BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
------------oOo-----------
PHẠM NGỌC THUẬN
ĐỊNH HƯỚNG
PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT NẤM RƠM
Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
ĐẾN NĂM 2010
*****
Chuyên ngành : Quản trò kinh doanh
Mã số : 5.02.05
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS LÊ THANH HÀ
TP.HỒ CHÍ MINH – NĂM 2003
KÝ HIỆU CHỮ VIẾT TẮT
KÝ HIỆU VIẾT TẮT
CHỮ ĐƯC VIẾT TẮT
CNH-HĐH
Công nghiệp hoá- hiện đại hoá
Xí nghiệp
MỤC LỤC
Trang
LỜI MỞ ĐẦU
1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ SẢN XUẤT NẤM Ở MỘT SỐ
NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM.
4
1.1. Tình hình sản xuất nấm và thò trường ở một số nước trên thế giới 4
1.2. Tình hình sản xuất nấm ở Việt Nam
6
CHƯƠNG 2: ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG SẢN XUẤT NẤM RƠM
11
Ở ĐBSCL TRONG THỜI GIAN QUA.
2.1 Tình hình sản xuất nấm rơm ở các tỉnh ĐBSCL.
11
2.2 Điều kiện tự nhiên, và các nguồn lực chủ yếu về tác động đến
23
2.2.8. Hiệu quả kinh tế và tiềm năng phát triển qui mô sản xuất 25
nấm rơm trong chuyển dòch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn .
2.2.9. Cơ sở vật chất kỹ thuật
27
2.3. Nhận xét chung
30
2.3.1. Những lợi thế
30
2.3.2. Hạn chế
31
CHƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT NẤM RƠM Ở 33
ĐBSCL ĐẾN NĂM 2010.
3.1. Các căn cứ xây dựng đònh hướng phát triển sản xuất nấm rơm
33
ở ĐBSCL.
3.1.1. Quan điểm và phương hướng phát triển kinh tế xã hội
38
1.1.2. Giải pháp về vốn đầu tư
39
1.1.3. Phát triển nguồn nhân lực
40
1.1.4. Tăng cường các biện pháp kế hoạch, qui hoạch
41
1.2. Tăng thu nhập cải thiện đời sống nông dân
41
1.3. Chuyển dòch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn theo
43
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Nhóm 2: Thực hiện mục tiêu xã hội.
44
2.1. Tạo việc làm.
cây lúa ở một số vùng và đòa phương làm cho nông dân trong vùng còn nghèo
một cách tương đối so với các vùng đòa phương khác cũng như với mức trung
bình của cả nước , nhất là trong điều kiện giá lúa gạo trong nước và thế giới liên
tục giảm từ 5-6 năm nay.
Với diện tích lúa cả năm hơn 3,7 triệu ha, do đó lượng rơm rạ hàng năm
sau thu hoạch thải ra là rất lớn. Phát triển sản xuất nấm rơm là một trong những
cách tận dụng tối ưu nguồn nguyên liệu phụ góp phần giải quyết việc làm cho
lao động nông thôn ít vốn nâng cao thu nhập, tạo ra nguồn thực phẩm có giá trò
dinh dưỡng cao phục vụ cho tiêu dùng nội đòa và xuất khẩu.
Sản xuất nấm rơm ở một số đòa phương của ĐBSCL trong thời gian qua đã
có một bước phát triển mặc dù còn chưa ổn đònh nhưng trong quá trình chuyển
dòch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn với những lợi thế của điều kiện tự
nhiên, vốn đầu tư rất ít so với việc đầu tư ở các ngành sản xuất khác, kỹ thuật
không quá phức tạp, chu kỳ nuôi trồng ngắn đem lại một mức lợi nhuận tương
đối đã khuyến khích được người trồng. Tuy nhiên sự phát triển sản xuất nấm
rơm ở ĐBSCL trong thời gian qua cũng chưa tương xứng với tiềm năng và lợi thế
của vùng. Nghề trồng nấm rơm còn nhiều khó khăn và hạn chế ở các khâu trong
quá trình sản xuất như: giống, vốn, kỹ thuật, thu mua và chế biến xuất khẩu.
