Một số giải pháp hạn chế nợ khó đòi phát sinh trong hoạt động tín dụng của các ngân hàng thương mại trên địa bàn thành phố hồ chí minh - Pdf 47

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM

ĐỖ THỊ THU HẰNG

LUẬNVĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP. Hồ Chí Minh – Năm 2001


1

MỞ ĐẦU
LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Sau 2 năm suy giảm, kinh tế Việt Nam năm 2000 đã có dấu hiệu phục
hồi, các chỉ tiêu kinh tế vó mô đều đạt và vượt kế hoạch dự kiến, tốc độ tăng
trưởng kinh tế đạt 7% (kế hoạch là 5,5 – 5,6%). Bước sang những tháng đầu năm
2001, những tháng mở đầu cho thiên niên kỷ mới, nền kinh tế Việt Nam đang
chuyển biến tích cực. Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, q 1 năm nay, hầu
hết các ngành, các lónh vực then chốt của nền kinh tế đã đạt được kết quả khả
quan. Tốc độ tăng trưởng kinh tế q 1 đạt 7,2% so cùng kỳ năm ngoái. Tình hình
trên có được là do sự đóng góp của nhiều ngành nhiều cấp, trong đó có phần
đóng góp không nhỏ của ngân hàng. Theo Báo cáo tình hình thực hiện nhiệm vụ
của ngành ngân hàng năm 2000, các chỉ tiêu tiền tệ tín dụng đều thực hiện đạt
và vượt kế hoạch: so với đầu năm, huy động vốn tăng 29% (kế hoạch là 20 –
22%) và dư nợ cho vay nền kinh tế tăng 25% (kế hoạch là 18 -20%).
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, hoạt động tín dụng ngân
hàng trong năm 2000 vẫn còn nổi lên một vấn đề đáng quan tâm là chất lượng
tín dụng vẫn chưa có sự cải thiện đáng kể. Tính đến cuối năm 2000, tỷ lệ nợ quá
hạn của toàn hệ thống ngân hàng là 5,54% trên tổng dư nợ cho vay. Nếu tính cả

MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Mục đích của luận án là:
_ Nghiên cứu và hệ thống hóa về mặt lý thuyết các rủi ro dẫn đến nợ khó
đòi phát sinh trong hoạt động kinh doanh của các NHTM.
_ Nghiên cứu thực trạng nợ khó đòi và đưa ra một số giải pháp hạn chế nợ
khó đòi, nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả hoạt động tín dụng của ngân hàng.
Điều này cũng là để thực hiện chủ trương của Đảng về đònh hướng đổi
mới và kiện toàn hệ thống tài chính ngân hàng trong giai đoạn 2001 – 2010
thông qua việc lành mạnh hóa hoạt động ngân hàng, từng bước nâng cao hiệu
quả để đáp ứng được các điều kiện hội nhập quốc tế.
PHẠM VI NGHIÊN CỨU


3

Luận án chủ yếu tập trung phân tích tình hình nợ khó đòi phát sinh trong
hoạt động tín dụng của các NHTM trên đòa bàn TP.HCM. Đây là một trong
những đòa bàn mà hệ thống ngân hàng trong thời gian qua đã đạt được nhiều
thành tựu đáng kể, nhưng cũng không tránh khỏi những vấp váp, những tồn tại.
Vấn đề nổi cộm hiện nay là chất lượng tín dụng còn thấp, nợ khó đòi còn chiếm
tỷ lệ cao. Nhiều NHTM trên đòa bàn chưa chấp hành đúng các qui chế, thể lệ về
tín dụng, qui trình cho vay còn nhiều thiếu sót, tạo kẽ hở đã làm cho nợ quá hạn
(kể cả nợ chờ xử lý và nợ khoanh) tính đến cuối tháng 6/2001 là 21,8%.
Hy vọng rằng việc xác đònh phạm vi nghiên cứu như trên sẽ giúp quá trình
phân tích tập trung bám sát được tình hình thực tế của đòa phương, góp phần hạn
chế tỷ lệ nợ khó đòi, nợ quá hạn của hệ thống NHTM trên đòa bàn TP.HCM,
nâng cao dần chất lượng tín dụng của toàn hệ thống ngân hàng.
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu:
_ Phương pháp phân tích

