Một số giải pháp góp phần phát huy vai trò bình ổn giá của khu vực kinh tế nhà nước ở việt nam - Pdf 47

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM

NGUYỄN THỊ THU HÀ

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP. Hồ Chí Minh – Năm 2004


-1-

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của luận văn
Từ đầu năm 2004 đến nay do nhiều nguyên nhân trong nước như cúm
gia cầm, hạn hán, hay những nguyên nhân ngoài nứơc như đồng đôla Mỹ
giảm giá, Trung Quốc tiêu thụ nhiều năng lượng, sắt thép, dòch vụ vận tại
biển làm cho cung cầu bò mất cân đối… giá cả đang tăng với tốc độ cao, 11
tháng đầu năm đã tăng 8,8% so với tháng 12 năm 2003, vấn đề này đã tác
động nhiều mặt đến hoạt động của nền kinh tế: chi phí sản xuất tăng, năng
lực cạnh tranh của nhiều sản phẩm và dòch vụ bò giảm sút, nhiều công trình
đầu tư xây dựng cơ bản bò đình hoãn.
Doanh nghiệp nhà nước có thể đóng góp gì để đònh hương và điều tiết
vó mô, bình ổn giá?
Đã có nhiều công trình nghiên cứu đáng tin cậy trong và ngoài nước
đề cập đến hiệu quả của khu vực kinh tế nhà nước biểu hiện cụ thể qua hiệu
quả hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước (vì doanh nghiệp nhà nước là
bộ phận chủ yếu trong khu vực kinh tế nhà nước) và kết quả được ghi nhận
đều giống nhau ở chỗ: doanh nghiệp nhà nước được hưởng quá nhiều ưu đãi,
đặc biệt là ưu đãi về vốn so với các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh

tốt hơn ở những công trình nghiên cứu sau này.

2. Mục đích nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên cơ sở nghiên cứu thực trạng hiệu quả
hoạt động của khu vực kinh tế nhà nước biểu hiện qua các doanh nghiệp nhà
nước, kết hợp với việc nghiên cứu các lý luận về tài chính của doanh nghiệp


-3-

để tìm ra một số giải pháp phù hợp nhằm phát huy vai trò đònh hướng và điều
tiết vó mô, bình ổn giá của khu vực kinh tế nhà nước.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn có liên quan đến rất nhiều lónh vực khoa học khác nhau như:
kinh tế, tài chính, kế toán, pháp luật và cả những mối quan hệ quốc tế. Tuy
nhiên, luận văn chỉ giới hạn phạm vi nghiên cứu tập trung vào phát huy vai
trò đònh hướng và điều tiết vó mô, bình ổn giá của khu vực kinh tế nhà nước.

4. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện dựa trên phương pháp luận của chủ nghóa duy
vật biện chứng kết hợp với phương pháp lôgich, phương pháp thống kê,
phương pháp phân tích, phương pháp so sánh…

5. Ý nghóa lý luận và thực tiễn
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và phân tích có hệ thống các vấn đề lý
luận liên quan đến khu vực kinh tế nhà nước và vấn đề tài chính trong doanh
nghiệp, tổng hợp thực trạng hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước, luận
văn sẽ đề xuất những giải pháp nhằm phát huy vai trò bình ổn giá của khu
vực kinh tế nhà nước.

1.1.

