1
MỘT SỐ GIẢI PHÁP HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG CỦA CÁC
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TRÊN ĐỊA BÀN BÌNH PHƯỚC
3.1 Định hướng phát triển kinh tế - xã hội Bình Phước đến năm 2020
3.1.1 Quan điểm phát triển và mục tiêu tổng quát
Phát triển kinh tế nhanh và bền vững, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao
động, phát triển đô thị theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Xây dựng Bình Phước
trở thành Tỉnh có kinh tế phát triển toàn diện, xã hội văn minh, môi trường sinh thái
được bảo vệ, an ninh, quốc phòng được giữ vững; phấn đấu trở thành tỉnh phát triển
mạnh trong khu vực và cả nước.
3.1.2 Mục tiêu cụ thể phát triển kinh tế - xã hội Bình Phước đến năm 2020
Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) bình quân 14% - 15%/năm thời kỳ 2006 -
2010, 15,5%/năm thời kỳ 2011 - 2015 và 13,5%/năm thời kỳ 2016 - 2020.
GDP bình quân đầu người đạt 560 - 600 USD vào năm 2010 và 1.628 USD vào
năm 2020 (theo giá thực tế).
Cơ cấu kinh tế chuyển đổi theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ. Giai
đoạn 2006 - 2010, tốc độ tăng trưởng bình quân ngành công nghiệp - xây dựng là
29,3%/năm, giai đoạn 2011 - 2015 là 21,9%/năm và giai đoạn 2016 - 2020 là
16,3%/năm, tương ứng với cơ cấu kinh tế sau: Năm 2010: ngành nông, lâm, ngư nghiệp
chiếm 42,9%, công nghiệp - xây dựng 28,8% và dịch vụ 28,3% trong GDP; Năm 2020
tương ứng là: 19,5%, 43% và 37,5%.
Kim ngạch xuất khẩu năm 2010 đạt 410 triệu USD và năm 2020 là 2.700 triệu
USD. Thu ngân sách đến năm 2010 đạt 1.500 - 1.600 tỷ đồng và năm 2020 đạt 6.370 tỷ
đồng.
Huy động nguồn vốn đầu tư toàn xã hội cho phát triển kinh tế - xã hội bình quân
hàng năm chiếm 20% GDP.
Đinh hướng phát triển kinh tế - xã hội Bình Phước đến năm 2020
Nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ sản: Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp
và kinh tế nông thôn theo hướng sản xuất hàng hoá. Đẩy nhanh tiến trình công nghiệp
hoá - hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn. Phát triển nông nghiệp theo hướng thâm
1
kiểm soát lạm phát, bảo đảm an toàn hệ thống tiền tệ – ngân hàng, góp phần tạo dựng
môi trường vĩ mô thuận lợi cho tăng trưởng kinh tế và xóa đói giảm nghèo.
Đổi mới cơ cấu tổ chức của NHNN từ trung ương xuống các chi nhánh theo
hướng tinh gọn, chuyên nghiệp, có đủ nguồn lực và khả năng xây dựng, thực thi chính
2
2
3
sách tiền tệ theo nguyên tắc thị trường dựa trên cơ sở công nghệ tiên tiến, thực hiện các
thông lệ, chuẩn mực quốc tế về hoạt động NHTW, hội nhập với cộng đồng tài chính
quốc tế. Sắp xếp lại các doanh nghiệp trực thuộc NHNN theo hướng chỉ giữ lại Nhà
máy In tiền Quốc gia.
Điều hành chính sách tiền tệ theo nguyên tắc thận trọng, linh hoạt và hiệu quả
trên nền tảng các công cụ CSTT hiện đại và công nghệ tiên tiến, xây dựng và thực thi
chính sách tiền tệ theo nguyên tắc thị trường, từng bước nâng cao tính chuyển đổi của
VND.
Tăng cường hiệu lực của NHNN về quản lý, giám sát các giao dịch ngoại hối, tự
do hóa giao dịch vãng lai và từng bước nới lỏng kiểm soát các giao dịch vốn một cách
thận trọng, phù hợp với lộ trình mở cửa thị trường tài chính. Tăng nhanh dự trữ ngoại
hối Nhà nước, thực hiện có hiệu quả cơ chế tỷ giá hối đoái linh hoạt theo cơ chế thị
trường.
