NHẬN XÉT KẾT QUẢ CẤY MÁU Ở BỆNH NHÂN NHIỄM KHUẨN HUYẾT TẠI KHOA HỒI SỨC TÍCH CỰC BỆNH VIỆN BÃI CHÁY TỪ THÁNG 32017 ĐẾN THÁNG 92017 - Pdf 47

SỞ Y TẾ QUẢNG NINH
BỆNH VIỆN BÃI CHÁY

BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI CẤP CƠ SỞ
NHẬN XÉT KẾT QUẢ CẤY MÁU Ở BỆNH NHÂN NHIỄM KHUẨN
HUYẾT TẠI KHOA HỒI SỨC TÍCH CỰC BỆNH VIỆN BÃI CHÁY
TỪ THÁNG 3/2017 ĐẾN THÁNG 9/2017

QUẢNG NINH, THÁNG 11 NĂM 2017


SỞ Y TẾ QUẢNG NINH
BỆNH VIỆN BÃI CHÁY

BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI CẤP CƠ SỞ

NHẬN XÉT KẾT QUẢ CẤY MÁU Ở BỆNH NHÂN NHIỄM KHUẨN
HUYẾT TẠI KHOA HỒI SỨC TÍCH CỰC BỆNH VIỆN BÃI CHÁY
TỪ THÁNG 3/2017 ĐẾN THÁNG 9/2017

Chủ nhiệm đề tài: CN Nguyễn Huy Quân
Thư ký: ĐD Đỗ Văn Thuần

QUẢNG NINH, THÁNG 11 NĂM 2017


MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ.......................................................................................................1
CHƯƠNG I. TỔNG QUAN TÀI LIỆU................................................................3
1. Dịch tễ học.....................................................................................................3
2. Định nghĩa......................................................................................................3


với vi khuẩn Gram âm
Thử nghiệm nhạy cảm kháng sinh đối

Testing – Gram positive )
với vi khuẩn Gram dương
CLSI(Clinical and Laboratory Standard Lâm sàng và phòng thí nghiệm tiêu
Institute)
CDC (Centers for Disease Control and

chuẩn viện
Trung tâm kiểm soát và phòng ngừa

Prevention)
ESBL(Extended Spectrum B-

dịch bệnh
Vi khuẩn sinh men Beta lactamase phổ

lactamase)
GP(Gram positive)
MRSA( Methicilin resistant

rộng
Gram dương
Tụ cầu vàng kháng Methicillin

Staphtlococcus aureus)
PBP(Penicillin-Binding Proteins)
SIRS(systemic inflammatory response

tức là khoảng 16,7 tỷ USD nếu tính trên toàn Hoa Kỳ. Mặc dù có nhiều tiến bộ
vượt bậc trong hiểu biết cơ chế sinh lý bệnh của nhiễm khuẩn huyết cũng như sự
phát triển của các phương tiện và kỹ thuật hồi sức tích cực nhưng tỉ lệ mắc bệnh
cũng như tỉ lệ tử vong ngày càng tăng cao đều đặn trong những thập kỷ vừa qua.
Hàng năm trên toàn thế giới có khoảng 18-20 triệu ca NKH. Số lượng ca tử
vong do NKH, nấm huyết khoảng từ 4,5-6 triệu ca/năm. Căn nguyên gây NKH
rất đa dạng và tình trạng kháng kháng sinh của chúng đang ngày một gia tăng.
Tại Việt Nam cũng có một số nghiên cứu về nhiễm khuẩn huyết như
- “ Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả điều trị nhiễm khuẩn huyết
tại Bệnh viện trung ương Huế 2009 – 2012 ”. Trần Xuân Chương, Nguyễn thị
Phương Thảo, Lê Vũ Phong, Phan Trung Tiến Trường ĐH Y Dược Huế.
- “ Một số đặc điểm lâm sàng và tác nhân gây nhiễm khuẩn huyết trên
người cao tuổi ở bênh viện Trung ương Huế ”. Lê Thị Kim Nhung, 2014
Chỉ khi xác định được căn nguyên gây bệnh thì việc sử dụng kháng sinh
mới có hiệu quả cao, góp phần cứu sống nhiều ca bệnh hiểm nghèo và giảm tỷ lệ
kháng thuốc kháng sinh trong điều trị. Cho đến hiện nay, một trong những tiêu
chuẩn chẩn đoán xác định NKH là cấy máu dương tính. Tuy nhiên, do nhiều hạn
chế nên tỷ lệ cấy máu dương tính nói chung vẫn còn thấp so với thực tế. Thêm
vào đó, tình hình kháng kháng sinh của vi khuẩn cũng thay đổi theo thời gian và
không gian nên gây ra rất nhiều khó khăn cho chẩn đoán và điều trị. Do vậy
1


chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “ Nhận xét kết quả cấy máu ở bệnh nhân
nhiễm khuẩn huyết tại khoa Hồi sức tích cực bệnh viện Bãi Cháy ” với 2 mục
tiêu:
1. Xác định tỉ lệ cấy máu dương tính ở bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết
được điều trị tại khoa Hồi sức tích cực bệnh viện Bãi Cháy và mối liên quan
với 1 số xét nghiệm chi điểm nhiễm khuẩn
2. Xác định căn nguyên vi khuẩn gây nhiễm khuẩn huyết và tình hình

của vi sinh vật hoặc sự xâm nhập của vi sinh vật vào các tổ chức bình thường
vốn vô trùng.
Vãng khuẩn huyết (Bacteremia): Có sự hiện diện của vi khuẩn sống trong
máu.

3


Hội chứng đáp ứng viêm hệ thống (Systemic Inflammatory Response
Syndrome -SIRS): Đáp ứng viêm hệ thống của cơ thể đối với các tác nhân cấp
tính nặng khác nhau, đặc trưng bởi hai hay nhiều các triệu chứng lâm sàng sau:
+ Nhiệt độ tăng > 38 °C hoặc < 36 °C
+ Tần số tim > 90 lần/phút (Trên + 2SD so với giá trị bình thường theo tuổi
ở trẻ em).
+ Tần số thở > 20 lần/phút hoặc PaCO2 < 32 mmHg (tự thở). (Trên + 2SD
sơ với giá trị bình thường theo tuổi ở trẻ em).
+ Bạch cầu > 12 000 hoặc < 4000/ mm3, hoặc > 10% bạch cầu non (bạch
cầu dạng đũa
Nhiễm khuẩn huyết (Sepsis): Phản ứng hệ thống đối với nhiễm khuẩn biểu
hiện bằng hai hay nhiều các triệu chứng sau đây
+ Nhiệt độ tăng > 38 °C hoặc < 36 °C
+ Tần số tim > 90 lần/phút (ở trẻ em trên + 2SD so với lứa tuổi)
+ Tần số thở > 20 lần/phút hoặc PaCO2 < 32 mmHg (tự thở) (ở trẻ em trên
+ 2SD so với lứa tuổi).
+ Bạch cầu > 12 000 hoặc < 4000/ mm3, hoặc > 10% bạch cầu non (bạch
cầu dạng đũa).
Nhiễm khuẩn huyết nặng (Severe Sepsis): Nhiễm khuẩn huyết kèm với rối
loạn chức năng cơ quan, giảm tưới máu. Giảm tưới máu và bất thường tưới máu
có thể bao gồm hạ huyết áp, rối loạn phân bố máu, thiểu niệu hoặc thay đổi đột
ngột tình trạng ý thức nhưng không chỉ giới hạn ở các biểu hiện này.