hàng sử dụng một khoản tiền với nguyên tắc có hoàn trả bằng các nghiệp vụ cho
vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ khác.
Do vậy có thể nói NHTM là doanh nghiệp đặc biệt kinh doanh về tiền tệ
với hoạt động thường xuyên là nhận tiền gởi, cho vay, chiết khấu và cung cấp
các dòch vụ tài chính.
NHTM có nhiều chức năng, bao gồm chức năng trung gian tín dụng, trung
gian thanh toán, và tạo bút tệ. Với chức năng trung gian tài chính, ngân hàng huy
động các nguồn tiền tạm thời nhàn rỗi trong xã hội và sử dụng nguồn vốn đó để
cho vay đối với các doanh nghiệp và cá nhân có nhu cầu. Với chức năng trung
gian thanh toán, ngân hàng nhận tiền gởi của khách hàng, cung cấp cho khách
hàng các phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt. Với chức năng tạo bút tệ,
ngân hàng thương mại trở thành người cung ứng tiền tệ quan trọng trong nền
kinh tế. Quá trình tạo bút tệ của NHTM được thực hiện thông qua hoạt động tín
dụng và tổ chức thanh toán trong hệ thống ngân hàng. Khi thực hiện các chức


5

năng này, NHTM là chủ thể đóng vai trò quan trọng trong quá trình thực hiện
chính sách tiền tệ của Ngân hàng trung ương.
1.1.2. Các nghiệp vụ cơ bản của ngân hàng thương mại:
1.1.2.1. Nghiệp vụ huy động vốn
Huy động các nguồn vốn trong xã hội để hoạt động là lẽ sống quan trọng
nhất của các ngân hàng thương mại.
Nhìn chung, nguồn vốn huy động của NHTM chủ yếu bao gồm tiền gửi
không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm và kỳ phiếu, trái phiếu.
Tiền gửi không kỳ hạn: là các khoản tiền gửi với thời gian không
xác đònh. Người gửi tiền có thể rút tiền bất cứ lúc nào khi cần. Mục
đích của loại tiền gửi này là nhằm đảm bảo an toàn tài sản và thực
hiện các khoản chi trả trong hoạt động sản xuất kinh doanh và tiêu

Xét theo mức độ tín nhiệm: có tín dụng có bảo đảm tiền vay và tín
dụng không có bảo đảm tiền vay.
Xét theo nghiệp vụ cho vay, thu nợ, có các loại nghiệp vụ tín dụng
sau:
Tín dụng thông thường
Tín dụng thông thường (hay còn gọi tín dụng đơn giản) là tiến trình cấp tín
dụng dựa trên cơ sở nhu cầu tín dụng của từng đối tượng vay cụ thể, như cho vay
dự trữ các loại hàng tồn kho hoặc tài khoản các khoản phải thu. Nghiệp vụ cho
vay này thường dựa trên cơ sở hợp đồng kinh tế, đơn đặt hàng, thư tín dụng, các
hóa đơn bán hàng, bản kê bán thành phẩm, hoặc thành phẩm.
Loại cho vay này thường không đòi hỏi phải có cam kết hạn mức tín dụng.
Tuy nhiên trong nhiều trường hợp, hạn mức tín dụng cũng được xác đònh để hỗ
trợ việc cho vay ứng trước từng lần. Hạn mức tín dụng áp dụng trong trường hợp
này là cam kết hạn mức với điều kiện chặt chẽ và từng lần cho vay ngân hàng
phải ra quyết đònh cho vay cụ thể.
Tín dụng luân chuyển