Sự cần thiết của kinh tế nhà nước trong nền kinh tế thò trường xã hội
chủ nghóa

Chủ nghóa Mác cho rằng việc tổ chức sản xuất trên cơ sở chế độ công hữu xã hội
chủ nghóa là sự khác nhau có ý nghóa quyết đònh giữa chế độ xã hội chủ nghóa và
chế độ tư bản chủ nghóa. Trong tác phẩm “Đấu tranh giai cấp ở Pháp 1848 –
1850”, lần đầu tiên Mác nêu lên một nguyên lý có ý nghóa quan trọng: “đặt
những tư liệu sản xuất đó dưới sự chi phối của giai cấp công nhân”. Đó chính là
chế độ công hữu tư liệu sản xuất. Chỉ có phát huy vai trò chủ đạo của kinh tế
công hữu, nhà nước mới có thực lực kinh tế hùng hậu để chủ yếu sử dụng biện
pháp kinh tế hướng dẫn các thành phần kinh tế ngoài công hữu hoạt động theo
nhu cầu của nền kinh tế quốc dân, nhằm phát huy vai trò cần thiết của chúng
trong phát triển kinh tế, bảo đảm nền kinh tế phát triển lành mạnh.
Chế độ công hữu có 2 hình thức cơ bản: sở hữu nhà nước và sở hữu tập thể. Vì
thế, muốn cải cách, có thể phát triển và làm cho kinh tế công hữu lớn mạnh, cần
chú trọng làm tốt toàn bộ kinh tế sở hữu nhà nước. Kinh tế nhà nước có vai trò
chủ đạo theo nghóa là công cụ vật chất của nhà nước để chi phối và điều tiết sự
phát triển của toàn bộ nền kinh tế quốc dân.
Khẳng đònh lấy chủ nghóa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư
tưởng, kim chỉ nam cho hành động, Đảng và Nhà nước ta đã chủ trương thực hiện
nhất quán và lâu dài chính sách phát triển nền kinh tế nhiều thành phần vận
động theo cơ chế thò trường, có sự quản lý của nhà nước theo đònh hướng xã hội
chủ nghóa, trong đó kinh tế Nhà nước giữ vai trò chủ đạo. Kinh tế Nhà nước


-6-

cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc trong nền kinh

người thấp, công thương nghiệp chưa phát triển, nông nghiệp còn chiếm vò trí là


-7-

nền tảng, đại bộ phận dân cư sống trong nông nghiệp, kỹ thuật và công nghiệp
lạc hậu.
Nền kinh tế chậm phát triển cũng có nghóa là mức độ tập trung sản xuất là
rất thấp, hệ thống kinh doanh của nền kinh tế là hệ thống kinh doanh nhỏ, phân
tán, manh mún, ít vốn với kỹ thuật, công nghệ còn lạc hậu.
Trong hệ thống kinh doanh của nền kinh tế, kinh tế nhà nước giữ vò trí duy
nhất thực hiện sứ mạng lòch sử của việc tạo lập những yếu tố quyết đònh cho một
chiến lược phát triển rút ngắn, tăng tốc vì:
Thứ nhất: ưu thế về quy mô tập trung sản xuất, do đó, là ưu thế về khả năng
huy động vốn và khả năng tham gia vào thò trường thế giới.
Thứ hai: với sức mạnh dựa vào quy mô tập trung sản xuất kinh doanh, kinh
tế nhà nước có ưu thế trong việc chuyển giao công nghệ hiện đại.
b. Kinh tế nhà nước tham gia giải quyết những vấn đề kinh tế trong nền kinh tế
thò trường.
Khắc phục trạng thái độc quyền tự nhiên, những tác động hướng ngoại phát
sinh trong nền kinh tế thò trường.
Lấp vào những chỗ trống mà khu vực kinh tế tư nhân hoặc không muốn làm,
hoặc không có khả năng làm được, đồng thời không thể dùng những giải pháp vó
mô để giải quyết.
Kinh tế nhà nước trong việc đầu tư vào những ngành quyết đònh cho sự phát
triển dài hạn và hiệu quả chung của nền kinh tế làm cho nó có một vai trò đặc
biệt, vai trò giá đỡ của nền kinh tế.
1.3.2. Vai trò chính trò
a. Kinh tế nhà nước cung cấp cho nhà nước một cơ sở kinh tế, để nhà nước trở
thành một lực lượng chi phối trực tiếp đối với bộ phận kinh tế tư nhân.