khuẩn huyết không có đáp ứng đối với đổ đầy tĩnh mạch (ví dụ 500ml huyết
tương trong 30 phút và thuốc hoạt mạch như Dopamine 10μg/kg/phút).
Hội chứng rối loạn chức năng đa cơ quan (Multiple Organ Dysfunction
Syndrome-MODS): Hiện diện rối loạn chức năng các cơ quan trong bệnh lý cấp
tính mà nếu không có sự can thiệp thì hằng định nội môi của cơ quan đó không
thể tái thiết lập.
3. Sinh lý bệnh
Trong những thập niên vừa qua, y học đã đạt được những tiến bộ to lớn
trong việc tìm hiểu nhiễm khuẩn huyết. Điều đáng tiếc là hiện nay các nhà
nghiên cứu y học vẫn chưa thể đưa ra một cơ chế sinh lý bệnh hoàn chỉnh,có thể
giải thích được tất cả những biểu hiện của nhiễm khuẩn huyết. Có những giả
5


thuyết khác nhau được đề nghị. Mỗi giả thuyết đều có những ưu điểm và những
hạn chế của nó.
3.1. Thuyết đáp ứng viêm quá mức
Thuyết đáp ứng viêm quá mức (excessive inflammatory response) trở nên
phổ biến nhờ các công trình của Lewis Thomas. Thomas cho rằng: " chính đáp
ứng của cơ thể đối với sự hiện diện của vi khuẩn đã gây nên bệnh. Kho vũ khí
chống vi khuẩn của chúng ta quá ư mạnh mẽ đến nỗi nó trở nên nguy hiểm hơn
bản thân kẻ xâm lược ".
Theo giả thuyết này, nhiễm khuẩn huyết là hậu quả của đáp ứng viêm hệ
thống của cơ thể đối với nhiễm khuẩn nặng, xuất hiện khi những đáp ứng ban
đầu của cơ thể trở nên mạnh mẽ và khuếch đại quá mức đến mức không thể
kiểm soát được. Trước sự xâm nhập của vi khuẩn, hệ miễn dịch tiên thiên
(innate immune system) của cơ thể sẽ hoạt hóa nhiều hệ thống phòng vệ tế bào
cũng như dịch thể khác nhau. Hậu quả của quá trình hoạt hóa quá mức này là sự
giải phóng các chất trung gian gây viêm (proinflammatory mediator) từ tế bào
nội mô, tế bào biểu bì cũng như bạch cầu đa nhân trung tính, đại thực bào và các

tượng chết tế bào theo chương trình (programmed cell death hay apoptosis).
Trong nhiễm khuẩn huyết, các tế bào lympho, là tế bào chịu trách nhiệm chính
trong miễn dịch tập nhiễm, các tế bào niêm mạc đường tiêu hóa, tuyến ức, gan,
cơ vân... đều rơi vào hiện tượng chết tế bào theo chương trình này. Hiện tượng
này nếu xảy ra càng mạnh mẽ thì hệ miễn dịch của cơ thể càng suy yếu.
3.3. Thuyết đông miên tế bào
Khám nghiệm tử thi những bệnh nhân tử vong vì nhiễm khuẩn huyết phát
hiện rằng các tổn thương mô học không phù hợp với mức độ trầm trọng của hội
chứng rối loạn chức năng đa cơ quan ở những cá thể này. Hiện tượng chết tế bào
ở các cơ quan như tim, gan, thận, phổi tương đối nhẹ nhàng nếu so với biểu hiện
lâm sàng suy giảm chức năng các cơ quan này. Rất có thể nhiễm khuẩn huyết đã
làm cho tế bào trong cơ thể trở về trạng thái ít hoạt động nhất mặc dù tổn thương
thực thể không quá nặng. Hiện tượng này được gọi là đông miên tế bào (cellular
hibernation).
3.4. Vai trò của các yếu tố di truyền
Dựa trên các nghiên cứu so sánh biểu hiện và tiên lượng của nhiễm khuẩn
huyết giữa các cặp sơ sinh và giữa các trẻ khác nhau là con nuôi trong một gia
7


đình, người ta nhận thấy yếu tố di truyền đóng một vai trò rất quan trọng trong
nhiễm khuẩn huyết.
Các đột biến hoặc tính đa hình của các gene mã hóa cho các receptor TNF
alpha, Interleukin-1 receptor và Toll-like receptor quyết định mức độ phản ứng
viêm và phản ứng kháng viêm trong nhiễm khuẩn huyết.
Cơ chế gây rối loạn chức năng đa cơ quan
Nguyên nhân gây tử vong ở bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết là rối loạn chức
năng đa cơ quan. Một cách điển hình, đầu tiên bệnh nhân sẽ xuất hiện rối loạn
chức năng một cơ quan ví dụ như suy hô hấp cần phải thông khí nhân tạo và sau
đó nếu bệnh không được kiểm soát thì dần dần các cơ quan khác cũng bị suy

