Xây dựng chiến lược cạnh tranh đấu thầu tại các công ty TNHH xây dựng TP HCM 2010 - Pdf 47

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM

HÀ THỊ MINH CHÂU

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP. Hồ Chí Minh – Năm 2000


Luận văn Thạc só kinh tế

Hà Thò Minh Châu

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CHIẾN LƯC CẠNH TRANH VÀ NGÀNH XÂY DỰNG
Chương này đề cập đến những nền tảng lý thuyết chủ yếu được dùng để phân tích thực trạng đấu thầu xây dựng tại
các công ty TNHH xây dựng, từ đó thiết kế chiến lược cạnh tranh. Nội dung chương 1 bao gồm cơ sở lý luận về chiến
lược cạnh tranh và ngành xây dựng.
1.1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM CHUNG
Trong nền kinh tế thò trường, cạnh tranh giữa các doanh nghiệp diễn ra thường xuyên và ngày càng trở nên quyết
liệt. Như quy luật đấu tranh sinh tồn của giới tự nhiên, cạnh tranh được xem là động lực phát triển của nền kinh tế.
Tuy nhiên, cạnh tranh trong kinh doanh không phải là hoạt động tự phát mà thường đi theo một phương thức riêng
được mỗi doanh nghiệp vạch ra. Đó chính là chiến lược cạnh tranh. Trước khi đi vào chi tiết vấn đề này, việc tìm
hiểu các khái niệm cơ bản sau là cần thiết.
• Cạnh tranh (Competition)
Sự đối nghòch giữa các doanh nghiệp kinh doanh trên cùng một thò trường để giành được nhiều khách hàng, do
đó nhiều lợi nhuận hơn cho bản thân doanh nghiệp thường là cách bán theo giá cả thấp nhất hay cung cấp một
chất lượng hàng hóa tốt nhất.
• Chiến lược (Strategy)
Cách thức theo đó doanh nghiệp cố gắng thực sự để có một sự khác biệt rõ ràng so với đối thủ cạnh tranh, tận

tiêu về
tăn g lợi
nhuận, thò
phần,
trách
nhiệm xã
hội

Tiêu thụ

Phân phối

Sản xuất

Mua vật tư
Lao động

Như vậy, hoạch đònh chiến lược cạnh tranh không chỉ được hiểu trong giới hạn của việc xây dựng một chiến lược
“đặc thù” hay “chuyên sâu”, mang tính chất đơn lẻ để đạt đến một mục tiêu nhất đònh, mà với ý nghóa tổng quát
hơn, chiến lược cạnh tranh chính là một mô hình tổng thể về việc doanh nghiệp sẽ cạnh tranh như thế nào, mục
tiêu là gì và những chính sách cần có để thực hiện mục tiêu đó. Vì thế, chiến lược cạnh tranh phải là một chiến
lược tổng hợp, có tính chất đa chiều và liên quan đến tất cả các hoạt động chủ yếu nhằm đạt được mục tiêu dài hạn
của doanh nghiệp.
1.2 MÔI TRƯỜNG CẠNH TRANH
Điểm cốt yếu của việc xây dựng chiến lược cạnh tranh là liên hệ công ty với môi trường. Mặc dù môi trường liên
quan rất rộng, bao gồm tất cả các lực lượng kinh tế lẫn xã hội, nhưng mảng quan trọng nhất vẫn là ngành kinh tế
nơi các hoạt động cạnh tranh của công ty đang diễn ra hay còn gọi là môi trường ngành. Phân tích cấu trúc ngành
mang tính chiến lược rất hữu ích trong việc quản trò chiến lược của công ty. Sau đây là “Mô hình 5 áp lực cạnh
tranh” của Michael E. Porter_một phương pháp phân tích ngành rất quan trọng khi xây dựng chiến lược cạnh tranh.
Theo M.E.Porter, hiện trạng cạnh tranh trong một ngành phụ thuộc vào năm lực lượng cơ bản sau:

tăng lợi thế cạnh tranh sẽ góp phần làm giảm áp lực cạnh tranh đối với công ty. Lợi thế cạnh tranh được đònh nghóa
là những thế mạnh hay năng lực phân biệt của công ty mà khách hàng xem trọng và đánh giá cao vì chúng tạo ra
giá trò cao cho khách hàng. Thích ứng với cạnh tranh đòi hỏi phải sáng tạo và khai thác lợi thế cạnh tranh một cách
nhạy bén và chính xác. Công ty có thể tạo ra lợi thế cạnh tranh thông qua nhiều khía cạnh khác nhau:
• Tích lũy tài sản vô hình
Tài sản vô hình là nguồn lợi thế cạnh tranh quan trọng nhất và là chìa khóa của công ty để thích nghi với môi
trường kinh doanh. Đây chính là lòng tin của khách hàng đối với công ty cũng như với sản phẩm và dòch vụ, là
giá trò mà công ty đã cố gắng tích lũy qua một quá trình lâu dài. Tài sản vô hình khó tích lũy, có khả năng đa
dụng và là đầu vào, đầu ra trong các hoạt động kinh doanh nên là lợi thế cạnh tranh hiệu quả nhất. Tài sản vô
hình có thể được tích lũy bằng cách trực tiếp (quảng cáo...) và gián tiếp (tích lũy qua hoạt động hằng ngày
bằng chính giá trò của sản phẩm). Việc tích lũy tài sản vô hình qua cách gián tiếp có thể sẽ lâu hơn cách trực
tiếp nhưng thường đáng tin cậy và vững chắc hơn.
• Chu kỳ sử dụng khí giới cạnh tranh
Trong bất cứ tuyến thò trường hay sản phẩm nào, khí giới cạnh tranh thích hợp thay đổi theo thời gian. Thông
thường sản phẩm được xem là khí giới ưu tiên nhất, sau đó đến các dòch vụ phụ và sau cùng là giá cả. Vì vậy
công ty cần tập trung khai thác khí giới lợi hại nhất là sản phẩm và các dòch vụ phụ. Trong hầu hết các ngành
công nghiệp, cạnh tranh về giá được xem là biện pháp nghèo nàn nhất vì làm giảm khả năng sinh lời, ngoại trừ
một số trường hợp cần thiết. Tuy nhiên, đối với các công ty mới thành lập hay muốn xâm nhập thò trường mới,
thường áp dụng chu kỳ khác hẳn, khởi hành từ giá sau đó đến sản phẩm rồi mới đến dòch vụ. Do vậy, công ty
cần chú ý chọn lựa chu kỳ sử dụng khí giới cạnh tranh thích hợp để tạo ra lợi thế cạnh tranh hữu hiệu nhất.
• Tập trung vào các yếu tố then chốt (KFS)
Yếu tố then chốt (Key factors for success) là các yếu tố quan trọng nhất tạo nên sự thành công của một công
ty, khi chúng được kiểm soát và sử dụng một cách có hiệu quả. Như vậy, tập trung vào các yếu tố then chốt
chính là tập trung tất cả các nguồn lực vào một lónh vực riêng biệt nào đó mà công ty xác đònh có cơ hội để đạt
được lợi thế chiến lược có ý nghóa nhất so với các đối thủ cạnh tranh. Từ đó, công ty sẽ đưa ra các đònh hướng
cơ bản cho hoạt động của mình. Tuy nhiên, việc xác đònh các yếu tố then chốt cho thành công không phải bao
giờ cũng dễ dàng. Về cơ bản, có hai cách tiếp cận. Cách thứ nhất là phân tích, mổ xẻ thò trường một cách đầy
sức tưởng tượng để từ đó xác đònh các lónh vực then chốt. Cách thứ hai là phát hiện ra những điểm gì làm phân
biệt giữa công ty thành công và công ty thất bại trên thò trường, sau đó phân tích sự khác biệt này giữa chúng.
Việc xác đònh tập trung một cách có hiệu quả toàn bộ nguồn lực của công ty vào các yếu tố then chốt sẽ đem