-9-

là chỗ nhà nước cần can thiệp. Bằng doanh nghiệp nhà nước sử dụng nhiều lao
động, nhà nước có thể giúp giải quyết những vấn đề này: làm giảm tỷ lệ thất
nghiệp, làm tăng thu nhập và do đó giảm được sự bất bình đẳng.
c. Hình thành sự phát triển cân đối giữa các đòa phương.
Trong một quốc gia, có những vùng xa xôi hẻo lánh, trình độ phát triển
thấp, dân cư ở những vùng này phải chòu thiệt thòi vì sự phát triển mất cân đối.
Để cải thiện những vùng này, vấn đề là phải có chính sách đầu tư và những cơ sở
kinh tế được xây dựng để cung cấp những dòch vụ, đồng thời tạo ra công ăn việc
làm ở đây. Cũng lại những doanh nghiệp nhà nước mới có điều kiện để thực hiện
những chương trình dự án cải thiện những vùng kém phát triển của đất nước.
d. Cung cấp các dòch vụ công cho toàn xã hội.
Xã hội phát triển, hàng hóa và dòch vụ công cộng cũng tăng. Những hàng
hóa và dòch vụ công cộng này sẽ tăng phúc lợi lên đáng kể. Ở đây, phúc lợi công
cộng được phân phối đều cho mọi người, vì thế tăng phúc lợi công cộng cũng tức
là tăng mức độ công bằng. Đối với những nước chậm phát triển, doanh nghiệp tư
nhân còn nhỏ, phân tán, thì doanh nghiệp nhà nước có vai trò quyết đònh đối với
việc sản xuất hàng công cộng.
1.4.

Vò trí chủ đạo của kinh tế nhà nước trong nền kinh tế nhiều thành
phần ở nước ta
1.4. 1. Sự tồn tại tất yếu nhiều thành phần kinh tế trong giai đoạn quá
độ lên chủ nghóa xã hội

Theo nguyên lý của chủ nghóa Mác – Lênin, dù mỗi nước có đặc điểm khác nhau
nhất đònh, nhưng bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghóa xã hội đều có ba thành

Nền kinh tế tồn tại và phát triển với cơ cấu nhiều thành phần (là tất yếu
hợp quy luật và là cần thiết của thực tiễn xây dựng đất nước). Các thành phần
kinh tế này tồn tại và hoạt động không biệt lập mà có quan hệ tác động biện


-11-

chứng, gắn bó hữu cơ với nhau trong cạnh tranh và hợp tác, góp phần thực hiện
và thúc đẩy sự hình thành nền kinh tế hàng hóa lớn ở nước ta, trong đó kinh tế
nhà nước giữ vai trò chủ đạo.
Chủ đạo không có nghóa là kinh tế nhà nước có mặt ở khắp nơi, sản xuất
kinh doanh đủ mọi mặt hàng, nhiều hơn, lấn át các thành phần phần kinh tế khác.
Như vậy không phải là chủ đạo, và làm như vậy thì không thể thực hiện được vai
trò chủ đạo. Vì nếu cái gì cũng làm, mà năng lực lại có hạn, thì không làm được
cái gì cả, không tạo được sức mạnh. Chủ đạo là kinh tế nhà nước tạo được cho
mình thế và lực để từ đó tác động, giúp đỡ, lôi kéo, chuyển hóa sự hoạt động của
các thành phần kinh tế khác cùng vận động trong quỹ đạo: tuân thủ quy luật và
pháp luật, làm giàu cho mình và cho đất nước, phục vụ phát triển sản xuất và đời
sống theo đònh hướng xã hội chủ nghóa.
Như vậy để làm được chủ đạo, kinh tế nhà nước phải tập trung nắm giữ,
hoạt động có hiệu quả ở những ngành hàng, những khâu trọng yếu, chiến lược,
then chốt như: các loại sản phẩm có tầm quyết đònh sự ổn đònh và phát triển của
nền sản xuất, những mặt hàng quan hệ đến vận mệnh của nền kinh tế và đời
sống xã hội. Đồng thời, kinh tế nhà nước cũng phải đảm nhiệm sản xuất kinh
doanh những mặt hàng mà các thành phần kinh tế khác không được phép sản
xuất kinh doanh (vì an ninh quốc gia), không có khả năng sản xuất kinh doanh,
hoặc không muốn sản xuất kinh doanh, để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế –
xã hội. Phần còn lại, ở những ngành hàng thông thường, kinh tế nhà nước không
nhất thiết phải tham gia đầu tư sản xuất kinh doanh, mà thực hiện nguyên tắc: “ai
làm tốt việc gì hãy tạo điều kiện cho họ làm”, Nhà nước quản lý bằng biện pháp