Các dữ liệu gần đây gợi ý rằng đây có thể là hậu quả của tình trạng NO tăng cao
quá mức vì các mẫu sinh thiết tế bào cơ vân ở bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết cho
thấy bằng chứng của suy giảm hô hấp ở ti thể (mitochondrion). Chuỗi hô hấp
này bị ức chế bởi NO.
4. Chẩn đoán
4.1. Chẩn đoán xác định
Chẩn đoán nhiễm khuẩn huyết phải có bằng chứng nhiễm khuẩn trên lâm
sàng cộng với ít nhất hai trong các dấu hiệu lâm sàng sau đây:
+ Tăng thân nhiệt (nhiệt độ hậu môn > 38,3 °C hoặc hạ thân nhiệt (nhiệt độ
hậu môn < 35,6 °C).
+ Tim nhanh > 90 lần/phút.(Ở trẻ em tần số tim trên +2SD so với giá trị
bình thường theo tuổi).
+ Thở nhanh > 20 lần/phút hoặc tình trạng nhược thán PaCO2 < 32 mm
Hg. (Ở trẻ em tần số tim trên +2SD so với giá trị bình thường theo tuổi).
cộng với ít nhất một thông số chứng tỏ có tình trạng giảm tưới máu cơ quan
hoặc rối loạn chức năng cơ quan hay thay đổi trạng thái tinh thần.
Xét nghiệm:
+ Cấy máu dương tính là tiêu chuẩn vàng để chẩn đoán nhiễm khuẩn huyết.
Tuy nhiên, cần lưu ý là kết quả cấy máu âm tính cũng không loại trừ được nhiễm
khuẩn huyết, có khoảng 60% nhiễm khuẩn huyết có kết quả cấy máu âm tính.
Nên cấy máu 02 lần (đối với cả nuôi cấy hiếu khí và kỵ khí) trước khi điều trị
kháng sinh với thể tích máu tối thiểu là 5 ml/mẫu. Tuy nhiên tránh để việc lấy
bệnh phẩm trì hoãn việc sử dụng kháng sinh > 45 phút. Nếu lấy 2 mẫu máu đồng
9


thời thì cần lấy ở 2 vị trí khác nhau. Trong trường hợp có catheter mạch máu đã
đặt quá 48 giờ, cần lấy ít nhất một mẫu bệnh phẩm qua catheter này
+ PaO2 ≤ 75 mm Hg (không khí phòng).
+ Tăng Lactate huyết thanh.

+ Sốc tăng động hoặc giảm động.
+ Giảm tiểu cầu.
+ Cần thông khí hỗ trợ.
+ Hiện diện tình trạng vãng khuẩn huyết.
+ Biểu hiện tình trạng nhiễm độc nội độc tố.
Giai đaọn IIIa: Sốc lùi:
+ Tình trạng lâm sàng và huyết động cải thiện.
+ Cai máy thở.
+ Không cần theo dõi đặc biệt.
+ Tuy nhiên bệnh có thể không cải thiện mà tiếp tục xấu hơn sang giai đoạn
IIIb mặc dù được điều trị tích cực.
Giai đoạn IIIb: Sốc kháng trị:
+ Tình trạng lâm sàng xấu hơn.
+ Huyết động ngày càng khó kiểm soát.
+ Biểu hiện giảm tưới máu tổ chức và thiếu ôxy tế bào.
+ Rối loạn chức năng đa cơ quan và tử vong.
5. Điều trị
5.1. Kháng sinh
Tùy theo kết quả xét nghiệm vi sinh mà thầy thuốc có thể chọn lựa kháng
sinh thích hợp (dịch hầu họng/đàm, dịch tiết khí quản, nước tiểu, cấy máu…).
Tuy nhiên trong một số trường hợp không thể chọn lựa kháng sinh hướng
nguyên nhân được (ví dụ trong trường hợp xét nghiệm vi khuẩn âm tính, tình
trạng bệnh không cho phép đợi chờ kết quả, thậm chí đôi khi không cho phép
chờ đợi lấy bệnh phẩm xét nghiệm) thì cần dùng kháng sinh theo kinh nghiệm
và ngay sau khi có kết quả thì điều chỉnh thích hợp. Có nhiều liệu trình kháng
sinh khác nhau tùy theo dịch tễ của từng vùng, từng bệnh viện.
Nhiễm khuẩn không xác định được tác nhân:
Kháng sinh thường dùng đầu tiên là Cephalosporin thế hệ III (Ví dụ
Cefotaxime 2 g x 3 lần/ ngày). Theo dõi đáp ứng lâm sàng và cận lâm sàng chặt
11