7

Tín dụng luân chuyển (hay còn gọi cho vay vốn lưu động) là loại cho vay
để đáp ứng toàn bộ nhu cầu vốn lưu động thiếu hụt của doanh nghiệp. Đây là
loại cho vay tổng hợp đáp ứng toàn bộ nhu cầu dự trữ tồn kho về nguyên liệu,
hàng hóa, và thu nợ khi ngân quỹ nhận được từ tiêu thụ hàng hóa.
Do đối tượng cho vay là toàn bộ nhu cầu vốn lưu động thiếu hụt nên phải
xác đònh hạn mức tín dụng để làm cơ sở cho việc giải ngân.
Thấu chi
Đây là hình thức cấp tín dụng ứng trước đặc biệt được thực hiện trên cơ sở
hợp đồng tín dụng, trong đó khách hàng được phép sử dụng dư nợ trong một giới
hạn và thời hạn nhất đònh trên tài khoản vãng lai. Khác với tín dụng ứng trước,

Điều 20 Luật các tổ chức tín dụng đã nêu rõ: “ Bảo lãnh ngân hàng là
cam kết bằng văn bản của tổ chức tín dụng với bên có quyền về việc thực hiện
nghóa vụ tài chính thay cho khách hàng khi khách hàng không thực hiện đúng
nghóa vụ đã cam kết; khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho tổ chức tín dụng
số tiền đã được trả thay”.
Trong thương mại quốc tế, bảo lãnh ngân hàng được xem như một loại
hình tài trợ ngoại thương, nhằm chống đỡ những tổn thất của người thụ hưởng
bảo lãnh do sự vi phạm nghóa vụ của bên đối tác liên quan.
Thuê tài chính
Điều 20 Luật các tổ chức tín dụng có nêu: “ Cho thuê tài chính là hoạt
động tín dụng trung hạn, dài hạn trên cơ sở hợp đồng cho thuê tài sản giữa bên
cho thuê là tổ chức tín dụng với khách hàng thuê. Khi kết thúc thời hạn thuê,
khách hàng mua lại hoặc tiếp tục thuê tài sản đó theo các điều kiện đã thoả
thuận trong hợp đồng thuê. Trong thời hạn cho thuê, các bên không được đơn
phương hủy bỏ hợp đồng”.
Thực chất cho thuê tài chính là một hình thức tài trợ vốn, trong đó theo
yêu cầu sử dụng của bên đi thuê, bên cho thuê tiến hành mua tài sản và chuyển
giao cho bên đi thuê sử dụng. Nghiệp vụ này tạo điều kiện cho các doanh nghiệp
hạn hẹp về ngân quỹ có được cơ sở vật chất và thiết bò cần thiết để sử dụng,
tránh được rủi ro về tính lạc hậu của tài sản. Giao dòch cho thuê thường được


9

thực hiện nhanh chóng và linh hoạt. Bên cho thuê với tư cách là chủ sở hữu về
mặt pháp lý được quyền quản lý và kiểm soát tài sản theo các điều khoản của
hợp đồng cho thuê.
Tín dụng Bao thanh toán (Factoring)
Công ước về Factoring quốc tế của UNIDROIT 1988 đã đưa ra một khái
niệm chung: “Hợp đồng Factoring là một hợp đồng được thiết lập giữa bên cung

mại và nguyên nhân của nó
Có thể nói rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngân hàng chủ yếu tập trung
vào các lónh vực sau: rủi ro thanh khoản, rủi ro lãi suất, rủi ro tỷ giá hối đoái và
rủi ro tín dụng.
1.2.2.1. Rủi ro thanh khoản:
Đây là rủi ro do ngân hàng thiếu khả năng chi trả cho khách hàng. Nguồn
để đảm bảo tính thanh khoản chính là các chứng khoán ngắn hạn có thể dễ dàng
chuyển thành tiền nếu xét tại một thời điểm. Còn nếu xét trong một giai đoạn
nhất đònh thì nguồn này bao gồm các nguồn từ tài sản có và tài sản nợ như tiền
gởi thu vào, bán các tài sản thuộc tài sản có, các khoản cho vay được hoàn trả, đi
vay từ thò trường tiền tệ và các nguồn khác.
Rủi ro này xuất phát từ bản chất hoạt động trung gian tín dụng của
NHTM, nghóa là xuất phát từ sự chuyển hóa của các kỳ hạn sử dụng vốn và
nguồn vốn. Nó phát sinh do kỳ hạn sử dụng vốn dài hơn kỳ hạn của các nguồn
vốn.
Rủi ro thanh khoản biểu hiện trên hai mặt:
Khi ngân hàng không đủ khả năng tiền mặt để thanh toán cho người
gửi tiền khi có yêu cầu.
Khi ngân hàng phải luôn luôn quản lý tài sản nợ của mình ở trạng
thái lỏng (gần với tiền mặt hoặc dễ dàng chuyển thành tiền mặt ) để
đảm bảo khả năng thanh khoản nếu có sự không tương thích về thời
hạn của Tài sản có và Tài sản nợ.
1.2.2.2. Rủi ro lãi suất:


11

Rủi ro lãi suất là rủi ro do có sự thay đổi lãi suất thò trường, nó phát sinh
khi có sự biến động của chênh lệch lãi suất giữa lãi suất cho vay của ngân hàng
với lãi suất phải trả cho việc đi vay dẫn đến làm giảm thu nhập của ngân hàng.

Rủi ro tín dụng là khả năng tổn thất có thể xảy ra khi cấp tín dụng, biểu
hiện dưới hai hình thức:
- Rủi ro sai hẹn: là khoản tín dụng không thu hồi đúng hạn
- Rủi ro phá sản: là mất vốn tín dụng. Đây là trường hợp khách hàng
không hoàn trả được nợ do cố ý lừa đảo, hoặc do phá sản mất khả năng thanh
toán.
Loại rủi ro này có thể xuất hiện trong tất cả các loại nghiệp vụ tín dụng
của ngân hàng, kể cả chiết khấu thương phiếu (một kỹ thuật cho vay tương đối
an toàn vì thực chất đây là một dạng đặc biệt trong cho vay dựa trên tài khoản
các khoản phải thu. Chính cơ sở hàng hóa này là tiền đề để hạn chế rủi ro tín
dụng). Nếu thương phiếu được phát hành không trên cơ sở một quan hệ thương
mại của các chủ thể hợp pháp (người đi vay thông đồng với một số doanh nghiệp
khác để cho ra đời một số thương phiếu giả tạo) thì đó là tai họa cho khả năng
trả nợ trong tương lai (Tập đoàn Minh Phụng là một dẫn chứng thực tế về các
hợp đồng thương mại giả tạo).
Đó là chưa kể đến ý chí và khả năng trả nợ có thể thay đổi sau khi khoản
vay đã được thực hiện do nhiều lý do. Điều này dẫn đến hình thành các khoản
tín dụng có vấn đề hay còn gọi nợ khó đòi.
Nguyên nhân phát sinh rủi ro tín dụng
Trong hợp đồng tín dụng, chỉ cần một sự trục trặc nào đó của một trong
hai chủ thể của hợp đồng tín dụng đều có thể dẫn đến rủi ro tín dụng.
Về phía khách hàng đi vay:
Năng lực và tiến trình hoạt động kinh doanh của khách hàng đạt hiệu quả
thấp trên các mặt: tài chính (phương pháp sử dụng các nguồn vốn tự có, bảo đảm
cân đối các tài sản Nợ – Có, khả năng sinh lời và khả năng thanh toán trong mọi
tình huống), thò trường (nguồn cung ứng nguyên nhiên vật liệu, thò trường tiêu
thụ, cung cầu sản phẩm hàng hóa), quản lý kinh doanh (chất lượng bộ máy kinh