vụ phù hợp với các nhu cầu rất khác biệt của khách hàng. Do đó, công ty cần phải “cắt lát” và “tái cắt lát” thò
trường, xác đònh được một hay nhiều loại khách hàng trong toàn bộ thò trường và tập trung mọi nỗ lực của công
ty vào việc đáp ứng cho các nhóm khách hàng khác nhau. Như vậy, việc hiểu rõ tường tận mong muốn của
khách hàng chính là cơ sở cho việc cá nhân hóa sản phẩm thành công.
Quan tâm đến khách hàng
Chiến lược dựa trên khách hàng là cơ sở cho mọi chiến lược. Quan tâm đến những yêu cầu và phản ứng nhanh
chóng để thỏa mãn nhu cầu của khách hàng sẽ dẫn đến nhiều lợi thế và thực sự là một yếu tố rất quan trọng
trong lợi thế cạnh tranh. Cụ thể như việc tổ chức tốt nguồn thông tin từ khách hàng sẽ giúp công ty xác đònh
chính xác các nhu cầu và thò hiếu của khách hàng, hiểu rõ được những sai sót của bản thân sản phẩm để nhanh
chóng khắc phục. Và thú vò nhất là các ý kiến phản hồi từ khách hàng có thể trở thành ý tưởng cho những
thành công sau này của công ty.
Phân phối sản phẩm theo đơn đặt hàng
Rút ngắn thời gian từ khi nhận được đơn đặt hàng đến khi giao sản phẩm cho khách hàng có ý nghóa rất lớn
trong việc thu hút và giữ vững khách hàng, góp phần làm giảm chi phí và giá cả cạnh tranh. Điều này càng
quan trọng đối với các sản phẩm theo mùa hoặc có tính thời trang.
Điều chỉnh hoạt động marketing
Thò trường luôn thay đổi và thay đổi rất nhanh nên việc điều chỉnh các hoạt động marketing cho phù hợp với
những thay đổi của thò trường có hiệu quả rất lớn trong cạnh tranh.

1.3.2 Các chiến lược cạnh tranh
Lợi thế cạnh tranh được thể hiện dưới hai hình thức cơ bản là chi phí thấp hoặc khác biệt hóa. Kết hợp hai hình
thức này với phạm vi hoạt động của công ty sẽ hình thành nên ba chiến lược cạnh tranh chung: chiến lược chi phí
thấp, chiến lược khác biệt hóa và chiến lược tập trung.
• Chiến lược chi phí thấp
Mục tiêu của chiến lược này là công ty tạo ra sản phẩm và dòch vụ với chi phí thấp nhất so với đối thủ cạnh
tranh. Do chi phí thấp, công ty có thể bán sản phẩm với giá thấp hơn đối thủ cạnh tranh mà vẫn giữ nguyên
mức lợi nhuận. Trong trường hợp đối thủ cạnh tranh bán ở cùng mức giá thì các công ty có chi phí thấp hơn sẽ
đạt được mức lợi nhuận cao hơn. Mặt khác, nếu xảy ra chiến tranh giá cả khi ngành kinh doanh đi vào giai
đoạn trưởng thành thì công ty có chi phí thấp hơn sẽ chòu đựng cạnh tranh tốt hơn. Ngoài ra chiến lược chi phí
thấp giúp công ty dễ dàng chòu đựng được khi có sức ép tăng giá của các nhà cung cấp.

tranh. Phân tích môi trường ngành giúp công ty hiểu rõ được các áp lực cạnh tranh. Tuy nhiên cấu trúc ngành luôn
thay đổi và là những thay đổi căn bản. Do vậy, sự tiến hóa của ngành có tầm quan trọng đặc biệt trong việc xây
dựng chiến lược. Trước khi đi vào giai đoạn xây dựng chiến lược, việc tìm hiểu ảnh hưởng vòng đời phát triển
ngành đối với chiến lược là rất cần thiết.
• Ảnh hưởng của vòng đời phát triển ngành
Vòng đời phát triển ngành trải qua bốn giai đoạn phát triển và tại mỗi giai đoạn, bản chất cạnh tranh cũng sẽ
khác nhau. Đó là giai đoạn giới thiệu, tăng trưởng, bảo hòa và suy thoái. Ở giai đoạn giới thiệu, công ty có thể
sử dụng chiến lược xây dựng thò phần và chiến lược chi phí thấp. Trong giai đoạn tăng trưởng các công ty cần
củng cố vò thế cạnh tranh bằng các chiến lược marketing, chiến lược sản phẩm, và nếu có thể phát triển và mở
rộng thò trường. Vào giai đoạn trưởng thành, công ty có thể lựa chọn chiến lược khai thác tối đa lợi nhuận,
chiến lược tập trung khác biệt hóa, chiến lược gặt hái ngay hay chiến lược thanh lý và rút lui khỏi ngành. Cuối
cùng là giai đoạn suy thoái, các chiến lược tập trung củng cố thò trường, chiến lược thu hoạch và chiến lược
chuyển hướng kinh doanh cần được vận dụng. Mô hình vòng đời phát triển ngành chỉ mang tính chất tổng quát.
Trong thực tế mô hình này không nhất thiết phải trải qua đủ bốn giai đoạn nêu trên. Công ty cần nghiên cứu kỹ
các giai đoạn phát triển ngành để có thể xây dựng các chiến lược cạnh tranh thích hợp và thành công.


Xây dựng chiến lược cạnh tranh
Theo M.E.Porter việc xây dựng chiến lược có thể được thể hiện dưới hình thức so sánh các điểm mạnh và
điểm yếu của công ty, đặc biệt là những khả năng nổi bật để tìm ra các cơ hội và rủi ro trong môi trường kinh
doanh. Các nguyên tắc phân tích môi trường giúp công ty có được đề cương xác đònh một cách có hệ thống
những điểm mạnh và điểm yếu chủ chốt của công ty, khi xét tương đối với các đối thủ cạnh tranh. Trên cơ sở
này, công ty có thể xác đònh chiến lược cạnh tranh thích hợp và thành công. Các chiến lược cạnh tranh chung
cũng như một số phương pháp khai thác lợi thế cạnh tranh đã trình bày ở phần trên thể hiện cách tiếp cận tổng
quát đối với việc xác đònh vò trí chiến lược thành công cho công ty. Quy trình quản trò chiến lược cạnh tranh
bao gồm ba giai đoạn chính sau: thiết kế chiến lược, thực hiện chiến lược và đánh giá chiến lược.

1.5 TỔNG QUAN VỀ NGÀNH XÂY DỰNG
Xây dựng cơ bản là một trong những lónh vực sản xuất vật chất quan trọng của nền kinh tế quốc dân. Với chức
năng tái sản xuất tài sản cố đònh cho các ngành, lónh vực của nền kinh tế thông qua hoạt động đầu tư vốn, thiết kế

• Tình hình và điều kiện sản xuất thiếu tính ổn đònh, luôn biến đổi theo đòa điểm và giai đoạn xây dựng. Do vậy,
tổ chức sản xuất xây dựng phải chú ý tăng cường tính cơ động và linh hoạt, thích ứng với từng đòa điểm và giai
đoạn cụ thể như phải lựa chọn phương án, hình thức tổ chức sản xuất, vận chuyển, vùng hoạt động, lợi dụng và
liên kết tối đa với lực lượng xây dựng tại chỗ để giảm chi phí khi lập giá đấu thầu.
• Thời gian xây dựng công trình thường kéo dài làm cho chu kỳ sản xuất xây dựng lớn hơn chu kỳ sản xuất công
nghiệp, dẫn đến tình trạng ứ đọng vốn trong khối lượng thi công dở dang. Ngoài ra, các doanh nghiệp xây dựng
dễ gặp phải các rủi ro ngẫu nhiên theo thời gian như biến động kinh tế, khoa học kỹ thuật, thiên nhiên... làm
gia tăng chi phí sản xuất và giá thành công trình. Do đó, các doanh nghiệp cần chọn lựa trình tự thi công hợp
lý, phối hợp khéo léo giữa các hạng mục công trình nhằm hạn chế tối đa “thời gian chết”, chú ý nhân tố thời
gian khi lựa chọn phương án xây dựng, phương thức thanh toán và kiểm tra chất lượng công trình, nhất là khi
soạn thảo hồ sơ đấu thầu…
• Quá trình sản xuất xây dựng rất phức tạp, các đơn vò tham gia phải cùng kéo đến hiện trường thi công trên một
diện tích có hạn để thực hiện phần việc theo một trình tự nhất đònh về thời gian và không gian. Đặc điểm này
đòi hỏi các đơn vò phải có trình độ tổ chức, phối hợp cao, coi trọng công tác chuẩn bò và thiết kế tổ chức thi
công, liên kết chặt chẽ giữa các đơn vò tổng thầu (thầu chính) và các thầu phụ.
• Quá trình sản xuất xây dựng chòu nhiều ảnh hưởng của điều kiện đòa lý, tự nhiên, đòa chất làm gián đoạn quá
trình thi công, năng lực của các tổ chức xây dựng không được sử dụng điều hòa theo bốn q, chất lượng công
trình bò thay đổi. Vì vậy, doanh nghiệp cần sắp xếp, chọn lựa phương pháp thi công hợp lý, đẩy nhanh tiến độ,
quan tâm đến nhân tố rủi ro của thời tiết khi đấu thầu.
• Sản xuất xây dựng còn bò tác động bởi lợi nhuận chênh lệch do điều kiện của đòa điểm xây dựng đem lại. Cùng
một loại công trình nhưng nếu được đặt tại nơi có sẵn nguồn nguyên vật liệu, máy móc thiết bò cho thuê và lực
lượng nhân công thì doanh nghiệp có nhiều cơ hội hạ thấp chi phí và thu được lợi nhuận cao hơn.
Tất cả các đặc điểm trên ảnh hưởng đến mọi khâu của quá trình sản xuất kinh doanh xây dựng nói riêng và đến lý
thuyết kinh tế thò trường áp dụng cho lónh vực xây dựng nói chung.
1.5.1.2 Đặc điểm kinh tế cơ bản của thò trường ngành xây dựng
Xuất phát từ những đặc điểm riêng của sản phẩm và quá trình sản xuất xây dựng, thò trường xây dựng được hiểu là
nơi gặp gỡ giữa sự chào hàng về khả năng và kết quả xây dựng của các doanh nghiệp (bên cung_người bán sản
phẩm xây dựng) và nhu cầu xây dựng của các chủ đầu tư (bên cầu_người mua sản phẩm xây dựng) nhằm đi đến ký
kết hợp đồng xây dựng giữa người mua và người bán công trình. Thò trường ngành xây dựng có những đặc điểm
chính sau:

Quá trình cung và cầu trong xây dựng xảy ra tương đối không liên tục như các ngành khác nên hoạt động xây
dựng chỉ xảy ra một cách gián đoạn và phụ thuộc vào chu kỳ khủng hoảng kinh tế. Thò trường xây dựng phụ
thuộc chặt chẽ vào thò trường đầu tư, nhất là vào lãi suất tín dụng và mức thu lợi đạt được của đầu tư.
Không có giá cả thống nhất cho sản phẩm xây dựng nên các chính sách và chiến lược giá thường khó linh hoạt
và không quan trọng bằng các ngành khác.
Marketing được tiến hành cá biệt cho từng trường hợp đấu thầu và không tiến hành hàng loạt. Quảng cáo xây
dựng thực hiện chủ yếu thông qua các thành tích công trình đã đạt được. Ngoài ra chiến lược ngoại giao có vai
trò đặc biệt quan trọng trong hoạt động tìm kiếm khách hàng và nghiệm thu công trình.
Vai trò của Nhà nước đối với ngành xây dựng tương đối lớn hơn so với các ngành khác vì liên quan đến vấn đề
sử dụng đất đai, bảo vệ môi trường và ngân sách Nhà nước đầu tư cho các công trình phục vụ công cộng tương
đối cao.

Những đặc điểm của sản phẩm xây dựng nói riêng và của thò trường xây dựng nói chung có tác động không nhỏ
đến quá trình tổ chức sản xuất và quản lý ngành. Việc tìm hiểu các đặc trưng này sẽ giúp doanh nghiệp xây dựng
có một tầm nhìn chiến lược trong quá trình sản xuất kinh doanh, đặc biệt là trong hoạt động đấu thầu cạnh tranh.
1.5.2 Tình hình hoạt động ngành xây dựng TP.HCM
1.5.2.1 Vai trò của ngành xây dựng đối với nền kinh tế quốc dân
Trong thời gian qua, xây dựng là một trong những ngành kinh tế quốc dân có tốc độ tăng trưởng khá cao (giai đoạn
1995-1998 là 25%) nên những dòch vụ có liên quan đến xây dựng đều có cơ hội phát triển mạnh. Các dự án đầu tư
trực tiếp của nước ngoài cũng như trong nước đã thực hiện một khối lượng xây dựng cơ bản rất lớn, đó là những tác
nhân góp phần nâng cao cả về chất lượng lẫn số lượng cho lónh vực xây dựng nước ta.
Có thể nói, xây dựng là lónh vực chòu tác động mạnh nhất từ sự tăng trưởng với tốc độ cao của nền kinh tế. Từ năm
1992 đến nay, lónh vực xây dựng luôn có tốc độ tăng trưởng cao hơn so với tốc độ phát triển GDP. Cũng giống như
ở nhiều nước, trong giai đoạn đầu của sự phát triển, các nước đều có nhu cầu rất lớn về đầu tư xây dựng cơ sở hạ
tầng và các công trình công nghiệp… Trong giai đoạn nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, nước ta chỉ tập trung đầu
tư xây dựng ngành công nghiệp nặng mà quên mất nhu cầu tiêu dùng nói chung, trong đó có nhu cầu về nhà ở của
nhân dân. Do đó, khi chuyển sang cơ chế mới và cùng với sự cải thiện về đời sống kinh tế của các hộ gia đình, nhu
cầu nhà ở theo đó tăng lên rất nhanh. Điều này trở thành nhân tố thúc đẩy sự phát triển của lãnh vực dòch vụ xây
dựng. Một nhân tố khác cũng góp phần đáng kể vào sự phát triển của lónh vực xây dựng nước ta là hoạt động đầu
tư trực tiếp của nước ngoài.


Bảng 1: VỐN ĐẦU TƯ XDCB TPHCM GIAI ĐOẠN 1975-1999
ĐVT: Tỷ Đồng
1975-1991 1991-1995
Tổng số

1996

1997

1998

1999

8.000

37.000

18.645

22.960

23.984

18.897

Nguồn vốn trong nước

7.800


trường xây dựng bò thu hẹp, nhất là các đơn vò chuyên thi công các công trình kiến trúc như cao ốc, văn phòng cho
thuê, khách sạn, nhà máy… nhiều dự án bò ngưng trệ giữa chừng, có dự án tuy đã giải tỏa mặt bằng xong, có giấy
phép xây dựng nhưng chưa được khởi công gây lãng phí cho chủ đầu tư và xã hội. Các công trình có giá trò lớn khởi
công trong thành phố hầu như không có, các đơn vò xây dựng vẫn tập trung chủ yếu vào các công trình chuyển tiếp,
phần lớn nằm ngoài thành phố như ở các khu chế xuất, khu công nghiệp… (khu vực tỉnh Bình Dương, Biên Hòa,
Vũng Tàu…). Tình trạng thiếu vốn, bò chiếm dụng vốn, công trình đưa vào sử dụng nhưng bên A chưa thanh toán…
ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động của các công ty xây dựng.
Bảng 2: GIÁ TRỊ NGÀNH XÂY DỰNG TPHCM GIAI ĐOẠN 1995-1999
ĐVT : Triệu Đồng
1995
Tổng số

1996

1997

1998

1999

5.842.125 7.915.193 9.939.960 11.316.337 11.640.054

– Quốc doanh

3.000.748

3.736.271

4.795.261


Về cơ cấu thành phần kinh tế, các doanh nghiệp xây dựng quốc doanh giữ vai trò chủ đạo, chiếm khoảng 50% giá
trò sản xuất toàn ngành, các doanh nghiệp ngoài quốc doanh (các công ty cổ phần, công ty TNHH, doanh nghiệp tư
nhân…) đóng góp 40% giá trò sản xuất và còn lại là các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài (các công ty liên doanh,
100% vốn nước ngoài) chiếm 10% giá trò. Đây là ba đối thủ cạnh tranh chính trong thò trường ngành xây dựng hiện
nay.
Có thể nói thò trường xây dựng TP.HCM đang trong giai đoạn phát triển rất khó khăn do nhiều nguyên nhân khách
quan và chủ quan. Tốc độ tăng trưởng của toàn ngành giảm, phần lớn nguồn vốn đầu tư phụ thuộc vào bên ngoài,
cơ cấu vốn đầu tư chưa thật ổn đònh… Tất cả những yếu tố trên đã tác động tiêu cực đến hoạt động sản xuất toàn
ngành. Vì vậy, để có thể tồn tại và phát triển trong điều kiện hiện nay, các công ty xây dựng cần xác đònh chiến

7


Luận văn Thạc só kinh tế

Hà Thò Minh Châu

lược nâng cao khả năng cạnh tranh, đặc biệt đối với các công ty TNHH xây dựng, hạt nhân phát triển của ngành
xây dựng Việt Nam.
Tóm lại, doanh nghiệp muốn thành công phải xây dựng chiến lược cạnh tranh_mọât chiến lược tổng hợp nhằm tạo ra
vò thế cạnh tranh cho doanh nghiệp trên thò trường. Điểm cốt yếu của việc xây dựng chiến lược là liên hệ doanh
nghiệp với môi trường xung quanh, đặc biệt là môi trường ngành. Tuy nhiên, việc xây dựng chiến lược cạnh tranh
không thể khả thi nếu bỏ qua giai đoạn tìm hiểu vòng đời phát triển ngành. Đây chính là những nền tảng cơ bản
trong việc hoạch đònh chiến lược cạnh tranh. Và trước khi đi vào phân tích thực trạng đấu thầu xây dựng tại các
công ty TNHH xây dựng TPHCM, việc tìm hiểu khái quát về ngành xây dựng là rất cần thiết, đặc biệt là các đặc
điểm kinh tế của thò trường ngành. Những đặc trưng cơ bản này có ảnh hưởng trực tiếp đến tính chất hoạt động của
các doanh nghiệp trong ngành, nhất là trong đấu thầu cạnh tranh.

CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG ĐẤU THẦU XÂY DỰNG TẠI CÁC CÔNG TY TNHH XÂY
DỰNG TP.HCM

Luận văn Thạc só kinh tế

Hà Thò Minh Châu

Trên thế giới, ở các nước có nền kinh tế thò trường, việc đấu thầu mua sắm thiết bò vật tư và xây dựng công trình từ
lâu đã trở thành thông lệ và được xem như một thủ tục, một thể thức phổ biến. Phương thức đấu thầu quốc tế hiện
nay được tiến hành theo những chế đònh của tổ chức FIDIC (Hiệp hội quốc tế các kỹ sư tư vấn_Fédération
Internationle des Ingéniecurs Conseils). Theo tính chất, đấu thầu có thể áp dụng cho ba loại công việc chính sau:
đấu thầu công tác giám đònh và tư vấn (bao gồm các công việc khảo sát, lập dự án đầu tư xây dựng, thiết kế, soạn
thảo hồ sơ đấu thầu, giám sát và điều khiển quá trình thi công..); đấu thầu mua sắm thiết bò và vật tư xây dựng
công trình và đấu thầu thực hiện thi công xây lắp công trình. (Phạm vi đề tài này chỉ tập trung nghiên cứu liõnh vực
đấu thầu xây dựng công trình).
2.1.2.1 Nguyên tắc đấu thầu
Với mục tiêu thực hiện tính cạnh tranh, công bằng và minh bạch trong quá trình đấu thầu để lựa chọn nhà thầu phù
hợp, đảm bảo hiệu quả kinh tế của dự án, hoạt động đấu thầu cần tuân thủ các nguyên tắc sau:
• Nguyên tắc cạnh tranh với điều kiện ngang nhau: mỗi cuộc đấu thầu đều phải được thực hiện với sự tham dự
của một số nhà thầu có đủ năng lực để hình thành một cuộc cạnh tranh mạnh mẽ. Điều kiện đặt ra và thông tin
cung cấp cho các đơn vò ứng thầu phải ngang bằng nhau, nhất thiết không có sự phân biệt đối xử.
• Nguyên tắc dữ liệu đầy đủ: các nhà thầu phải nhận được đầy đủ tài liệu đấu thầu với các thông tin chi tiết, rõ
ràng và có hệ thống về quy mô, khối lượng, qui cách, yêu cầu chất lượng của công trình hay hàng hóa dòch vụ
cần cung ứng, về tiến độ và điều kiện thực hiện.
• Nguyên tắc đánh giá công bằng: các hồ sơ đấu thầu phải được đánh giá một cách không thiên vò, theo cùng
một chuẩn mực và bởi một hội đồng xét thầu có đủ năng lực và phẩm chất. Lý do để “được chọn” hay “bò loại”
phải được giải thích đầy đủ nhằm tránh sự ngờ vực.
• Nguyên tắc trách nhiệm phân minh: khống chế các nghóa vụ, quyền, quyền lợi của các bên liên quan được đề
cập và chi tiết hóa trong hợp đồng, với phạm vi trách nhiệm của mỗi bên ở từng phần việc đều được phân đònh
rạch ròi để không một sai sót nào không có người chòu trách nhiệm.
• Nguyên tắc “ba chủ thể”: thực hiện dự án theo thể thức “Đấu thầu quốc tế” luôn luôn có sự hiện diện đồng thời
của ba chủ thể: chủ công trình, nhà thầu và kỹ sư tư vấn. Trong đó, “kỹ sư tư vấn” hiện diện như một nhân tố
đảm bảo cho hợp đồng luôn được thực hiện nghiêm túc đến từng chi tiết, mọi sự bất cập về kỹ thuật và tiến độ


GIAI ĐOẠN NHẬN ĐƠN THẦU

GIAI ĐOẠN MỞ VÀ ĐÁNH GIÁ
ĐƠN THẦU, XÉT THẮNG THẦU







Giai đoạn sơ tuyển
Giai đoạn sơ tuyển có mục đích lọc lấy nhiều nhà thầu đã được đánh giá sơ bộ là đủ năng lực ứng thầu. Số
lượng nhà thầu cần đủ lớn để đảm bảo tính cạnh tranh nhưng phải đủ nhỏ để tạo ra sự quan tâm thích đáng
trong mọi đơn vò ứng thầu. Trong một số trường hợp, khi chủ công trình nắm vững thông tin về các nhà thầu
khả dó tham gia đấu thầu thì có thể đi tắt, bỏ qua giai đoạn sơ tuyển và bước ngay vào giai đoạn nhận đơn dự
thầu.
Giai đoạn nhận đơn thầu
Chủ công trình, hay thuê một đơn vò tư vấn, chuẩn bò văn kiện đấu thầu gửi đến cho các ứng thầu đã được sơ
tuyển. Văn kiện đấu thầu gồm ba nội dung chính: các nội dung về hành chính, pháp lý; các nội dung về kỹ thuật
và các nội dung về thương mại, tài chính. Trong bộ văn kiện này, phần thuyết minh về kỹ thuật là quan trọng
nhất, phải được soạn thảo rất công phu để cùng với bảng kê số lượng làm cơ sở chủ yếu cho các ứng thầu tính
toán giá thầu công trình, còn gọi là giá hợp đồng.
Giai đoạn mở và đánh giá đơn thầu, xét thắng thầu
Đây là giai đoạn cuối cùng của quá trình đấu thầu để chọn ra đơn vò thắng thầu với giá cả hợp đồng đưa ra
thấp nhất, đảm bảo các yêu cầu về mặt kỹ thuật, thương mại và điều kiện trong văn kiện đấu thầu. Tuy nhiên,
việc trao thầu cũng có thể dành cho đơn vò đạt được yêu cầu về tiến độ, phương án thi công hay các tiêu chuẩn
về chất lượng, tài chính, uy tín lâu năm... tạo cho đơn vò một lợi thế cạnh tranh về chi phí, hiệu quả tốt hơn.


Luận văn Thạc só kinh tế



Hà Thò Minh Châu

với chi phí kèm theo. Điều này thể hiện năng lực và sự quan tâm của nhà thầu với dự án. Sau cùng là các nội
dung về thương mại và tài chính. Giá dự thầu phải được tính toán thật chính xác kèm theo thuyết minh và biểu
giá chi tiết dựa trên cơ sở hồ sơ kỹ thuật. Giá chào thầu phải đủ thấp để giành được công trình, nhưng vẫn phải
đủ cao để thu được lợi nhuận. Điều này thể hiện “nghệ thuật” cạnh tranh giá của nhà thầu. Điều kiện về tài
chính và thanh toán cũng là một lợi thế cạnh tranh. Một nhà thầu với tiềm lực tài chính mạnh, điều kiện thanh
toán “dễ chòu” cho phía chủ đầu tư cũng góp phần tạo nên ưu thế cho nhà thầu.
Giai đoạn mở và đánh giá đơn thầu, xét thắng thầu
Đây là giai đoạn chọn ra đơn vò thắng thầu. Chủ đầu tư quyết đònh nhà thầu dựa trên kết quả đánh giá hồ sơ dự
thầu. Tiêu chuẩn xét thầu chủ yếu là giá cả, ngoài ra còn có thể là chất lượng kỹ thuật, tiến độ thi công, điều
kiện tài chính... Chính vì vậy, các nhà thầu cần cố gắng tối đa trong việc chuẩn bò tốt mọi chi tiết của hồ sơ dự
thầu. Một văn kiện đấu thầu được soạn thảo chu đáo và nghiêm túc không những đem lại kết quả cho nhà thầu
mà còn tạo được một “ấn tượng” tốt đối với phía chủ đầu tư, đem đến những cơ hội ứng thầu trong tương lai.