thiết yếu trong hồi phục và duy trì thể tích trong lòng mạch cũng như cung cấp
ôxy cho tế bào.Hiện nay liệu pháp bồi phụ dịch thường được sử dụng sớm trước
12


khi có những dấu hiệu của sốc. Có thể dùng dung dịch dạng tinh thể (crystalloid)
như dung dịch Ringer’s Lactate, dung dịch NaCl 0,9% hoặc các dung dịch dạng
keo nhân tạo (artificial colloid) chẳng hạn dung dịch gelatin và kể cả dung dịch
albumin người. Chưa có một nghiên cứu trên quy mô lớn nào khẳng định được
dung dịch nào có nhiều ưu điểm hơn một cách rõ ràng.
5.4. Thuốc vận mạch và trợ tim
Nhằm đảm bảo lượng ôxy cung cấp cho tổ chức một cách thỏa đáng, huyết
áp động mạch hệ thống phải được duy trì ở một giá trị nào đó để cung lượng tim
được phân bố một cách hợp lý. Mục tiêu này có thể đạt được bằng liệu pháp vận
mạch/tăng co bóp cơ tim sau khi đã bồi phụ tương đối đủ dịch trong lòng mạch.
Các thuốc thường dùng là nhóm kích thích giao cảm (sympathomimetics) gồm
norepinephrine, dopamine, phenylephrine, dobutamine và epinephrine.
Dobutamine thường được sử dụng cho các bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết
có tình trạng ức chế cơ tim biểu hiện trên lâm sàng bằng giảm cung lượng tim
mặc dù đã được bồi phụ dịch đầy đủ.
Vasopressin, một chất co mạch mạnh, cũng rất hữu ích trong duy trì huyết
áp động mạch hệ thống. Vasopressin, thông qua tác dụng lên các V1a receptor,
tạo nên những hiệu ứng có lợi trong sốc gồm giãn mạch ở các cơ quan sinh tử
như não, mạch vành và phổi nhưng co mạch ở các cơ quan không quan trọng
như cơ vân và da.
5.5. Liệu pháp Insulin tích cực
Những bệnh nhân bị bệnh cấp tính nặng, trong đó có nhiễm khuẩn huyết,
thường có hiện tượng tăng đường máu (hyperglycemia) và đề kháng insulin.
Đây là nguy cơ của các biến chứng khác nữa như bội nhiễm vi khuẩn (bacterial
surinfection), bệnh lý dây thần kinh trong bệnh nặng (critical illness

quả lâm sàng không thống nhất. Một số thử nghiệm đạt kết quả tốt, một số khác
không thấy sự khác biệt có ý nghĩa nào so với nhóm đối chứng.
5.8. Dinh dưỡng điều trị
Suy dinh dưỡng (malnutrition) rất thường gặp ở bệnh nhân điều trị tại các
đơn vị hồi sức, đặc biệt là các bệnh nhân điều trị dài ngày. Các nghiên cứu can
thiệp dinh dưỡng cho thấy cải thiện dinh dưỡng làm tăng khả năng sống sót,
giảm biến chứng và rút ngắn thời gian nằm viện.Nuôi dưỡng qua đường tiêu hóa
(oral feeding) sớm có kết quả tốt hơn so với nuôi dưỡng hoàn toàn bằng đường
14


