhận biết lịch sử……………………………………………….56
2.2.2. Nhóm bài tập nhận thức lịch sử………………………………………………61
2.2.3. Nhóm bài tập thực hành lịch sử………………………………………………67
2.2.4. Nhóm bài tập tổng hợp………………………………………………………69
3. Một số yêu cầu chung khi sử dụng bài tập trong dạy học lịch sử đối với giáo
viên và học sinh…………………………………………………………………...70
3.1. Một số yêu cầu chung khi sử dụng bài tập trong dạy học lịch sử đối với giáo viên....70
3.2. Một số yêu cầu đối với học sinh khi sử dụng bài tập trong dạy học lịch sử…….75
4. Các biện pháp sư phạm sử dụng bài tập trong dạy học lịch sử Việt Nam lớp 11
THPT………………………………………………………………………………..77
3
4.1. Sử dụng bài tập lịch sử trong giờ truyền thụ kiến thức mới……………………77
4.2. Sử dụng bài tập để tổ chức, hướng dẫn học sinh làm bài tạp lịch sử trong tự học ở
nhà………………………………………………………………………………….84
4.3. Sử dụng bài tập để tổ chức các hoạt động ngoại khóa…………………………86
4.4. Sử dụng bài tập trong kiểm tra – đánh giá kết quả học tập của học sinh……..88
5. Thực nghiệm sư phạm…………………………………………………………93
PHẦN KẾT LUẬN ……………………………………………………………. 96
TÀI LIỆU THAM KHẢO …………………………………………………….. 99
PHẦN PHỤ LỤC ……………………………………………………………….. 103
4
hiểu bài, hiểu được bản chất vấn đề lịch sử, từ đó các em sẽ có cách nhìn đúng về bộ
môn và sẽ có tình yêu với bộ môn.
Tại các trường phổ thông hiện nay, nhiều giáo viên và học sinh còn chưa
quen với làm bài tập lịch sử ở trên lớp và ở nhà. Xuất phát từ quan niệm môn lịch sử
không cần làm bài tập, hoặc chỉ là những bài tập mang tính chất học thuộc lòng để ghi
nhớ sự kiện, nhân vật, địa danh…… Thậm chí có giáo viên và học sinh chưa phân
biệt rõ “câu hỏi” và “bài tập” trong dạy học lịch sử.
Đối với giáo viên, hình thức phổ biến nhất là sử dụng các câu hỏi trong
sách giáo khoa, chỉ có một số ít giáo viên tâm huyết với nghề chú ý xây dựng và sử
dụng hệ thống bài tập. Về phía học sinh, chỉ biết học thuộc lòng kiến thức trong sách
giáo khoa, đọc lại vở ghi, so sánh với sách giáo khoa và học thuộc lòng một số sự
kiện nào đó mà không hiểu bản chất của sự kiện, hiện tượng, nhầm lẫn kiến thức...
Một nhiệm vụ học tập chung chung, không rõ ràng, không biết phải hoàn thành
những công việc nào như vậy sẽ không thúc đẩy việc tự học của học sinh.
Với chức năng, nhiệm vụ của mình, bài tập lịch sử được sử dụng trong các
khâu của quá trình dạy học, trong đó có kiểm tra – đánh giá toàn diện, chính xác hiệu
quả dạy học lịch sử ở trường THPT. Vì vậy, việc ra các bài tập và yêu cầu học sinh
phải hoàn thành các bài tập cụ thể là một yêu cầu cần thiết, từng bước hình thành kĩ
năng, thói quen tự học cho học sinh, góp phần nâng cao chất lượng dạy và học lịch sử
hiện nay.