Xây dựng hệ thống giám sát ngân hàng hiện đại và hiệu quả, cả về thể chế, mô
hình tổ chức, nguồn nhân lực và phương pháp thanh tra giám sát nhằm đáp ứng yêu cầu
thực tế về phát triển hệ thống ngân hàng, thực hiện đúng các nguyên tắc và chuẩn mực
quốc tế về giám sát ngân hàng. Thành lập cơ quan giám sát an toàn hoạt động ngân hàng
thuộc NHNN trên cơ sở Thanh tra NHNN hiện nay, đảm bảo sau năm 2010 sẽ xây dựng
được cơ quan giám sát tài chính tổng hợp, đồng thời hoàn thiện các điều kiện cho một
hệ thống giám sát có hiệu quả, đổi mới và nâng cao hiệu quả của các phương pháp giám
sát ngân hàng.
3.2.2 Đối với các TCTD
Cải cách triệt để và phát triển hệ thống các TCTD theo hướng đa năng, hiện đại,
hình dịch vụ mới với hàm lượng công nghệ cao.
3.2.3 Về hội nhập kinh tế quốc tế
Trên cơ sở lộ trình mở cửa dịch vụ ngân hàng và hội nhập quốc tế, hệ thống pháp
luật ngân hàng của Việt Nam cũng sẽ được sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện theo hướng
phù hợp với các cam kết trong đàm phán gia nhập WTO và các thông lệ chuẩn mực
quốc tế trong hoạt động ngân hàng, cụ thể là:
- Xây dựng và điều chỉnh, bổ sung các quy định pháp lý về cấp phép thành lập và
tổ chức hoạt động ngân hàng theo hướng không phân biệt đối xử, phù hợp với các cam
kết và lộ trình gia nhập WTO;
- Rà soát danh mục các dịch vụ tài chính – ngân hàng theo phụ lục về dịch vụ tài
chính – ngân hàng của GATS và thông lệ quốc tế. Trước mắt, sửa đổi, bổ sung Nghị
định 82 về mức vốn pháp định của TCTD và Nghị định 49 về tổ chức và hoạt động của
NHTM.
4
4
5
Đối chiếu với yêu cầu, thách thức của việc hội nhập kinh tế quốc tế và gia nhập
WTO, ngành Ngân hàng còn rất nhiều việc phải làm. Do vậy, ngành Ngân hàng cần phải
tập trung phấn đấu hoàn thành tốt các kế hoạch và mục tiêu của chính sách tiền tệ, triển
khai tích cực và có hiệu quả các đề án cải cách và đổi mới hệ thống ngân hàng Việt
Nam, tiếp tục hoàn thiện và thực thi Chiến lược phát triển và hội nhập quốc tế của
ngành, nhằm đem lại lợi ích tối đa cho sự nghiệp phát triển kinh tế của đất nước và của
hệ thống Ngân hàng Việt Nam.
3.3 Định hướng phát triển các ngân hàng thương mại Bình Phước đến năm 2020
Căn cứ mục tiêu chiến lược và nhiệm vụ phát triển hệ thống NHTM Việt Nam
đến năm 2020, kế hoạch phát triển kinh tế xã hội Bình Phước, các NHTM Bình Phước
đề ra mục tiêu phát triển cụ thể như sau:
3.3.1 Mục tiêu định hướng
Tiếp tục đổi mới các mặt hoạt động ngân hàng theo định hướng của nhà nước và
của ngành trong từng thời kỳ. Phát triển các NHTM trên địa bàn hoạt động an toàn, hiệu
Tăng cường đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý trung gian nhằm nâng cấp các kỹ
năng lập kế hoạch phát triển kinh doanh, đánh giá và phân tích cạnh tranh, quản trị rủi
ro và quản trị nhân sự.