2.1.4 Thực trạng hoạt động đấu thầu xây dựng ở nước ta
Từ sau đại hội Đảng lần thứ VI (1986), nước ta bắt đầu thực hiện chính sách đổi mới nền kinh tế từ cơ chế kế
hoạch hóa tập trung bao cấp sang cơ chế thò trường cùng với sự tồn tại của nhiều thành phần kinh tế khác nhau.
Quy luật cạnh tranh của nền kinh tế thò trường bắt đầu từng bước được hình thành. Trong lónh vực xây dựng đã bắt
đầu xuất hiện một công nghệ mới, đó là phương thức đấu thầu. Nhằm làm cho hoạt động đấu thầu xây dựng đi vào
nề nếp, tạo điều kiện tự do cạnh tranh lành mạnh trên thò trường xây dựng, Chính phủ đã ban hành Quy chế đấu
thầu. Trước hết là Nghò đònh 43/CP ngày 16/07/1996, sau đó được sửa đổi bổ sung theo Nghò đònh 93/CP ngày
23/08/1997. Đến ngày 04/09/1999, Chính phủ đã ban hành Quy chế đấu thầu mới, Nghò đònh 88/1999/NĐ_CP.
Trong đó có phần qui đònh cụ thể cho hoạt động đấu thầu xây dựng ở Chương IV_Đấu thầu xây lắp. Đây là quy chế
áp dụng đối với các dự án đầu tư trên lãnh thổ Việt Nam.
Qua gần bốn năm thực hiện quy chế đấu thầu, theo Nghò đònh 43/CP, 93/CP và nay là Nghò đònh 88/CP của Chính


2.1.5 Một số kinh nghiệm đấu thầu xây dựng của Tập đoàn xây dựng Hyundai (Hàn Quốc)
Trong việc đấu thầu xây dựng các công trình quốc tế, Hyundai đã rất thành công. Đây là kinh nghiệm quý giá cho
các nhà thầu xây dựng Việt Nam và thế giới mà ông Romusup, Phó giám đốc Tập đoàn xây dựng Hyundai đã báo
cáo tại Stanford-Nayang Executive Programme–Singapore 1995. Xin trích lược một vài nét tiêu biểu minh họa cho
đề tài.
¾ Khái niệm về ngành xây dựng
Ngành công nghiệp lớn nhất nhưng đa số hàng ngàn thành viên là những doanh nghiệp vừa và nhỏû cạnh tranh
với nhau. Ngành xây dựng có nhiều đặc trưng liên quan đến các ngành công nghiệp dòch vụ và chế tạo, được
đònh hướng khuyến khích hoàn toàn.
¾ Bí quyết thành công
Phân tích S.W.O.T. (những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và đe dọa) là công cụ rất hữu hiệu và cần thiết trong
việc nghiên cứu môi trường hoạt động, làm cơ sở cho mọi đònh hướng chiến lược của doanh nghiệp.
¾ Một số kinh nghiệm quản lý hoạt động đấu thầu xây dựng
• Đối với công tác đấu thầu, công ty cần điều tra trước vò trí xây dựng (sơ đồ vùng, thông tin về điều kiện tự
nhiên, đòa lý, thổ nhưỡng…), vò trí dòch vụ có ích (điện, gas, nước, vệ sinh, cống rãnh, đường sắt, đường cao tốc,
MRT…), điều kiện tại chỗ (các văn phòng xây dựng, hiệp hội lao động, nhà thầu đòa phương, nguồn vật liệu
xây dựng, máy móc thiết bò… )… Kết quả điều tra này rất có ích cho việc soạn thảo hồ sơ dự thầu và công tác
thi công sau này.
• Trong hồ sơ dự thầu, công ty cần nghiên cứu về những điểm đặc biệt của dự án, phác thảo phương án có thể
thay thế hay thêm vào các bổ sung cần thiết nhằm tạo lợi thế cạnh tranh cho đơn thầu.
• Công ty cần thiết lập các mối quan hệ với các nhà thầu, nhà cung cấp tại đòa điểm xây dựng để thật sự hiểu rõ
về nền văn hóa đòa phương, cấu trúc xã hội, những giá trò cổ truyền… Sự hòa hợp với đặc thù riêng của đòa
phương sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho công ty trong việc quản lý xây dựng công trình, đảm bảo sự thành công
của dự án.
• Chính sách quản lý nhà thầu xây dựng rất cần thay đổi theo mối quan hệ với nhà thầu chính. Phương pháp
quản lý nhà thầu phụ của nhà thầu chính còn phụ thuộc vào năng lực thi công của nhà thầu phụ. Nhà thầu
chính sẽ chấp nhận mọi cách thức của nhà thầu phụ khi họ có thể hoàn tất công trình trong mọi tình huống.
• Nhà thầu chính cần lập trước kế hoạch hoạt động cụ thể cho tất cả các nhà thầu phụ. Sự hợp nhất ở mức độ cao
trong việc điều khiển các nhà thầu phụ sẽ tạo điều kiện cho nhà thầu chính quản lý quá trình sản xuất xây

rộng rãi, do nhiều yếu tố “khách quan tiêu cực” đã hạn chế rất nhiều đến sự tham gia đông đảo của các nhà thầu.
Sau đây là các nhân tố tác động trực tiếp và gián tiếp đến hiệu quả công tác đấu thầu tại các công ty TNHH xây
dựng.
2.2.1 Các nhân tố trực tiếp
• Cơ cấu tổ chức
Ở phần lớn các công ty TNHH xây dựng đều chưa có tổ, nhóm hay phòng nghiệp vụ về đấu thầu. Mỗi khi nhận
được hồ sơ dự thầu, giám đốc hay phó giám đốc sẽ phân chia công việc cho các bộ phận hữu quan để chuẩn bò
hồ sơ dự thầu. Cụ thể phòng hành chánh chuẩn bò các hồ sơ về hành chính và pháp lý, phòng kế toán chuẩn bò
các nội dung thương mại và tài chính và một vài kỹ sư sẽ chuẩn bò các nội dung về kỹ thuật và dự toán. Đến
thời hạn nộp thầu, hồ sơ sẽ được tổng hợp từ các bộ phận trên. Cách phân chia công việc này đã ảnh hưởng rất
nhiều đến “chất lượng” của đơn thầu. Các phòng ban không bắt kòp tiến độ công việc lẫn nhau, hồ sơ thiếu tính
đồng bộ và thống nhất, tính bảo mật bò vi phạm... Do đó, công việc kiểm tra và đánh giá đơn thầu nhằm điều
chỉnh chiến lược cạnh tranh thích nghi không được chú trọng đúng mức.
• Trình độ và năng lực nhân viên
Đây là yếu tố quyết đònh trực tiếp đến chất lượng đơn thầu. Tại các công ty TNHH xây dựng, khả năng ngoại
ngữ (Anh văn) của nhân viên còn hạn chế, nhất là trong lónh vực đọc hiểu nên việc nắm bắt tất cả nội dung
của điều kiện sách thực sự là một khó khăn. Thật không dễ dàng để thông hiểu mọi điều khoản của đơn thầu
(thường rất dày), soạn thảo kỹ thuật và lập dự toán chính xác trong một thời gian ngắn xác đònh. Đối với những
công trình lớn, hay yêu cầu kỹ thuật cao, công nghệ, chi tiết kiến trúc phức tạp… bản dự toán có khi đến vài
trăm trang, chi chít con số, giá thành nên mức độ chính xác hoàn toàn phụ thuộc vào vào người lập. Do đó, để
có được một hồ sơ đạt yêu cầu, người lập cần có nhiều kinh nghiệm thi công, hiểu biết sâu về đơn giá, đònh
mức và đặc biệt phải am hiểu về công trình để bóc ra toàn bộ khối lượng công việc đến từng chi tiết, càng
chính xác cao càng đạt yêu cầu cạnh tranh. Nhưng tại các công ty, đa số nhân viên chuyên trách về lập dự toán
đều không được đào tạo chính quy, đúng chuyên ngành và có kinh nghiệm thi công thực tế…, ảnh hưởng rất
nhiều đến khối lượng và giá dự thầu.
• Hồ sơ kỹ thuật
Hồ sơ kỹ thuật là một phần quan trọng trong đơn thầu, là căn cứ tính toán giá thầu, phương án thi công, tiêu
chuẩn nghiệm thu và mức lợi nhuận công trình. Các điều khoản kỹ thuật bao gồm các quy đònh về các yếu tố
vật chất cấu thành công trình, chất lượng nhân công, thiết bò chuyên dùng, trình tự thực hiện, kiểm tra và chất
lượng tổng thể của công trình. Sau giá, hồ sơ kỹ thuật còn là yếu tố quyết đònh lợi thế cạnh tranh hữu hiệu