Xuất phát từ những lí do chủ yếu trên, tôi xin trao đổi với các đồng nghiệp về
bộ môn với đề tài sáng kiến kinh nghiệm “ Xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập
trong dạy và học lịch Việt Nam - Lớp 11”
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Trong các tài liệu về tâm lí học và lí luận dạy học hiện đại của các tác giả trong
và ngoài nước đều đề cập đến vấn đề bài tập nhằm nâng cao tính hiệu quả dạy học
6
CHƯƠNG I: VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC SỬ
DỤNG BÀI TẬP TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG THPT
1. Cơ sở lí luận về việc sử dụng hệ thống bài tập trong dạy học lịch sử ở
trường THPT
1.1. Quan niệm về bài tập nói chung và bài tập trong dạy học lịch sử nói riêng
Đã có nhiều công trình của các nhà khoa học giáo dục trong và ngoài nước
đề cập đến vấn đề bài tập nói chung và bài tập lịch sử nói riêng. Trong đó có thể nêu
ra đây một số vấn đề như sau.
Về khái niệm “bài tập” theo nghĩa chung nhất dùng để chỉ một hoạt động
nhằm rèn luyện thể chất và tinh thần (trí tuệ) như bài tập thể dục, bài tập thanh
nhạc…. Khi dùng vào lĩnh vực giáo dục, theo Từ điển tiếng Việt thuật ngữ “bài tập”
có nghĩa là ra bài cho học sinh làm để vận dụng những điều đã học. Ví dụ bài tập vật
lý, bài tập hóa học, bài tập đại số…. Tuy nhiên định nghĩa này mới chỉ giải thích về
mặt ngữ nghĩa chứa chưa làm rõ bản chất của khái niệm “bài tập”. Theo GS Nguyễn
Ngọc Quang, khi xem xét khái niệm “bài tập” ta không thể tách dời nó với ngời làm
bài tập. Bài tập chỉ có thể là bài tập khi nó trở thành đối tượng hoạt động của một chủ
thể. Bài tập là một hệ thống thông tin xác định bao gồm hai tập hợp gắn bó chặt chẽ
với nhau và tác động qua lại với nhau đó là:
- Những điều kiện, tức là tập hợp những dữ liệu xuất phát, diễn tả trạng thái
ban đầu của bài tập, từ đó tìm ra phép giải; theo ngôn ngữ thông dụng thì đó là “cái
cho”
- Những yêu cầu, là trạng thái mong muốn đạt tới của đối tượng; đó là cái
đích mà chủ thể phải hướng tới để thỏa mãn nhu cầu của mình, theo ngôn ngữ thông
dụng thì đây là cái phải tìm.
8
Như vậy, bài tập và người giải trở thành một hệ thống toàn vẹn, thống nhất,
liên hệ chặt chẽ và tác động qua lại với nhau [41;59].
- Bài tập lịch sử là phương tiện thúc đẩy nỗ lực tự học của học sinh giúp các
em tiếp cận dần với phương pháp tự học, tự nghiên cứu
1.2. Phân biệt “câu hỏi”, “bài tập”, “bài tập nhận thức”
Trong quá trình dạy và học, đôi khi cả thầy và trò đều có sự nhầm lẫn giữa
“câu hỏi” và “bài tập”, “bài tập nhận thức”. Các dạng bài này thường được kết hợp
đan xen, được sử dụng và phân bố trong giờ học theo một mức độ hợp lí mới cho hiệu
quả tốt. Tần số sử dụng các loại bài này còn phụ thuộc vào quỹ thời gian, đặc điểm và
trình độ nhận thức của học sinh. Ở học sinh lớn tuổi, học sinh học chuyên sâu việc
tăng cường bài tập nhận thức là cần thiết mặc dù không coi nhẹ việc ra câu hỏi, bài
tập để tích luỹ kiến thức, rèn luyện kĩ năng làm cơ sở cho việc nắm bản chất của lịch
sử và phát triển tư duy của học sinh.