tĩnh mạch (Total Parenteral Nutrition-TPN). Nuôi dưỡng qua đường tiêu hóa
sớm có tác dụng duy trì cấu trúc giải phẫu và chức năng của tế bào niêm mạc
ruột, hạn chế tình trạng phát tán vi khuẩn và nội độc tố từ đường tiêu hóa vào
tuần hoàn (bacterial and endotoxin translocation), duy trì chức năng các cơ quan
tiêu hóa khác như tụy và gan. Ngoài ra, việc nuôi dưỡng hoàn toàn bằng đường
tĩnh mạch còn làm tăng nguy cơ nhiễm khuẩn bệnh viện liên quan đến catheter.
6. Quy trình cấy máu
6.1. Quy trình cấy máu tìm vi khuẩn, nấm
6.1.1. Thời điểm lấy máu
- Lấy máu khi bệnh nhân đang sốt.
- Lấy máu trước khi bệnh nhân dùng kháng sinh.
Lưu ý:
- Bệnh nhân đang truyền (máu, dịch,…) phải khóa dây truyền và lấy máu ở
tay bên đối diện.
- Nếu bệnh nhân vừa ăn xong phải chờ 2 - 3 giờ sau ăn mới lấy máu.
- Bệnh nhân đang dùng kháng sinh: Phải dừng thuốc ít nhất 24 giờ trước
khi lấy máu.
6.1.2. Các bước tiến hành cấy máu
a. Ghi lên vỏ chai cấy máu các thông tin: Họ tên, tuổi của người bệnh,

thể của vi khuẩn/nấm, ghi vào sổ xét nghiệm.
+ Với chai của máy cấy máu tự động: Sát trùng nắp chai, để khô, lấy bơm
kim tiêm hút một lượng nhỏ dịch làm tiêu bản nhuộm Gram tìm vi khuẩn/nấm
và tính chất bắt màu, hình thể của vi khuẩn/nấm, ghi vào sổ xét nghiệm.
- Cấy chuyển vào môi trường thích hợp theo kết quả nhuộm Gram: Với
bình cấy máu thông thường, dùng pipette hút 0,1ml hoặc lấy 1 loop đầy. Với
chai cấy máu của máy cấy máu tự động, dùng bơm kim tiêm hút một lượng nhỏ
dịch
+ Cầu khuẩn Gram (+) đứng thành đám như chùm nho: cấy 1 đĩa TM + 1
ống Chapmann/35 độ C/24 giờ.
+ Trực khuẩn Gram (-): cấy 1 đĩa TM + 1 đĩa MacConkey + một ống thạch
thường/35 độ C/24 giờ
+ Nếu nghi ngờ nấm chuyển vào môi trường Sabauroud: 1 ống để ở nhiệt
độ phòng, 1 ống để ở 35 độ C, theo dõi 2 – 7 ngày.
16


Các trường hợp khác cấy 1 đĩa TM + 1 đĩa thạch Chocolate/ 5%
C02/350C/24 giờ.
b. Để tủ ấm 35 độ C/24 giờ, ngày hôm sau kiểm tra khuẩn lạc, nhuộm
Gram xem hình thể và tính chất bắt màu của vi khuẩn/nấm, tiếp tục dùng hóa
chất và sinh phẩm thích hợp thử các tính chất sinh vật hóa học, làm định danh để
xác định loài vi khuẩn/nấm và làm KSĐ.
c. Trả kết quả ngay cho bác sĩ lâm sàng khi có kết quả kháng sinh đồ.
d. Nếu âm tính: Để tủ ấm với bình cấy máu thông thường đến ngày thứ 7
(với chai cấy máu của máy cấy máu tự động, máy sẽ tự động báo âm tính sau 5
ngày), làm tiêu bản nhuộm Gram và cấy chuyển trên môi trường thạch máu 37
độ C/24 giờ. Sau 24 giờ, nếu không mọc khuẩn lạc thì kết luận âm tính và trả kết
quả xét nghiệm cho bác sĩ lâm sàng.
6.2. Nhân tố ảnh hưởng đến cấy máu:

- Ủ ấm: 35-37oc /18-24h.
Nhận định khuẩn lạc
- Trên môi trường Mac-conkey
- Trên môi trường thạch máu
- Trên thạch thường
- Trên môi trường canh thang
Chọn khuẩn lạc điển hình: 03 khuẩn lạc
- Cấy tăng sinh trên thạch máu trong 6 giờ
- Nhuộm Gram xem hình thể, tính chất bắt màu
- Chọn card định danh, kháng sinh đồ GP, GN …cho phù hợp
Định danh vi khuẩn- kháng sinh đồ bằng máy VITEK 2 COMPAC
- Chuẩn bị worksheet cho cassette: Ghi các thông tin bệnh nhân
- Chuẩn bị card xét nghiệm : Để card ổn định ở nhiệt độ phòng 15 phút
- Pha loãng vi khuẩn tạo huyền dịch: Lấy 3ml Salin từ Dispenser cho 5
khuẩn lạc lắc đều
- Đo độ đục vi khuẩn đạt 0.55- 0.65
- Cắm card định danh vào ống nghiệm
- Cắm card KSĐ định danh vào ống nghiệm
- Vận chuyển card vào máy định danh vi khuẩn
- Đưa Cassette vào buồng hút>>>Start fill >>> Chờ đèn báo
18


- Chuyển card sang buồng loading Station sau 4-5 phút máy báo kết thúc
mở máy lấy cassette ra và đóng cửa lại
- Nhập thông tin bệnh nhân vào máy
- Khi máy phân tích xong >>> đọc kết quả.
7.3 Đọc kết quả
Dựa vào khuẩn lạc trên môi trường MAC, thạch máu
- Nhuộm Gram từ khuẩn lạc

phải gene gây biến đổi PBP-2a. Protein này được mã hóa bởi gene mccA định vị
trên yếu tố di truyền di động. Chúng tác động giống như transpeptidase, liên kết
với peptidoglycan chủ yếu ở cấu trúc màng té bào VK. PBP-2a khác với PBP
bình thường ở chỗ chúng có ái lực rất yếu với KS nhóm beta-lactamines, do vậy
các KS nhóm penicillines, cephalosporines, và các beta-lactamines khác không
có tác dụng chống MRSA-N. Ngoài ra chúng còn kháng chéo với clindamycine,
các carbapenemes, các macrolides và các tetracyclines. Lúc đó vancomycine là
lựa chọn thay thế đầu tiên. Gần đây, một số thuốc mới đắt tiền và độc hơn đã
xuất hiện để giúp chúng ta chống lại MRSA như : linezolide, tigecycline,
daptomycine, ceftobprole và dalbavancine(28,29).
- Vi khuẩn gram âm đường ruột sinh men cephalosporinases bậc cao từ
nhiễm sắc thể (men beta-lactamases type AmpC). Ban đầu, các men
cephalosporinases được xem là các men từ nhiễm sắc thể của VK Pseudomonas
aeruginosa, chúng có thể phân hủy các KS như cefotaxim và ceftazidime. Việc
tăng sản các men này thường kèm với việc giám số lỗ trên màng ngoài tế bào
VK. Lây truyền qua plasmide và có ở các VK gram âm đường ruột, làm cho tỷ
lệ men cephalosporinases rất cao ở các VK E. coli; Klebsiella pneumonia;
Enterobacter và Citrobacter. Gene liên quan đến men cephalosporinases là
AmpC. Có trên 20 loại men lactamases khác nhau thuộc type Amp-C, và vì thế
chúng gây đề kháng rất cao với các thuốc KS nhóm lactamines. Các VK sinh
men này chỉ nhạy cảm với cefepime và nhóm Carbapenemes
- Vi khuẩn sinh men carbapenemases: Người ta đã phân lập được men
carbapenemes từ các VK Pseudomonas aeruginosa, và Acinetobacter baumanii,
đây chính là nguyên nhân gây nhiễm khuẩn bệnh viện rất nặng và khó điều trị.
- Sự đề kháng của VK gram âm đường ruột với nhóm fluoroquinolones.

20




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status