3.4 Những giải pháp ở cấp độ vĩ mô
3.4.1 Giải pháp từ chính phủ
3.4.1.1 Lựa chọn cấp độ độc lập tự chủ cho phù hợp với NHNN thời kỳ mới:
Hiện tại, NHNN thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tiền tệ và hoạt động
ngân hàng; là ngân hàng phát hành tiền, ngân hàng của các tổ chức tín dụng và ngân
hàng làm dịch vụ tiền tệ cho Chính phủ. Chính phủ là nơi quyết định chính sách (cả về
mục tiêu lẫn chỉ tiêu hoạt động) cũng như can thiệp vào quá trình triển khai thực thi
chính sách tiền tệ. Đây là một trong những nguyên nhân làm hạn chế hiệu quả hoạt động
của NHTW, nhất là trong việc thực hiện mục tiêu ổn định giá trị đồng tiền và gây chậm
trễ trong chính sách, không phù hợp tình hình thực tế.
NHNN Việt Nam cần được trao quyền độc lập, tự chủ hơn trong việc đưa ra các
quyết định chính sách mà không có sự can thiệp từ phía các cơ quan nhà nước hay các
áp lực chính trị; đồng thời được quyền kiểm soát tất cả các công cụ có ảnh hưởng tới
các mục tiêu của chính sách tiền tệ, nhất là về vấn đề chống lạm phát, hạn chế việc tài
trợ trực tiếp cho thâm hụt ngân sách của Chính phủ. Bên cạnh đó, cũng cần trao cho
NHNN quyền chủ động quyết định về tài chính, tức là tự chủ về ngân sách. Có như vậy
6
6
7
thì NHNN mới có đủ nguồn lực để thực thi chức năng, nhiệm vụ một cách có hiệu quả
nhất.
3.4.1.2 Chính phủ nên kịp thời hỗ trợ Trung tâm thông tin tín dụng (TTTTTD) tư
nhân ra đời
Hiện nay TTTTTD Nhà nước mới thu thập về các khoản cho vay lớn của các
ngân hàng mà không đủ khả năng để theo dõi các khoản vay nhỏ hơn cho các DNV&N
hoặc cho vay tiêu dùng. Nước ta chưa có trung tâm TTTD tư nhân. Tốc độ tăng trưởng
nhanh của tín dụng tiêu dùng, đặc biệt là thẻ tín dụng càng đòi hỏi về thông tin tín dụng
gia. Hoạt động này trên thế giới thông suốt là do những quốc này có một hệ thống pháp
lý hoàn hảo và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho thị trường này phát triển như nhân lực có
tay nghề cao, cung cấp dịch vụ bài bản...
Trong thời điểm nền kinh tế đang đối mặt với nhiều khó khăn, Chính phủ nên
dành sự ưu đãi và quan tâm đầu tư cho lĩnh vực mua bán nợ, đặc biệt là mua bán nợ xấu
ngân hàng: Nhà nước cần đưa ra các cơ chế chính sách rõ ràng, cải tiến và đơn giản hóa
các thủ tục hành chính, giảm bớt chi phí xử lý nợ giữa ngân hàng và các doanh nghiệp,
nhằm làm lành mạnh mạch máu cho nền kinh tế, góp phần thúc đẩy sự tăng trưởng của
nền kinh tế Việt Nam.
3.4.1.4 Đề nghị sửa điều 476 trong Bộ luật dân sự liên quan đến quy định về trần lãi suất:
Tại Điều 476 của Bộ Luật dân sự có quy định “Lãi suất vay do các bên thỏa
thuận nhưng không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do NHNN công bố đối với
loại cho vay tương ứng”. Mục tiêu chính của quy định này là nhằm ngăn chặn việc cho
vay nặng lãi trong nền kinh tế, thường xảy ra trong quan hệ giữa dân với dân và để tạo
ra căn cứ cho tòa án xét xử khi có tranh chấp xảy ra.
Tuy nhiên, quy định trên trong thực tế vẫn được hiểu là áp dụng để xử lý lãi suất
cho vay cho các TCTD, mặc dù hoạt động của TCTD được điều chỉnh bởi 2 Luật
NHNN và Luật TCTD. Bốn lý do để bỏ bỏ trần lãi suất:
- Thứ nhất, việc khống chế trần lãi suất cho vay như thời gian qua là một biện
pháp can thiệp hành chính không phù hợp với nền kinh tế thị trường, làm hạn chế sự chủ
động và linh hoạt của các NHTM trong vấn đề huy động vốn và cho vay, vì lãi suất (giá
cả) hình thành dựa trên quan hệ cung cầu vốn của thị trường
- Thứ hai, việc khống chế trần lãi suất cho vay tức là đánh đồng lãi suất của các
loại hình tín dụng làm cho các ngân hàng rất khó đa đạng hóa các sản phẩm dịch vụ, vì
mỗi loại hình tín dụng có mức độ rủi ro khác nhau, chi phí khác nhau.