Nghóa là các thành phần kinh tế được đối xử bình đẳng về mặt pháp luật chứ
không phải nhất loạt như nhau về mọi phương diện, chế độ.


-13-

Bởi vì, tạo điều kiện cho thành phần kinh tế nhà nước thực hiện được vai
trò chủ đạo trong hệ thống cơ cấu nền kinh tế nhiều thành phần là điều kiện đảm
bảo cho nền kinh tế nước ta phát triển theo đònh hướng xã hội chủ nghóa, thực
hiện được mục tiêu mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn là dân giàu,
nước mạnh, xã hội công bằng văn minh, vững bước tiến dần lên chủ nghóa xã
hội.
1.4. 3. Quan điểm của Đảng ta về vò trí của kinh tế nhà nước từ Đại hội
Đảng lần thứ IX
Thực hiện nhất quán chính sách phát triển nền kinh tế nhiều thành phần.
Các thành phần kinh tế kinh doanh theo pháp luật đều là bộ phận cấu thành quan
trọng của nền kinh tế thò trường đònh hướng xã hội chủ nghóa, cùng phát triển lâu
dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh; trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ
đạo, kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững
chắc của nền kinh tế quốc dân.
Từ các hình thức sở hữu cơ bản: sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể và sở hữu
tư nhân hình thành nhiều thành phần kinh tế với những hình thức tổ chức kinh
doanh đa dạng, đan xen, hỗn hợp.
Kinh tế nhà nước phát huy vai trò chủ đạo trong nền kinh tế, là lực lượng
vật chất quan trọng và là công cụ để Nhà nước đònh hướng và điều tiết vó mô nền
kinh tế. Doanh nghiệp nhà nước giữ những vò trí then chốt, đi đầu ứng dụng tiến
bộ khoa học và công nghệ, nêu gương về năng suất, chất lượng, hiệu quả kinh tế
– xã hội và chấp hành pháp luật.
Thực tiễn của hơn 15 năm đổi mới vừa qua cho thấy, chính sách kinh tế
nhiều thành phần đã góp phần giải phóng và phát triển lực lượng sản xuất, đưa

nước hiện có, đồng thời phát triển thêm doanh nghiệp mà Nhà nước đầu tư 100%
vốn hoặc có cổ phần chi phối ở một số ngành, lónh vực then chốt và đòa bàn quan