13


14

Nguyên nhân khác:
Ngoài ra, khách hàng đi vay cũng như ngân hàng đều là một bộ phận
trong tổng thể nền kinh tế cả nùc cũng như khu vực và thế giới, nên không thể
không bò ảnh hưởng của bối cảnh chung. Nghóa là cũng có thể xảy ra những rủi
ro bất khả kháng như trong trường hợp thiên tai, đòch họa hoặc do bò động theo
tình huống khủng hoảng tài chính – tiền tệ trong khu vực và thế giới, về giá cả
xuất nhập khẩu, về tỷ giá hối đoái, về thuế, về khả năng tiếp tục giải ngân các
nguồn vốn đã cam kết từ bên ngoài …
Xét từ tầm quản lý vó mô, những rủi ro trong hoạt động tín dụng đều có
liên quan chặt chẽ với chất lượng qui hoạch tổng thể, với bộ máy hoạch đònh
chính sách cụ thể và điều hành chính sách vó mô cũng như vi mô, nếu không
được thông suốt và mang tính khả thi cao thì rốt cuộc lại tập trung nguy cơ rủi ro
vào ngân hàng thương mại.
1.3. N KHÓ ĐÒI VÀ CÁC BIỆN PHÁP NGĂN NGỪA N KHÓ ĐÒI
1.3.1. Khái niệm nợ khó đòi
Nợ khó đòi là những khoản nợ mang các đặc trưng:
- Khách hàng đã không thực hiện nghóa vụ trả nợ với ngân hàng khi các
cam kết này đã hết hạn.
- Tình hình tài chính của khách hàng đang và có chiều hướng xấu dẫn tới
có khả năng ngân hàng không thu hồi được cả vốn lẫn lãi.
- Tài sản bảo đảm cho khoản tín dụng được đánh giá giá trò phát mãi
không đủ trang trải nợ gốc và lãi.
- Thường là các khoản nợ quá hạn ít nhất 90 ngày.
1.3.2. Dấu hiệu cảnh báo khoản nợ khó đòi
Nợ khó đòi không phải bất chợt phát sinh mà thực ra nó có một số dấu
hiệu báo động.
Dấu hiệu liên quan đến mối quan hệ với ngân hàng:

Những vấn đề đạo đức thậm chí dáng vẻ của nhà kinh doanh cũng biểu
hiện dấu hiệu gì đó; sự xuống cấp trông thấy của nơi kinh doanh; …


16

Trong tất cả các dấu hiệu kể trên, dấu hiệu rõ ràng và có ý nghóa nhất là
chậm thanh toán khoản vay.
1.3.3. Biện pháp ngăn ngừa nợ khó đòi
Thông qua việc phân hạng rủi ro thường xuyên, nếu thấy khoản vay có
chứa nhiều rủi ro tiềm ẩn dẫn đến có thể trở thành khoản nợ khó đòi thì ngân
hàng cần tiến hành các biện pháp ngăn ngừa, bao gồm các bước sau:
1.3.3.1. Lập kế hoạch gặp gỡ khách hàng
Trước khi gặp khách hàng, cán bộ ngân hàng phải chuẩn bò và nghiên cứu
các hồ sơ, tài liệu có liên quan, đảm bảo tính chính xác và trung thực. Trên cơ sở
đó, phải nhận đònh cho được:
- Nguyên nhân căn bản của rủi ro cao tiềm ẩn với khoản vay
- Phương án kinh doanh đang ở giai đoạn nào; vò trí của khách hàng trên
thò trường; tình hình tài chính của khách hàng.
- Các tiềm năng của khách hàng còn có thể giảm nợ (bán tài sản dư thừa,
bán máy móc, bán phần doanh nghiệp không hoạt động, bán các khoản phải thu,
…); các tiềm năng cắt giảm chi phí hoạt động.
- Tài sản bảo đảm có được thế chấp cho các khoản vay khác không.
1.3.3.2. Gặp gỡ khách hàng
Việc gặp gỡ này nhằm làm cho khách hàng biết rõ quan điểm của ngân
hàng về khoản tín dụng có vấn đề và hợp tác với khách hàng tìm biện pháp khắc
phục.
1.3.3.3. Lập phương án ngăn ngừa
Phương án này bao gồm 4 nội dung:
- Những đánh giá chính thức của ngân hàng về những khó khăn đối với

năng thanh toán toàn bộ các khoản vay nợ và do đó nó có thể được hoàn trả.
- Ngân hàng chỉ đònh một đại diện quản lý tài sản thế nợ
- Gia hạn thời gian xử lý nếu khách hàng có một hợp đồng mới đầy triển
vọng sinh lời.
1.3.4.2. Thanh lý