Hà Thò Minh Châu

Khả năng tài chính
Khả năng tài chính là điểm hạn chế lớn nhất của các công ty TNHH xây dựng trong đấu thầu. Vì thiếu vốn,
các công ty không thể đầu tư đổi mới công nghệ, mất lợi thế cạnh tranh trong đấu thầu. Ngoài ra, các hồ sơ dự
thầu đều qui đònh khoản bảo lãnh trong ngân hàng tương đương 10%-15% giá trò hợp đồng. Với tài sản và
nguồn vốn hạn chế thì các công ty TNHH thường không đủ điều kiện để dự thầu, nói chi đến thắng thầu. Nếu
vay ngân hàng cũng rất khó khăn, nhất là với đối tượng thành phần kinh tế ngoài quốc doanh như của công ty.
Điều kiện vay, thủ tục thế chấp phức tạp, thời gian kéo dài.. đã ảnh hưởng đến cơ hội dự thầu của công ty.
Hiện nay, với qui đònh thanh toán sau khi nghiệm thu từng phần công trình và giữ lại từ 3%-10% giá trò công
trình để bảo hành đã gây khó khăn rất nhiều đến hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty. Như vậy, các
công ty TNHH phải có một tiềm lực tài chính thật sự vững mạnh mới hy vọng cạnh tranh trong tình hình hiện
nay.
Công nghệ
Đây cũng là điểm hạn chế của các công ty TNHH xây dựng trong đấu thầu. Do nguồn vốn có hạn nên việc đầu
tư đổi mới công nghệ, nhất là các công nghệ hiện đại là một thách thức lớn đối với các công ty. Khi tham gia
các công trình có quy mô lớn, các dự án đấu thầu quốc tế thì yêu cầu về công nghệ cao chính là một rào cản
cho các công ty TNHH xây dựng của nước ta. Hiện nay, các hình thức thuê mua tài chính vẫn chưa thật sự phổ
biến nhằm giúp các công ty vượt qua trở ngại lớn này.
Quan hệ ngoại giao
Chính sách ngoại giao có vai trò đặc biệt đối với các hoạt động của ngành. Trong đấu thầu, ngoại giao để tiếp
cận với chủ đầu tư, mở rộng quan hệ với các khách hàng tiềm năng, thu thập thông tin các dự án gọi thầu,
thông tin về các đối thủ cạnh tranh… Các công ty TNHH xây dựng tuy có hạn chế về quy mô và phạm vi hoạt
động nhưng đã nỗ lực rất nhiều trong việc đẩy mạnh các quan hệ ngoại giao với các đối tượng hữu quan. Chính
nhờ vậy, số lượng đơn thầu thông qua hình thức đấu thầu hạn chế và chỉ đònh thầu của công ty ngày càng tăng.
Đây là điểm nổi bật trong đấu thầu tại các công ty TNHH xây dựng.
Tài sản vô hình











Hà Thò Minh Châu

Khoản tiền bảo hành có ảnh hưởng rất nhiều đến các nhà thầu. Thông thường, sau khi nghiệm thu, chủ đầu tư
giữ lại khoảng 3%-10% trò giá công trình cho khoản bảo hành, đề phòng tình trạng chất lượng xuống cấp. Khi
hết thời hạn bảo hành (thường là một năm, tùy giá trò công trình), khoản tiền trên được trả lại cho doanh
nghiệp. Nhưng trên thực tế doanh nghiệp muốn nhận lại đủ phải mất thời gian khá lâu cộng thêm một ít chi
phí, đặc biệt đối với các công trình có vốn ngân sách…
Đối với các công trình đấu thầu quốc tế, hồ sơ mời thầu đều do các các công ty tư vấn nước ngoài chuẩn bò nên
thể hiện rất nhiều bất lợi cho các nhà thầuViệt Nam. Việc chia dự án thành các gói thầu quá lớn, các điều kiện
dự thầu cao và khó khăn làm cho các nhà thầu nước ta không thể dự thầu độc lập nên hầu hết các nhà thầu
nước ngoài đều trúng vai trò thầu chính. Cụ thể như các điều kiện rất cao về tiềm lực tài chính, công nghệ,
năng lực hoạt động, kinh nghiệm ….
Chủ đầu tư không có đủ vốn để thanh toán theo đúng tiến độ hợp đồng, nợ đọng kéo dài, ảnh hưởng đến hoạt
động sản xuất kinh doanh của nhà thầu, nhất là các công trình xây dựng bằng nguồn vốn ngân sách.
Trong quá trình xây dựng thường có nhiều khối lượng phát sinh chưa được đề ra trong thiết kế và dự toán, việc
qui đònh cứng nhắc và thiếu chi tiết trong các văn bản pháp lý gây khó khăn cho cả phía nhà thầu và phía nhà
đầu tư.
Nhiều yếu tố bất ngờ từ nguồn gốc xã hội đổ lên đầu nhà thầu như vấn đề hạn chế phương tiện vận tải chở
hàng hóa, vấn đề ách tắc trong giải phóng mặt bằng…



Bảng 3: VỐN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN TOÀN XÃ HỘI GIAI ĐOẠN 1997-1999
Tiêu thức
Tổng số

1997
Nghìn tỷ đồng
79.367,40

1998
%
100

1999

Nghìn tỷ đồng %
96.400,00

100

Nghìn tỷ đồng
103.900,00

%
100

Vốn Nhà nước

35.894,40 45,2


hòa nhập với các nước trong khu vực và thế giới. Tuy nhiên, mức thuế VAT ở một số ngành còn cao và phương
pháp khấu trừ chưa thật hợp lý đã ảnh hưởng nhiều đến mức chi phí và thu nhập của doanh nghiệp, như các doanh
nghiệp thuộc ngành xây dựng.
¾ Nguy cơ
• Tổng sản phẩm trong nước giảm
Sau một giai đoạn tăng trưởng từ 5,1% (1990) đến 9,5% (1995), mức tăng trưởng GDP ở nước ta đã bắt đầu có xu
hướng giảm dần. Cụ thể là năm 1996 là 9,3% đến năm 1998 còn 5,8% và năm 1999 là 4,8%. Đây là mức tăng
trưởng thấp nhất trong giai đoạn 10 năm gần đây. GDP giảm do nhiều nguyên nhân như hệ thống chính sách không
còn phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế, hệ thống ngân hàng và tài chính yếu kém…, và thêm vào đó, cuộc
khủng hoảng tiền tệ Châu Á đã ảnh hưởng không ít đến mức tăng trưởng của nền kinh tế nước ta. Đây chính là
nguy cơ lớn nhất ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động sản xuất kinh doanh ở các ngành.
• Đầu tư nước ngoài giảm
Chính sách đầu tư nước ngoài đã thu hút một nguồn vốn đầu tư đáng kể cho nền kinh tế, đóng góp khoảng 10%
GDP và chiếm 20% tổng số thuế. Tổng số vốn đầu tư nước ngoài tính đến tháng 9/1999 là 33,9 tỷ USD với 1.757
dự án đang còn hoạt động. Tuy nhiên, tỷ lệ vốn đầu tư nước ngoài trong GDP từ mức 15% trong năm 1995 đã giảm
xuống chỉ còn 2,5% trong năm 1998 và ước đoán khoảng 2,2% trong năm 1999 do cuộc khủng hoảng tiền tệ trong
khu vực. Điều này đã tác động mạnh đến tốc độ đầu tư của các dự án và ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động của
ngành xây dựng.