“Câu hỏi” là thuật ngữ dùng để chỉ việc nêu vấn đề trong nói hoặc viết, nó
đòi hỏi phải có cách giải quyết. Câu hỏi được sử dụng phổ biến trong cuộc sống cũng
như trong dạy học. Tuy nhiên câu hỏi trong cuộc sống không hoàn toàn giống với câu
hỏi trong dạy học. Bởi câu hỏi khi giáo viên đưa ra là những vấn đề mà giáo viên đã
biết, học sinh đã được học để có cách trả lời thông minh, sáng tạo. Do đó, câu hỏi
trong dạy học bao giờ cũng mang yếu tố mở, yếu tố nhận biết, khám phá hặc khám
phá dưới dạng một thông tin khác, bằng cách cho học sinh tìm ra mối quan hệ, các
quy tắc, các con đường tạo ra một câu hỏi hoặc một cách giải quyết mới [11;76]
Từ những nhận thức trên đây ta có thể nhận thấy câu hỏi và bài tập có diểm
giống nhau, khác nhau, nhưng cũng có mối quan hệ với nhau.
Về mặt chức năng dạy học: cả hai đều là phương tiện tổ chức hoạt động nhận
thức và kiểm tra, đánh giá kết quả nhận thức, rèn luyện kĩ năng bộ môn cho học sinh
10
Về cấu trúc: câu hỏi và bài tập có điểm khác nhau. Câu hỏi chỉ nêu yêu cầu
hoặc nhiệm vụ học sinh cần trả lời, còn bài tập và có dữ liệu (điều kiện) vừa có yêu
cầu (hoặc câu hỏi). Để giải quyết bài tập học sinh phải căn cứ vào dữ liệu đã cho để
nguyên si các kiến thức, kĩ năng sẵn có mà phải xử lí khéo léo và huy động nhiều
bước trung gian trong trí tuệ của họ.
Muốn hoàn thành tốt các bài tập nhận thức – bài tập nêu vấn đề, cần tạo ra
một trạng thái tâm lí độc đáo của trướng ngại nhận thức, xuất hiện mâu thuẫn nội tâm,
có nhu cầu giải quyết mâu thuẫn đó không phải bằng tái hiện, bắt chước mà bằng sự
tìm tòi sáng tạo, tích cực đầy hưng phấn. Khi hoàn thành nhiệm vụ của bài tập nhận
thức là luc học sinh giành được kiến thức, phương pháp suy luận, phương pháp
nghiên cứu và cả niềm vui sướng của sự tìm tòi, phát hiện.
Sự phân loại trên đây giữa “câu hỏi”, “bài tập”, “bài tập nhập thức” cũng
chỉ là tương đối. Vì “mọi gianh giới giữa tự nhiên và xã hội đều có điều kiện và linh
hoạt” (Lê nin). Sự chuyển hóa giữa các khái niệm này chủ yếu do hai điều kiện:
- Sự khác nhau về trình độ, năng lực nhận thức giữa các lớp học, cấp học
- Tùy vào hoàn cảnh, thời điểm đưa ra các câu hỏi, bài tập và bài tập nhận thức
Cùng một câu hỏi, nhưng nếu giáo viên lựa chọn đưa ra ngay đầu giờ học
nhằm định hướng cho học sinh những nội dung chính cần nắm khi nghiên cứu bài
mới, đồng thời cũng thu hút sự chú ý, huy động những kiến thức đã có của các em và
kích thích hoạt động trí tuệ hứng thú của học sinh với vấn đề sẽ nghiên cứu thì được
coi là bài tập nhận thức. Ngược lại, nếu đặt câu hỏi đó sau khi hoàn thành tiết học,
một bài giảng thì nó không còn là một nhiệm vụ của bài tập nhận thức nữa mà chỉ là
câu hỏi củng cố, rèn luyện.
1.3. Phân loại bài tập trong dạy học lịch sử ở trường THPT
Việc phân loại bài tập nói chung và bài tập lịch sử nói riêng có tầm quan
trọng đặc biệt, vì nó giúp chúng ta hiểu được vị trí, tác dụng của từng loại để trên cơ
sở đó tiến hành xây dựng nội dung và phương pháp vận dụng thích hợp
12
Thứ nhất, nhóm bài tập nhận biết lịch sử.