- Thứ ba, để kiểm soát sự biến động bất thường của lãi suất trên thị trường tiền
tệ, NHNN đã có các công cụ để kiểm soát như lãi suất tái chiết khấu, lãi suất tái cấp
8
8
9
gia, điều hành thị trường tiền tệ;
9
9
10
- Đổi mới cơ cấu tổ chức của NHNN từ trung ương đến chi nhánh theo hướng
tinh gọn và hiện đại, đảm bảo cho NHNN gánh vác trọng trách trong việc tạo lập môi
trường hoạt động thông thoáng và thuận lợi cho các tổ chức tài chính hoạt động trên
lãnh thổ Việt Nam;
- Xây dựng và thực thi chính sách tiền tệ theo nguyên tắc thị trường.
- Tiếp tục hiện đại hệ thống thanh toán nhằm tăng cường tính tiện ích của dịch
vụ NH cung cấp, tăng nhanh tỷ trọng thanh toán không dùng tiền mặt và thanh toán qua
ngân hàng, góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế và hiệu quả hoạt động ngân hàng,
NHNN có thể kiểm soát được lượng tiền trong lưu thông và giảm thiểu rủi ro tài chính.
3.4.2.2 Cải cách toàn diện hệ thống thanh tra, giám sát ngân hàng
Cải cách toàn diện hệ thống thanh tra, giám sát ngân hàng nhằm đáp ứng yêu cầu
thực tế về phát triển hệ thống ngân hàng Việt Nam và phù hợp với các nguyên tắc,
chuẩn mực quốc tế về giám sát ngân hàng. Đổi mới mô hình tổ chức bộ máy Thanh tra,
đổi mới hoạt động và quy trình thanh tra - giám sát theo hướng nâng cao năng lực, chất
lượng thanh tra - giám sát, đảm bảo tôn trọng tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ
chức tín dụng, kiểm soát được chất lượng hoạt động nhằm mục đích an toàn của từng tổ
chức tín dụng và an toàn hệ thống. Phấn đấu đến năm 2010, hệ thống giám sát an toàn
hoạt động ngân hàng Việt Nam đáp ứng căn bản các chuẩn mực quốc tế về giám sát
ngân hàng, cụ thể:
- Thứ nhất, cần bổ sung các yêu cầu về tính minh bạch và chế độ báo cáo, đặc
biệt đối với chế độ kiểm toán hai lần một năm.
- Thứ hai, tăng cường tái cơ cấu các cơ quan giám sát tài chính hiện tại, bao gồm,
cơ quan giám sát trong lĩnh vực bảo hiểm, ngân hàng và chứng khoán để hướng tới một
hệ thống giám sát tích hợp và độc lập. Về giám sát bảo hiểm, cần tái cơ cấu hoa hồng
bảo hiểm. Văn phòng giám sát cần được thành lập tại NHNN kết hợp với các phòng
chức năng cùng với chức năng chống rửa tiền.
và bí mật kinh doanh, bí mật riêng tư của doanh nghiệp, của cá nhân. Đây là một lĩnh
vực còn mới mẻ đối với Việt Nam, vì vậy việc tham khảo kinh nghiệm quốc tế là rất cần
thiết để chúng ta lựa chọn được mô hình phù hợp với điều kiện của Việt Nam mà vẫn
đáp ứng được các yêu cầu thông lệ quốc tế tiên tiến cần thiết để hội nhập.
NHNN có thể xem việc lập trung tâm TTTD tư nhân ở Singapore: mô hình trung
tâm TTTD tư nhân ở Singapore là 75% cổ phần do một công ty tư nhân nắm giữ, 25%
còn lại do một hiệp hội tài chính nắm giữ để các ngân hàng hội viên đều có lợi ích trong
trung tâm này, qua đó đảm bảo sự cam kết của các ngân hàng trong việc trao đổi thông
11
11