16


Luận văn Thạc só kinh tế

Hà Thò Minh Châu

8497,3

Đồ thò1: ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI GIAI ĐOẠN 1990-1999
9000


0

Số dự án

2165

3000

1000

Vốn

2861

4000

4058

4625,5
3766

5000

197

Triệu USD

6000


lớn cho các doanh nghiệp xây dựng nước ta trong thời gian qua.
¾


Nguy cơ
Mặc dù Việt Nam có tình hình chính trò ổn đònh nhưng bộ máy hành chính vẫn còn rườm rà, nhiều thủ tục, một
số còn quan liêu, cửa quyền. Điều này đã hạn chế rất nhiều nhiệt tình đầu tư của các doanh nghiệp trong và
ngoài nước, gây tổn thất không ít cho xã hội.

17


Luận văn Thạc só kinh tế



Hà Thò Minh Châu

Các văn bản pháp lý, các chính sách, quy đònh của Nhà nước chưa đồng bộ và thống nhất, hay thay đổi gây
nhiều khó khăn và ảnh hưởng đến hoạt động đầu tư, sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp. Luật Đất đai,
các quy đònh về đền bù và giải tỏa chưa cụ thể, rõ ràng đã ảnh hưởng rất nhiều đến hoạt động đầu tư xây dựng
ở nước ta hiện nay.

2.3.3 Các yếu tố văn hóa và xã hội
• Dân số Việt Nam hiện nay khoảng 78 triệu người (theo cuộc điều tra dân số năm 1998), dự báo đến năm 2000
sẽ là 80 triệu người, với tốc độ gia tăng dân số tự nhiên là 1,75% thì nhu cầu về nhà ở đang là một vấn đề cấp
thiết. Dân số toàn miền Nam từ Nha Trang trở vào có khoảng hơn 31 triệu người, chiếm khoảng 40% dân số.
Trong đó TP.HCM có khoảng 5 triệu người với mức độ di dân từ các khu vực khác đến với tốc độ cao
1,5%/năm (chỉ tính sự di dân hợp pháp, có đăng ký hộ khẩu). Đây là thành phố đông dân nhất nước và được
xem như một thò trường đầy tiềm năng về các loại hình nhà ở và các cơ sở vật chất, dòch vụ kèm theo.

các doanh nghiệp xây dựng. Cụ thể như làm gián đoạn quá trình thi công, kế hoạch cung cấp nguyên vật liệu, tiến
độ thi công bò kéo dài, vốn ứ đọng… Do vậy, các doanh nghiệp xây dựng cần chú ý đến nhân tố thời tiết khi hoạch
đònh kế hoạch kinh doanh và soạn thảo hồ sơ đấu thầu.
2.3.5 Các yếu tố công nghệ
¾ Cơ hội
Chủ trương đổi mới và hòa nhập thế giới của Đảng và Nhà nước đã tạo tiền đề cho sự phát triển vượt bật của công
nghệ. Tiến bộ công nghệ làm tăng năng suất, chất lượng và từ đó giảm giá thành, góp phần tạo ra lợi thế cạnh tranh

18


Luận văn Thạc só kinh tế

Hà Thò Minh Châu

cho sản phẩm. Trong thời gian gần đây, công nghệ xây dựng ở nước ta đã có những thay đổi về chất. Cùng với sự
phát triển kinh tế, nguồn vốn đầu tư nước ngoài tăng dần trong tỉ trọng đầu tư chung nên đã có những thay đổi nhận
thức về chất lượng công trình. Điều này là tác nhân tích cực trong việc nâng cao trình độ quản lý cũng như chuyên
môn của ngành xây dựng nước ta, góp phần hội nhập với các nước trong khu vực.
¾ Đe dọa
Bên cạnh những ưu thế, yếu tố công nghệ cũng chứa đầy những rủi ro và bất trắc cho doanh nghiệp. Thực trạng
công nghệ ở nước ta vẫn còn rất lạc hậu, trình độ hiện đại của thiết bò chỉ đạt 16%, hệ số hao mòn vô hình trên
50%, hệ số đổi mới chỉ có 7%, tiêu hao nguyên vật liệu thường gấp đôi mức bình quân thế giới và chất lượng sản
phẩm thấp kém. Do đó, sản phẩm Việt Nam không cạnh tranh nổi với các nước trong khu vực là một hệ quả tất
yếu. Ngoài ra, vòng đời công nghệ có xu hướng rút ngắn dần, hiện nay trung bình khoảng 5-7 năm. Việc đầu tư
một công nghệ hiện đại với giá trò cao, thời gian khấu hao dài trong điều kiện hiện nay có thể không khả thi lắm
đối với các doanh nghiệp nước ta. Do vậy, các doanh nghiệp chỉ tập trung đầu tư các máy móc thiết bò có giá trò
vừa và nhỏ, điều này là trở ngại rất lớn cho các doanh nghiệp trong tình hình cạnh tranh quyết liệt hiện nay. Đối
với ngành xây dựng nước ta, yếu tố công nghệ còn là một đe dọa rất lớn đối với quá trình hòa nhập với các lực
lượng xây dựng đầu tư nước ngoài. Với phương pháp thi công thủ công, máy móc thiết bò lạc hậu, trình độ quản lý

khẳng đònh vò trí của mình và là hạt nhân phát triển của ngành. Tuy nhiên, trong giai đoạn hiện nay, tuy có thực lực
nhưng các đơn vò này chỉ hoạt động ở dạng thầu phụ, bò ép giá và không đạt hiệu quả kinh tế. Trên thực tế, ngoại

19


Luận văn Thạc só kinh tế

Hà Thò Minh Châu

trừ các công trình do các đơn vò quốc doanh thi công, phần còn lại đều do các đơn vò ngoài quốc doanh đảm nhận
(dưới hình thức B’, B’’,B’’’...). Đây là vấn đề cấp bách cần được Nhà nước quan tâm và giúp đỡ.
• Các công ty xây dựng đầu tư nước ngoài
Đến nay đã có 90 nhà thầu xây dựng nước ngoài thuộc 25 quốc gia và lãnh thổ hoạt động tại Việt Nam, chiếm
2,6% số lượng doanh nghiệp xây dựng của cả nước. như Nhật Bản (37 công ty), Úc, Pháp, Hàn Quốc… Các công ty
xây dựng đầu tư nước ngoài tiếp cận thò trường Việt Nam dưới hai hình thức: liên doanh và 100% vốn (thông qua
hợp đồng hợp tác kinh doanh). Với những ưu thế về vốn, công nghệ, trình độ quản lý, thông tin … các đơn vò xây
dựng nước ngoài đang từng bước thâm nhập thò trường Việt Nam. Tuy nhiên, do đặc điểm về vò trí, đòa lý lãnh thổ,
các đơn vò này đều chọn các công ty xây dựng nước ta làm lực lượng sản xuất chính và các công ty ngoài quốc
doanh chiếm đa số. Đây cũng chính là cơ hội nâng cao trình độ của các doanh nghiệp nước ta, góp phần giải quyết
việc làm cho người lao động.
2.4.1.2 Tình hình thò phần của các doanh nghiệp
• Các công ty xây dựng quốc doanh và ngoài quốc doanh hiện đang chiếm thò phần cao trên thò trường xây dựng
TP.HCM. Các doanh nghiệp xây dựng quốc doanh với 53,6% thò phần đang là đối thủ cạnh tranh mạnh nhất,
kế đến là các công ty ngoài quốc doanh chiếm gần 41% thò phần và còn lại là các công ty xây dựng nước ngoài
giữ 5,5% thò phần.
• Cơ cấu vốn đầu tư xây dựng cơ bản đã tác động trực tiếp đến giá trò sản xuất ngành xây dựng. Cụ thể là đối
với nguồn vốn thuộc ngân sách Nhà nước (chiếm gần 40% cơ cấu vốn đầu tư xây dựng cơ bản toàn xã hội) sẽ
được giao ưu tiên và thông qua đấu thầu cho các doanh nghiệp xây dựng quốc doanh đảm nhận. Các doanh
nghiệp xây dựng ngoài quốc doanh chủ yếu đấu thầu các dự án thuộc nguồn vốn của các tổ chức ngoài quốc


Vốn đầu tư
nước ngoài
33%

Vốn ngân
sách Nhà
nước
40%

Vốn các tổ
chức ngoài
quốc doanh
27%

2.4.1.3 Nhận xét về lợi thế cạnh tranh
¾ Các công ty xây dựng quốc doanh
Lợi thế cạnh tranh
• Là đơn vò được hình thành từ nguồn vốn Nhà nước nên nhận được nhiều hỗ trợ và ưu đãi trong các chính
sách kinh tế và xã hội của Chính phủ
• Đầu ra được Nhà nước quan tâm và giúp đỡ. Những công trình đầu tư xây dựng cơ bản của Nhà nước đều
được ưu tiên chỉ đònh thầu, hay đấu thầu giữa các đơn vò quốc doanh với nhau.