Đây là nhóm bài tập chủ yếu tái tạo lại hình ảnh quá khứ, qua đó rèn luyện
1
Bà Điểm – Hóc Môn
…. Sự ra đời của ủy ban dân tộc giải
phóng
2
Đình Bảng – Bắc Ninh
….Hội nghị BCHTW Đảng cộng sản
Đ D 11-1939
3
Tân Trào – Tuyên Quang
… Hội nghị TƯ lần VIII của Đảng
(1941)
4
Bắc Sơn – Lạng Sơn
… Quốc dân Đại hội
5
Pắc Pó – Cao Bằng
4
28-1-1941
… Nhật vào Đông Dương
5
19-8-1954
… Thành lập mặt trận Việt Minh
6
19-5-1941
… Ban TVTWĐ ra chỉ thị “Nhật – Pháp…”
7
9-3-1945
… Nguyễn Ái Quốc về nước sau 30 năm hoạt
động ở nước ngoài
Để tăng thêm độ khó của bài tập thuộc dạng này, chúng ta có thể đưa thêm
dữ liệu vào bài tập. Ví dụ như: “Bài tập xác định mối quan hệ giữa sự kiện, nhân vật
và niên đại lịch sử”. Hoặc “Bài tập xác định mối quan hệ giữa sự kiện, niên đại và địa
danh lịch sử”…
4. Cuộc khởi nghĩa Yên Bái (2-1930)
4. Hoàng Hoa Thám
4. Hương Cảng
5. Tuyên ngôn độc lập (9-1945)
5. Đội Cung
5. Nghệ An
- Loại bài tập lựa chọn kết hợp với việc giải thích ngắn gọn mối quan hệ
giữa các nội dung kiến thức được lực chọn
Đây là dạng bài tập tương đối phức tạp, vì nó vừa có sự kết hợp giữa loại bài
tập lựa chọn và bài tập xác định mối quan hệ, vừa yêu cầu học sinh phải trình bày, lý
giải vấn đề được đặt ra. Nó đòi hỏi học sinh phải nhớ chính xác sự kiện. địa danh,
nhân vật… rồi từ đó rút ra kết luận về mối quan hệ giữa các kiến thức nêu trên. Đây
là dạng bài tập vừa mang nội dung nhận biết, vừa mang nội dung nhận thức.
- Bài tập điền thế: Là các câu dẫn (diễn đạt một sự kiện, hiện tượng lịch sử,
các kết luận về chúng…) nhưng còn để các chô trống. Học sinh phải điền từ, cụm từ,
số liệu hay kí hiệu để hoàn chính nội dung thông tin.
Ví dụ: Nhiệm vụ cách mạng 2 miền Nam-Bắc sau hiệp định Giơnevơ
* Miền Bắc……………………………………………………………………
* Miền Nam………………………………………………………………….
*Nhiệm vụ chung của cách mạng 2 miền…………………………………….
* Vai trò, vị trí của cách mạng môi miền……………………………………
Thứ hai, nhóm bài tập nhận thức lịch sử.
15
- Bài tập xác định tính kế thừa giữa các sự kiện, giai đoạn, thời kì lịch
sử giúp học sinh hiểu rõ quá trình phát triển liên tục, thống nhất, tính chất tiến bộ của
lịch sử và tính phong phú da dạng, cụ thể của các sự kiện, giai đoạn thời kí lịch sử.
Ví dụ: Nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam đươc nêu trong cương lĩnh chính
trị đầu tiên của Đảng là Độc lập dân tộc, người cày có ruộng (dân tộc, dân chủ) Đảng
ta đã giải quyết các nhiệm vụ này như thế nào trong thời kì 1936- 1939? Có nét gì
khác so với thời kì 1930-1931?
- Bài tập tìm hiểu khuynh hướng phát triển của một sự kiện, một thời
đại hay một xã hội nói chung giúp học sinh nắm bắt được phương pháp tư duy biện
chứng để đoán định sự phát triển tương lai trên cơ sở hiểu rõ quá khứ và hiện tại.