18

Hướng thanh lý là ép khách hàng tuân theo các điều khoản của hợp đồng
tín dụng và thực hiện tất cả các giải pháp pháp lý để đạt mục tiêu.
Biện pháp này do dùng tới luật pháp nên thường xảy ra với các thủ tục
pháp lý rắc rối, tẻ nhạt. Nó có thể bao gồm:
- Biện pháp phát mại tài sản bảo đảm.
- Biện pháp thanh lý doanh nghiệp. Việc thanh lý doanh nghiệp được thực
hiện với sự phán quyết của toà án
- Biện pháp phá sản doanh nghiệp.
Như vậy, có thể nói việc xử lý các khoản nợ khó đòi đã và đang được các
ngân hàng tìm mọi cách để thực hiện có hiệu quả nhằm cải thiện Tài sản Có và
làm đẹp “bảng tổng kết tài sản”. Nhưng điều quan trọng hơn chính là tìm giải
pháp để hạn chế nợ khó đòi. Để có thể tìm ra những giải pháp hữu hiệu, chúng
ta cần đi vào phân tích thực trạng hoạt động tín dụng với việc việc phát sinh
những khoản nợ khó đòi của các NHTM trên đòa bàn TP.HCM.


19

CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG VỚI VIỆC PHÁT SINH
NHỮNG KHOẢN N KHÓ ĐÒI CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG


1994

1995

1996

1997

1998

1999

2000

13.640,86 21.391,11 31.877,16 42.718,45 52.412,25 61.879,48 71.333,72 92.968,88

NHTMQD

7.991,01 11.292,70 14.209,60 17.707,40 22.247,20 28.633,90 32.804,00 42.922,70

NHTMCP

3.221,43 6.007,03 10.521,20 12.787,70 13.782,30 15.196,00 16.329,90 24.193,60

NHLD

1.016,74 1.830,76 2.570,64 3.307,75 3.318,65 3.077,48 2.916,12 3.143,08

NHNN

NHTMQD

960,57 1.463,11 2.026,84 1.762,60 1.374,00 1.615,47

3.229,44 4.506,70 6.389,29 8.678,94 11.181,70 10.462,42 12.435,37 16.212,67
2.179,84 2.957,60 4.004,35 5.244,90 6.211,11 6.412,72 7.115,24 9.534,60

NHTMCP

755,28

997,08 1.477,06 2.075,30 2.841,28 2.365,18 1.752,56 2.548,45

NHLD

138,66

432,07

627,73

643,47

NHNN

155,66

119,95

280,15

73,64

NHNN

56,36

405,53

323,81

785,70

570,98

751,79

627,86

721,38

712,46 1.482,59 2.132,99 2.107,54 2.951,86 3.813,41

(Nguồn: Ngân hàng Nhà nước _ Chi nhánh TP.HCM)


21

Bảng 2: Tỷ lệ % tăng giảm vốn huy động trên đòa bàn TP.HCM
Đơn vò tính: Tỷ đồng
Tỷ lệ % tăng


41,32%

25,83%

24,62%

25,64%

28,71%

14,56%

30,85%

NHTMCP

86,47%

75,15%

21,54%

7,78%

10,26%

7,46%

48,16%


60,58%

76,27%

27,92%

35,87%

13,36%

18,87%

39,18%

NHTMQD

50,92%

64,19%

15,98%

26,30%

21,26%

25,58%

35,38%


156,15%

89,04%

NHNN

159,80%

47,77% 122,71% 152,17% -10,53%

27,79%

32,09%

39,55%

41,77%

35,84%

28,84%

-6,43%

18,86%

30,38%

NHTMQD


45,28%

2,51%

25,37% -19,13%

9,65%

13,51%

NHNN

-22,94% 133,56% 155,32%

84,91% -21,96% 176,34%

16,32%

203,28% 197,07%

36,91%

13,60%

44,54%

30,31%

40,52%


680,08% 339,72% 142,64% -27,33%

31,67% -16,48%

14,90%

NHNN

619,54%

-1,19%

29,19%

TG không kỳ
hạn

TG có kỳ hạn

75,69% 108,09%

(Nguồn: Ngân hàng Nhà nước _ Chi nhánh TP.HCM)