20


Luận văn Thạc só kinh tế

Hà Thò Minh Châu


• Đòa bàn hoạt động rộng.
• Dòch vụ hậu mãi tốt.
Hạn chế
• Khả năng tài chính yếu.
• Công nghệ lạc hậu, thiếu nhiều phương tiện thi công hiện đại.
• Quy mô vừa và nhỏ, không thể thi công các công trình lớn của quốc gia.
• Thiếu thông tin vó mô.
• Hiệu quả của công tác đấu thầu chưa cao.
Nhận xét
Với những ưu điểm thích nghi với môi trường cạnh tranh, các công ty TNHH xây dựng đã và đang từng bước
phát huy thế mạnh của mình. Tuy nhiên, những điểm yếu về tài chính, công nghệ, quy mô… đã hạn chế rất
nhiều cơ hội cạnh tranh của các doanh nghiệp trên thò trường.

¾

Các công ty xây dựng nước ngoài
Lợi thế cạnh tranh
• Danh tiếng trên thò trường quốc tế.
• Khả năng tài chính dồi dào.
• Trước khi hoạt động tại Việt Nam, các công ty đều có văn phòng đại diện nghiên cứu và nắm rất chắc thò
trường Việt Nam và quốc tế.
• Lợi thế về đấu thầu các dự án FDI, thường quốc gia nào đầu tư vào Việt Nam cũng ưu tiên giao thầu cho
các công ty xây dựng nước đó.
• Công nghệ cao, hiện đại, trình độ quản lý chuyên nghiệp dẫn đến chất lượng sản phẩm cao.
• Hệ thống thông tin tốt, quan hệ ngoại giao rộng.
• Rất chuyên nghiệp trong công tác đấu thầu.

21



• Nhóm khách hàng có tư cách pháp nhân: các công ty có vốn đầu tư trong và ngoài nước, đây là nhóm khách
hàng chủ yếu của các công ty TNHH xây dựng. Sản phẩm chính là các công trình xây dựng công nghiệp, xây
dựng dân dụng, cải tạo và sửa chữa cơ bản có giá trò cao… Nhóm khách hàng này lựa chọn công ty phần lớn
thông qua các hình thức đấu thầu.
• Nhóm khách hàng cá nhân: đây là những cá nhân có nhu cầu xây dựng và cải tạo, sửa chữa nhà ở, biệt thự …
Hình thức đấu thầu chủ yếu là chỉ đònh thầu và thông qua môi giới, giá trò tài sản vô hình của công ty. Tuy các
công trình này có giá trò không cao nhưng đây là thò trường chính của các công ty TNHH xây dựng trong giai
đoạn giới thiệu, giai đoạn chờ việc hay giai đoạn suy thoái...

Nếu căn cứ vào nguồn khách hàng, có thể phân loại khách hàng thành ba dạng chính:
• Nhóm khách hàng tự tìm đến do có sự giới thiệu, môi giới: hình thức đấu thầu chủ yếu là chỉ đònh thầu. Các
công trình của nhóm này thường có giá trò vừa và nhỏ, thường nhằm mục đích thăm dò và tìm hiểu năng lực
của công ty.
• Nhóm khách hàng đạt được thông qua các quan hệ ngoại giao, biện pháp marketing: hình thức đấu thầu chủ yếu
là đấu thầu hạn chế, hay chào hàng cạnh tranh, một số ít là chỉ đònh thầu. Đây thường là các công trình có giá
trò cao.
• Nhóm khách hàng đạt được thông qua hình thức đấu thầu rộng rãi: sản phẩm là các dự án lớn của quốc gia hay
đòa phương, thường có giá trò rất cao và công ty phải có năng lực thật mạnh mới có khả năng cạnh tranh.
Tùy vào danh tiếng, quy mô và năng lực của các công ty xây dựng mà tỉ lệ của mỗi dạng khách hàng khác nhau.
Đối với các công ty xây dựng quốc doanh, nhóm khách hàng thông qua đấu thầu rộng rãi và sự “giới thiệu” của
Chính phủ chiếm gần toàn bộ. Các công ty TNHH xây dựng có quy mô vừa thì tỉ lệ khách hàng do quan hệ ngoại
giao, môi giới và các biện pháp marketing đem lại là chủ yếu. Còn đối với các công ty xây dựng nước ngoài, việc

22


Luận văn Thạc só kinh tế

Hà Thò Minh Châu


có mặt tại thò trường Việt Nam, góp phần đa dạng hóa nhu cầu của khách hàng. Hy vọng trong thời gian sắp tới, khi
các dự án liên doanh sản xuất vật liệu xây dựng đi vào hoạt động ổn đònh thì áp lực nhà cung cấp sẽ giảm đi, tạo
thuận lợi cho các doanh nghiệp xây dựng.
2.4.4 Các đối thủ tiềm năng
Đối thủ tiềm năng là những công ty hiện tại không cạnh tranh trong cùng ngành nhưng có khả năng trở thành đối
thủ thực sự nếu họ quyết đònh tham gia. Áp lực cạnh tranh của những đối thủ tiềm năng mạnh hay yếu phụ thuộc
vào rào cản thâm nhập liên quan đến ba yếu tố sau:
• Trung thành với nhãn hiệu sản phẩm: do đặc điểm của sản phẩm xây dựng là giá trò cao, thời hạn sử dụng kéo
dài… nên việc thể hiện sự trung thành với nhãn hiệu nói chung là rất khó, rào cản xâm nhập của yếu tố này là
thấp.
• Ưu thế tuyệt đối về chi phí: các công ty trong ngành xây dựng không có một thuận lợi tuyệt đối về chi phí sản
xuất, chỉ có một số ít doanh nghiệp với quy mô lớn có ưu thế về công nghệ, trình độ quản lý… nhưng vẫn không
thể tạo thành một rào cản chung cho cả ngành vì tính đa dạng của sản phẩm xây dựng.
• Quy mô sản xuất có tính kinh tế: đối với ngành xây dựng, quy mô sản xuất lớn không đồng nghóa với hạ chi phí
sản xuất vì tính công đoạn trong công tác thi công, do đó rào cản về quy mô sản xuất là không đáng kể.

23


Luận văn Thạc só kinh tế

Hà Thò Minh Châu

Nhìn chung, trên đòa bàn TPHCM, đa số các công ty xây dựng có quy mô vừa và nhỏ, sản xuất không có sự phân
biệt đặc thù về công nghệ, kỹ thuật sản xuất mà chủ yếu khác nhau ở trình độ quản lý. Quy trình sản xuất xây
dựng lại đơn giản, dễ bắt chước nên sự xâm nhập vào ngành là rất dễ và rào cản thâm nhập nói chung không cao.
Điều này giải thích sự gia tăng của các nhà thầu không có tư cách pháp nhân chuyên đi “mượn dấu” để tham gia thò
trường. Nhưng để có thể trở thành các công ty xây dựng uy tín và có khả năng đảm nhiệm các công trình quy mô
lớn thì phải cần rất nhiều yếu tố quan trọng khác như vốn, kinh nghiệm, trình độ chuyên môn, đạo đức… Tuy nhiên,
đối với ngành xây dựng nước ta trong giai đoạn hiện nay thì sự xâm nhập của các đối thủ tiềm ẩn nói chung là rất

Sức mạnh mặc cả
(rất cao)

(không có)
Đe dọa về sản phẩm
thay thế
N PHẨ
M THAY
CỦASẢCÁ
C CÔ
NG THẾ
TY

2.5 PHÂN TÍCH NỘI BỘ HOẠT ĐỘNG
TNHH XÂY DỰNG
2.5.1 Các hoạt động chủ yếu
Các hoạt động chủ yếu của ngành xây dựng bao gồm những hoạt động được gắn trực tiếp với công trình xây dựng
là: hoạt động đấu thầu, sản xuất xây dựng, hoạt động marketing, bàn giao công trình, và hoạt động bảo hành.

2.5.1.1 Hoạt động đấu thầu
(Xem phần 2.2 Phân tích thực trạng đấu thầu xây dựng tại các công ty TNHH xây dựng TPHCM)

24



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status