Ví dụ: Sau khi từ Thụy Sỹ về Pê tơ rô grat, Lê nin vạch rõ nhiệm vụ chủ yếu
của cách mạng Nga lúc này là chuyển từ cách mạng dân chủ tư sản sang cách mạng
XHCN bằng phương pháp hòa bình. Căn cứ vào đâu Lê nin đề ra chủ trương và
phương pháp như vậy và có thể thực hiện được không?
- Bài tập xác định mức độ tiến bộ của sự kiện lịch sử nhằm hình thành ở
học sinh kĩ năng phân tích, lí giải, đánh giá, nhận xét các sự kiện lịch sử
- Bài tập so sánh để rút ra cái chung, cái riêng, giống và khác nhau tiêu
biểu và đặc thù của các sự kiện, thời kì.
Ví dụ: So sánh Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng do Nguyễn Ái Quốc
soạn thảo và Luận cương thánh 10 -1930 của Trần Phú để thấy sự đúng đắn, sáng tạo
của văn kiện trước và hạn chế của văn kiện sau
- Bài tập tìm hiểu ý nghĩa của sự kiện, rút ra bài học kinh nghiệm lịch sử
đối với ngày nay, có tác dụng gợi cho học sinh về sự cần thiết phải tìm hiểu quá khứ
để giải thích các sự kiện, hiện tượng đang diễn ra trong hiện tại, làm cho các em có
thức được tầm quan trọng của việc học tập lịch sử.
17
Ví dụ: Thông qua chiến thắng Việt Bắc thu- đông 1947, chiến thắng Biên
giới 1950, chiến thắng Đông-Xuân 1953-1954 với đỉnh cao là chiến dịch Điện Biên
Phủ. Em hãy làm rõ bước phát triển của cuộc kháng chiến chống Thực Dân Pháp xâm
lược
Thứ ba, nhóm bài tập thực hành lịch sử
Nhằm làm cho học sinh có biểu tượng chính xác, giàu hình ảnh, biết vận
dụng kiến thức đã học vào cuộc sống, lao động và công tác. Vì vậy, nội dung bài tập
thực hành giúp học sinh rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo thực hành bộ môn; đồng thời làm
cho học sinh biết phân tích, giải thích, trình bày, nhận xét của mình về kết quả thực
hành đó, qua đó bồi dưỡng cho các em những phẩm chất tốt đẹp, những hành động
đúng. Nhóm bài tập này gồm các dạng bài sau:
- Bài tập thực hành về xây dựng và sử dụng đồ dùng trực quan như vẽ bản
đồ, lược đồ. Bao gồm vẽ, trình bày, giải thích, nhận xét, xác định địa danh, ghi kí
hiệu.
+ Bài tập vẽ sơ đồ: Tương tự như vẽ bản đồ nhằm cụ thể hóa nội dung cơ
bản của một sự kiện lịch sử cụ thể bằng những mô hình học đơn giản, diễn tả một cơ
cấu tỏ chức xã hội, một chế độ chính trị, mối quan hệ giữa các sự kiện lịch sử
Ví dụ: Vẽ sơ đồ tiến trình cách mạng tư sản Anh và cách mạng tư sản Pháp.
Từ đó em hãy rút ra nhận xét về hai cuộc cách mạng này.
+ Bài tập vẽ đường trục thời gian: Nhằm bồi dưỡng cho học sinh ý niệm vè
thời gian (thời điểm, khoảng cách thời gian) xảy ra sự kiện
Ví dụ: Vẽ trục thời gian thể hiện bước phát triển đi lên của cuộc kháng chiến
chống thực dân Pháp xâm lược (1945 – 1954).
+ Bài tập vẽ biểu đồ: nhằm cụ thể hóa nội dung lịch sử, so sánh sự phát triển
của một sự kiện lịch sử. Có thể từ những số liệu trong sách giáo khoa hay từ những
19
tài liệu tham khảo đáng tin cậy do giáo viên cung cấp, giáo viên yêu cầu học sinh vẽ
chính trị gì để lừa bịp nhân dân ta?. Có gì giống nhau trong mục đích của chúng?