43,87%

40,06%


22

47,38% 50,60% 66,02% 61,45% 61,78% 58,20% 63,80% 66,01%

NHTMCP

53,14% 44,38% 52,45% 54,69% 57,37% 64,22% 65,84% 68,25%

NHLD

19,51% 27,75% 37,37% 44,23% 61,07% 57,27% 47,12% 51,40%

NHNN

18,51% 30,03% 21,92% 25,06% 43,13% 33,67% 33,40% 37,47%

TG không kỳ hạn
so vốn huy động

54,21% 47,11%37,89%40,23%38,15%31,49% 31,49%29,49%

NHTMQD

57,58% 51,76% 42,68% 48,20% 45,19% 38,48% 34,00% 33,65%

NHTMCP

44,12% 37,40% 26,77% 29,68% 35,94% 24,24% 16,30% 15,43%

NHLD

69,90% 85,03% 65,35% 43,98% 39,80% 37,01% 52,06% 50,26%

23

Nguồn vốn huy động ngày càng chiếm tỷ trọng lớn hơn trong tổng nguồn
vốn (Bảng 3) và là nguồn chủ yếu để cho vay của ngân hàng. Trong năm 2000,
vốn huy động chiếm 59,13% trong tổng nguồn vốn. Giai đoạn từ 1994 đến 1997,
tỷ trọng vốn huy động trong tổng nguồn vốn của NHTM quốc doanh luôn cao
hơn của NHTM cổ phần, nhưng từ năm 1998 đến năm 2000, tỷ trọng vốn huy
động của NHTM cổ phần cao hơn của NHTM quốc doanh.
Trong nguồn vốn huy động của hệ thống NHTM, tỷ trọng tiền gởi không
kỳ hạn và tiền gởi có kỳ hạn trong vốn huy động thay đổi theo từng giai đoạn.
Những năm 1993 và 1994, tiền gởi không kỳ hạn chiếm tỷ trọng lớn hơn nhiều
so tiền gởi có kỳ hạn, nhưng từ năm 1995 đến năm 2000 thì tình hình ngược lại,
tiền gởi có kỳ hạn chiếm tỷ trọng lớn hơn (năm 2000 tiền gởi có kỳ hạn chiếm
hơn phân nửa vốn huy động _ 57,90%).
Như vậy, nhìn chung với xu thế hội nhập với ngân hàng các nước trong
khu vực và thế giới, đồng thời với sự cạnh tranh ngày càng gay gắt ngay giữa
các ngân hàng trong hệ thốâng NHTM, nguồn vốn huy động của hệ thống NHTM
đã có tăng lên và trong năm 2000 đã có cố gắng nâng cao tốc độ tăng vốn huy
động, tránh tình trạng tốc độ tăng giảm dần như các năm trước. Trong đó, ngân
hàng cũng chú ý hơn việc thu hút tiền gởi có kỳ hạn, nâng dần tỷ lệ của nguồn
này trong vốn huy động.
Tuy nhiên kết quả này vẫn còn khiêm tốn, biểu hiện ở chỗ ngân hàng
chưa khai thác được hết “nguồn tiền nằm dưới gối” (số tiền nhàn rỗi ) trong dân
cư, nhất là trong những lúc đồng nội tệ bò mất giá và lãi suất đồng nội tệ chưa
thực sự hấp dẫn nên tác động đến một bộ phận dân cư cất trữ ngoại tệ, thay vì
gửi vào ngân hàng. Ngay như những tháng vừa qua, tình hình khan hiếm tiền
đồng lại càng gây khó khăn cho công tác huy động vốn của ngân hàng hơn nữa.
Theo Báo cáo sơ kết hoạt động ngân hàng 6 tháng đầu năm 2001 trên đòa bàn
TP.HCM, vốn huy động chỉ tăng 21,2% so cùng kỳ năm trước.


hạn cho vay.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status