-15-

trọng. Xây dựng một số tập đoàn kinh tế mạnh trên cơ sở các tổng công ty Nhà
nước, có sự tham gia của các thành phần kinh tế. Thực hiện tốt chủ trương cổ
phần hóa và đa dạng hóa sở hữu đối với những doanh nghiệp mà Nhà nước
không cần nắm 100% vốn; giao, bán, khoán, cho thuê… các doanh nghiệp loại
nhỏ Nhà nước không cần nắm giữ; sáp nhập giải thể, cho phá sản những doanh
nghiệp hoạt động không hiệu quả và không thực hiện được các biện pháp trên.
Khẩn trương cải thiện tình hình tài chính và lao động của các doanh nghiệp nhà
nước, củng cố và hiện đại hóa một bước các tổng công ty Nhà nước.
Tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách đối với doanh nghiệp nhà nước để tạo
động lực phát triển và nâng cao hiệu quả theo hướng: xóa bao cấp, doanh nghiệp
cạnh tranh bình đẳng trên thò trường, tự chòu trách nhiệm về sản xuất, kinh doanh;
nộp đủ thuế và có lãi. Thực hiện tốt quy chế dân chủ trong doanh nghiệp. Có cơ
chế phù hợp về kiểm tra, kiểm soát, thanh tra của Nhà nước đối với doanh
nghiệp.
Trong xu thế hội nhập, kinh tế nhà nước phải đi đầu trong quá trình công
nghiệp hóa – hiện đại hóa theo hướng mở cửa, hội nhập vào nền kinh tế thế giới.
Để thực hiện chủ trương công nghiệp hóa – hiện đại hóa, nhà nước phải tập trung
huy động vốn, phát triển về quy mô, hiện đại hóa quy trình công nghệ, tăng
cường liên doanh liên kết, thu hút đầu tư vốn nước ngoài, nâng cao chất lượng
sản phẩm. Việc lựa chọn chính sách công nghiệp hóa thích hợp cũng thúc đẩy
kinh tế nhà nước phát huy vai trò chủ đạo, nhất là trong điều kiện nền kinh tế mở
cửa tự do hóa thương mại hiện nay.
1.5.


thúc đẩy kinh tế phát triển.
Qua hơn 18 năm cải cách và mở cửa, thực lực của các doanh nghiệp Trung Quốc
đã được tăng cường, các doanh nghiệp nhà nước này luôn luôn nắm giữ huyết
mạch của nền kinh tế. Sự trưởng thành và lớn mạnh của doanh nghiệp nhà nước
làm thay đổi bộ mặt kinh tế của Trung Quốc, giúp Trung Quốc xây dựng được hệ


-17-

thống công nghiệp độc lập tương đối hoàn chỉnh, thay đổi kết cấu công nghiệp,
làm tăng sức mạnh tổng hợp của đất nước.
Doanh nghiệp nhà nước ở Trung Quốc chẳng những có vai trò quan trọng trong
công cuộc xây dựng nền kinh tế xã hội chủ nghóa ở Trung Quốc mà còn giữa vai
trò chủ đạo trong tiến trình hiện đại hóa đất nước.
Ở Pháp
Doanh nghiệp nhà nước chiếm trên 30% trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân,
riêng ngành năng lượng: giá trò sản lượng của các doanh nghiệp nhà nước chiếm
69% tổng giá trò sản lượng của toàn ngành. Ngành giao thông vận tải, các công ty
đường sắt, công ty hàng không: chủ yếu do nhà nước nắm giữ… Trong ngành tài
chính và bảo hiểm, các tổ chức tài chính nhà nước nắm giữ 90% tiền gửi, 84,8%
vốn cho vay, 97,2% nghiệp vụ tài chính, ngân hàng nhà nước và tổ chức bảo
hiểm kiểm soát toàn diện hoạt động của hệ thống tài chính và bảo hiểm.
Ở Thụy Điển, năm 1990 có tới 41% lao động trong khu vực kinh tế quốc doanh.
Trong khối các nước công nghiệp mới phát triển (NIC).
Các doanh nghiệp nhà nước đang chiếm đa số trong nền kinh tế và có vai trò
quan trọng khác nhau trong nhiều lónh vực: từ dòch vụ tài chính, sản xuất kinh
doanh nông sản đến lónh vực hàng không… Các doanh nghiệp nhà nước đóng vai
trò chủ đạo trong việc đóng góp vào GDP của mỗi nước.
Tại Indonesia, tuy chỉ có 164 doanh nghiệp nhà nước lại chiếm đến 29% GDP, ở
Thái Lan cũng vậy, chỉ với 67 công ty thuộc chính phủ lại chiếm đến hơn 20%

-19-

Chương 2

THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA KHU VỰC KINH TẾ
NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN QUA.
2.1.