Thứ hai: bài tập đặt ra để lý giải một vấn đề đã được xác định hoặc bình
luận, chứng minh câu nói nổi tiếng của nhân vật lịch sử bằng những quan điểm, bằng
các sự kiện.
Ví dụ: Dựa vào câu nói của Hồ Chí Minh: “Chủ nghĩa Mác-Lê nin kết hợp
với phong trào công nhân và phong trào yêu nước dẫn tới việc thành lập Đảng cộng
sản Đông Dương vào đầu 1930” để trình bày về việc kết hợp của ba yếu tố trên trong
quá trình thành lập Đảng.
Thứ ba, bài tập yêu cầu trình bày, so sánh các sự kiện lịch sử cùng loại, xảy
ra ở các thời đại khác nhau để rút ra kết luận….
1.4. Vai trò, ý nghĩa của bài tập trong dạy học lịch sử ở trường THPT
Dạy học lịch sử ở trường phổ thông là một quá trình sư phạm phức tạp, bao
gồm nhiều hoạt động khác nhau của giáo viên và học sinh. Những hoạt động đó nhằm
giúp học sinh nắm vững tri thức lịch sử, giáo dục tư tưởng, tình cảm và phát triển
năng lực tư duy độc lập, sáng tạo, rèn luyện trí thông minh và khêu gợi hứng thú học
tập của các em. Muốn đạt được điều này, giáo viên phải sử dụng tốt hệ thống các,
phương tiện dạy học, trong đó phải kể đến việc sử dụng hệ thống bài tập lịch sử trong
dạy học . Vì từ trước đến nay không ai phủ nhận vai trò, ý nghĩa của bài tập đối với
việc hình thành tri thức, giáo dục tư tưởng, tình cảm và đạo đức đồng thời phát triển
năng lực cho học sinh.
Tuy nhiên hầu hết hiện nay học sinh chưa có quan niệm đúng về bài tập
lịch sử, các em đều có quan niệm rằng học sử không cần có bài tập, chỉ cần học
thuộc lòng các sự kiện, điều này có nhiều nguyên nhân từ chương trình, nội dung
sách giáo khoa, phương tiện, phương pháp giảng dạy và kiểm tra đánh giá, trong
đó không thể phủ nhận là phương pháp dạy học, cáh thức kiểm tra đánh giá chưa
21
tốt của nhiều giáo viên lịch sử.. Chỉ kiểm tra sự ghi nhớ kiến thức mà không chú
ý đến phát triển tư duy, kĩ năng thưc hành bộ môn…. Chưa tạo ra cho các em sự
đánh giá, buộc học sinh phải biết lược bỏ các hện tượng bề ngoài để đi sâu vào bản
chất của vấn đề để từ đó nâng tầm hiểu biết, trình độ khái quát hóa, trừu tượng hóa
của các em lên cao.
Về mặt nhận thức, khái niệm lịch sử giúp học sinh hiểu bản chất của sự kiện
lịch sử, hiểu các mối qua hệ nhân quả và quy luật phát triển của xã hội. việc đi sâu
vào bản chất của sự kiện để hình thành khái niệm lịch sử, giúp học sinh hệ thống hóa
tri thức và thông qua sự hiểu biết về những biểu hiện muôn màu, muôn vẻ bề ngoài,
các em phân biệt được với các sự kiện cùng loại, sự kiện khác loại, phân biệt được cái
chung và cái riêng, cái phổ biến và cái đực thù trong quá trình phát triển phức tạp của
xã hội loài người.