Những đổi mới của Đảng về chế độ sở hữu và thành phần kinh tế.

2.1.1. Những đổi mới quan điểm, chính sách về chế độ sở hữu và thành phần
kinh tế của Đảng từ Đại hội VI đến nay.
Đại hội VI của Đảng (1986) đã phân đònh thành phần kinh tế xã hội chủ
nghóa (khu vực quốc doanh, khu vực tập thể và bộ phận kinh tế gia đình gắn liền
với thành phần đó) và các thành phần kinh tế khác (phi xã hội chủ nghóa), xác
đònh kinh tế xã hội chủ nghóa phải chiếm tỷ trọng lớn trong cả sản xuất và lưu
thông. Nhà nước có chính sách ưu đãi về kinh tế đối với các thành phần kinh tế
xã hội chủ nghóa (về đầu tư, thuế, tín dụng…), cho phép tư sản nhỏ hoạt động
trong một số ngành nghề sản xuất và dòch vụ ở những nơi cần thiết; xóa bỏ
thương nghiệp tư bản tư nhân trong lónh vực lưu thông (trừ một số ngành hàng
tươi sống).
Hội nghò Trung ương 6, khóa VI (1989) chủ trương phát triển đang xen
nhiều loại hình kinh tế hỗn hợp, đan kết các hình thức sở hữu. Kinh tế quốc
doanh có vai trò chủ đạo, cần có lực lượng đủ sức chi phối thò trường, song không
nhất thiết chiếm tỷ trọng lớn trong mọi ngành nghề; những ngành nghề, hoạt
động nào mà kinh tế hợp tác xã, kinh tế gia đình, kinh tế tư nhân có thể làm tốt,
có lợi cho nền kinh tế thì nên tạo điều kiện cho các loại hình ấy phát triển. Tư
nhân được kinh doanh không hạn chế về quy mô, đòa bàn hoạt động trong những
ngành nghề mà luật pháp không cấm.
Đại hội VII của Đảng (1991) thông qua Cương lónh xác đònh: Kinh tế quốc

chắc việc cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước. Phát triển kinh tế hợp tác (mà


-21-

nòng cốt là các hợp tác xã) với nhiều hình thức đa dạng từ thấp tới cao, tuân thủ
nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, cùng có lợi, quản lý dân chủ. Kinh tế tư bản
nhà nước có vai trò quan trọng, bao gồm các hình thức hợp tác liên doanh giữa
kinh tế nhà nước với tư bản tư nhân trong nước và hợp tác liên doanh giữa kinh tế
nhà nước với tư bản nước ngoài. Giúp đỡ kinh tế cá thể, tiểu chủ giải quyết các
khó khăn; hướng dẫn từng bước đi vào làm ăn hợp tác một cách tự nguyện, hoặc
làm vệ tinh cho các doanh nghiệp nhà nước hay hợp tác xã. Khuyến khích tư bản
tư nhân đầu tư vào sản xuất, yên tâm làm ăn lâu dài.
Nhận xét:
Từ chỗ trong nhận thức cũng như trong hành động không thực sự thừa nhận
nền kinh tế nhiều thành phần; chia nền kinh tế thành 2 bộ phận: xã hội chủ nghóa
(gồm quốc doanh và tập thể) và phi xã hội chủ nghóa (gồm các thành phần còn
lại), chủ trương sớm xây dựng và phát triển kinh tế xã hội chủ nghóa chiếm tỷ
trọng lớn trong cả sản xuất và lưu thông, chủ trương phải cải tạo và có phần xóa
bỏ, thu hẹp dần bộ phận kinh tế phi xã hội chủ nghóa - đã chuyển sang thực hiện
phát triển nền kinh tế nhiều thành phần; từ các hình thức sở hữu cơ bản (sở hữu
toàn dân, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân) hình thành nhiều thành phần kinh tế với
những hình thức tổ chức kinh doanh đa dạng, đan xen hỗn hợp; mỗi thành phần
đều có vò trí quan trọng trong cơ cấu của nền kinh tế, các thành phần kinh tế kinh
doanh theo pháp luật đều là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế thò
trường đònh hướng xã hội chủ nghóa, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh
tranh lành mạnh; mỗi doanh nghiệp cũng đan xen nhiều hình thức sở hữu; hệ
thống pháp luật dần chuyển sang quy đònh chung cho các thành phần kinh tế.



2.2.1. Kết quả đạt được


-23-

Theo tính toán chưa đầy đủ, tính đến 31/12/2003 ở nước ta có 4.789 doanh nghiệp
nhà nước đang hoạt động. Nếu so với đầu thập niên 90, thì số lượng doanh
nghiệp nhà nước ở nước ta giảm một nửa, nhưng quy mô vốn và tài sản thì tăng
đáng kể (xem phụ lục 1). Lực lượng doanh nghiệp nhà nước cùng với các doanh
nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác có mặt hầu như ở tất cả các ngành kinh
tế và lónh vực hoạt động (xem phụ lục 2).
Bảng 2.1: Cơ cấu doanh nghiệp Nhà nước phân theo ngành kinh tế
Ngành kinh tế

Tỷ trọng (%)

Công nghiệp

29,9

Xây dựng, vận tải, bưu điện

23,5

Thương mại, dòch vụ, khách sạn

23,4

Nông lâm nghiệp


Lực lượng doanh nghiệp nhà nước hằng năm đóng góp khoảng 40% trong cơ cấu
GDP của nước ta, chiếm giữ khoảng 70% vốn và tài sản cố đònh của nền kinh tế


-24-

(không tính vốn và tài sản của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài) (xem phụ lục
1). Lực lượng doanh nghiệp nhà nước đang là lực lượng chủ yếu trong sản xuất
công nghiệp; trong các hoạt động kinh doanh xuất - nhập khẩu, trong lónh vực tài
chính - ngân hàng - tín dụng. Nhìn chung, lực lượng doanh nghiệp nhà nước đang
là lực lượng then chốt trong các ngành kinh tế quan trọng của đất nước, cá biệt có
một số ngành đang có vò trí độc quyền kinh doanh.
Từ năm 1995 đến 1999, hằng năm doanh nghiệp nhà nước đóng góp từ 26 – 28%
trong tổng thu ngân sách nhà nước, năm 2000: 20,7%; năm 2001: 23,7%; năm
2002: 26,3%, năm 2003: 39%. Doanh nghiệp nhà nước cũng đang sử dụng
khoảng 16% lực lượng lao động trong các ngành nghề phi nông nghiệp (xem phụ
lục 3).
Theo đánh giá của các cơ quan chức năng, các doanh nghiệp nhà nước luôn cố
gắng đảm trách vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân. Các doanh nghiệp
nhà nước trong ngành công nghiệp nặng, giao thông vận tải, xây dựng… đã thực
hiện những nhiệm vụ quan trọng của nền kinh tế quốc dân, tạo ra những sản
phẩm có ý nghóa sống còn cho đất nước như: điện, than, xi-măng, sắt thép, các
công trình phúc lợi, cơ sở hạ tầng, đường xá, cầu cống… mà các thành phần kinh
tế khác chưa đủ sức làm.
Mức tăng trưởng hằng năm của lực lượng doanh nghiệp nhà nước xấp xỉ mức
tăng trưởng chung của nền kinh tế, cũng xấp xỉ khu vực ngoài quốc doanh trong
nước (xem phụ lục 3).
Đối với vai trò mở đường hỗ trợ cho các thành phần kinh tế khác phát triển: thực
tế cho thấy doanh nghiệp nhà nước đã đi trước, thúc đẩy phân bố lại dân cư theo
hướng công nghiệp hoá, hình thành các trung tâm kinh tế văn hoá mới, thúc đẩy


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status