Ví dụ, khi nắm vững khía niệm “Cách mạng tư sản”, được hình thành qua
các bài “Cách mạng tư sản Anh thế kỉ XVII”, “Chiến tranh giành độc lập của các
thuộc địa Anh ở bắc Mĩ”…. Học sinh có thể dùng khái niệm này để nhận thức các
cuộc cách mạng khác là cách mạng tư sản, kể cả khi nó diễn ra dưới các hình thức
một cuộc đấu tranh thống nhất Đức, Ytalia, cải cách nông nô ở Nga, cải cách Minh
Trị ở Nhật Bản. Học sinh có thể giải quyết được bài tập: Cuộc đấu tranh thống nhất
Đức có phải là cuộc cách mạng tư sản hay không? Vì sao?. Từ các sự kiện tiêu biểu
trong quá trình đấu tranh thống nhất như tính chất, nhiệm vụ cách mạng, giai cấp lãnh
đạo, động lực cách mạng và những hệ quả của nó đem lại, học sinh đi đến kết luận:
Thực chất là cuộc cách mạng tư sản dưới hình thức là cuộc đấu tranh thống nhất quốc
gia.
Như vậy, bài tập lịch sử sẽ giúp học sinh đi từ “Biết” đến “Hiểu” lịch sử. Ở
những mức độ nhất định học sinh phải đi theo con đường của nhận thức lịch sử: Phát
hiện, tìm tài liệu- sự kiện, trên cơ sở tạo biểu tượng để hình thành khái niệm, học sinh
đã có sự khái quát lý luận và rút ra bài học lịch sử, từ đó biết vận dụng vào bài học
23
quá khứ vào cuộc sống hiện tại . Việc làm này cũng là một bộ phận quan trọng của
kiện khách quan là đủ, hoặc hướng dẫn sự nhận thức của học sinh một cách chặt chẽ
theo các phương hướng đã định mà không cần khai thác nhiều nội dung khóa trình.
Những sai lầm trên vi phạm nguyên tắc phương pháp luận và phương pháp
dạy học và tất nhiên không có tác dụng giáo dục. Để khắc phục được những nhận
thức sai lầm trên, người giáo viên lịch sử cần nhận thức được: giáo dục tình cảm, tư
tưởng cho học sinh qua dạy học lịch sử là “dạy chữ để dạy người”. trên cơ sở cung
cấp kiến thức thực sự khoa học, có hệ thống, hiện đại, cơ bản, phổ thông mà giáo dục
cho học sinh tính tích sực, tự giác, chủ động ứng xử trong mọi tình huống. [43; 14]
Vai trò của bài tập lịch sử trong quá trình giáo dục được thể hiện ở hai
phương diện sau:
- Học sinh biết vận dụng sáng tạo những kiến thức lịch sử để giải quyết vấn
đề được đặt ra giúp các em tiếp cận với chân lý hiện thực, vận dụng kiến thức đã học
vào cuộc sống, hay nói cách khác bản thân bài tập có tác dụng giáo dục.
1.4.3. Bài tập lịch sử góp phần phát triển học sinh.
Sử dụng bài tập trong dạy học lịch sử có tác dụng tích cực trong việc phát
triển các năng lực nhận thức nhiều mặt của học sinh, trong đó quan trọng nhất là phát
triển hứng thú học tập bộ môn, phát triển tư duy và rèn luyện kỹ năng bộ môn của học
sinh. Theo Khalarlamôp: “Hứng thú – đó là nhu cầu nhuốm màu xác cảm đi trước
giai đoạn gây động cơ và làm cho hoạt động của con người có tính hấp dẫn”. [ 32;
28] Khi hoạt động nhận thức của học sinh dựa trên cơ sở của hứng thú nó sẽ trở nên
hào hứng, thoải mái và dễ dàng. Vì vậy, giáo viên phải tạo được hứng thú cho học
sinh trong dạy học, giúp các em thấy vui sướng của thành công, tin tưởng và sức của
mình, vào khả năng vượt qua những khó khăn sẽ gặp. Chính đó là quá trình làm cho
nhu cầu nhận thức nhuốm màu xác cảm và biến chúng thành hào hứng.
Tuy nhiên, hứng thú trong học tập không phải tự nhiên mà có mà nó được
hình thành trong quá trình học tập của học sinh và giảng dạy của giáo viên. Việc gây
25