Để tiếp tục đẩy nhanh quá trình chuyển dòch cơ cấu kinh tế gắn với phân
công và hợp tác lao động ở nông thôn ĐBSCL theo hướng có hiệu quả; hình
thành các vùng chuyên canh tập trung có lợi thế so sánh; áp dụng thành tựu khoa
học về sinh học, phát triển ngành nghề thủ công cơ sở chế biến và dòch vụ để
giải quyết cơ bản việc làm có thu nhập cho nông dân nghèo, tạo ra nguồn sản
phẩm hàng hoá lớn đáp ứng xuất khẩu, phát triển kinh tế nông thôn bền vững,
cải thiện đời sống nhân dân nông thôn rút ngắn khoảng cách nông thôn và thành
thò góp phần thúc đẩy sự nghiệp CNH – HĐH nông nghiệp, nông thôn của vùng.
Trên cơ sở xác đònh những những lợi thế so sánh, những thuận lợi khó
khăn, những cơ hội thách thức, lấy thò trường và hiệu quả kinh tế làm tiêu chuẩn
4-PHẠM VI NGHIÊN CỨU :
Giới hạn của đề tài chỉ tập trung nghiên cứu các yếu tố đầu vào, đầu ra,
các yếu tố thuận lợi khó khăn trong quá trình sản xuất nấm của nông dân đồng
bằng sông Cửu Long trên cơ sở sử dụng bảng câu hỏi điều tra 259 mẫu ở đòa
bàn trồng nấm tập trung của 3 tỉnh : Cần Thơ, Đồng Tháp, Vónh Long.
Do thời gian nghiên cứu và thực hiện đề tài có hạn, việc điều tra thu thập
số liệu gặp nhiều khó khăn, và với vốn kiến thức còn hạn chế nên luận án
không thể tránh khỏi những thiếu sót. Chúng tôi kính mong q Thầy, Cô hướng
dẫn và cho những ý kiến đóng góp để đề tài nghiên cứu này được hoàn thiện
hơn.
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ SẢN XUẤT NẤM Ở MỘT SỐ
NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM.
1.1 Khái quát tình hình sản xuất nấm và thò trường ở một số nước trên thế
giới:
Ngành sản xuất nấm ăn đã hình thành và phát triển trên thế giới hàng trăm
năm nay. Do đặc tính khác biệt với thực vật và động vật về khả năng quang hợp,
dinh dưỡng và sinh sản , nấm được xếp thành một giới riêng. Giới nấm có nhiều
loài, chúng đa dạng về hình dáng, màu sắc, gồm nhiều chủng loại và sống ở
khắp nơi. Cho đến nay, con người chỉ biết đến một số loại để phục vụ cuộc sống.
Nấm ăn là một loại thực phẩm có giá trò dinh dưỡng cao. Hàm lượng protein
(đạm thực vật) chỉ sau thòt, cá, rất giàu chất khoáng và axit amin không thay thế,
các vitamin A,B,C,D,E.v.v...không có các độc tố. Có thể coi nấm ăn như một
loại “rau sạch” và “thòt sạch”. Ngoài giá trò dinh dưỡng, nấm ăn còn có nhiều
đặc tính của biệt dược, có khả năng phòng và chữa bệnh, như: Làm hạ huyết áp,
chống bệnh béo phì, chữa bệnh đường ruột, tẩy máu xấu. Các nước trên thế giới
hiện nay tập trung nghiên cứu và sản xuất nấm mỡ, nấm hương , nấm sò, nấm
rơm là chủ yếu. Khu vực Bắc Mỹ và Châu u trồng nấm theo phương pháp công
nghiệp. Những “ nhà máy” sản xuất nấm có công suất từ 200 – 1000 tấn/năm
130.000
170.000
340.000
Nấm rơm
42.000
49.000
178.000
Flammulina
Nấm kim châm,
38.000
60.000
100.000
velutipes
nấm mùa đông
Pleurotus spp
3
Volvariella
vovacea
4
5
nấm sò, nấm dai
6
Pholiota nameko
Nấm trân châu
7
Tremella
Nấm tuyết nhỉ,
fuciformis
Nấm ngân nhỉ
Auricularia spp
Nấm mèo, mộc
tấn , với tốc độ tăng hàng năm giai đoạn 1990-1994 là 6% thì sản lượng năm
2000 đã đạt trên 7 triệu tấn, trong đó nấm mỡ chiếm khoảng 38%, nấm hương
17%, nấm rơm 6%, còn lại là các loại nấm khác.
Hiện nay Trung Quốc là nước sản xuất nấm ăn lớn nhất thế giới, theo
thống kê của FAO năm 1995 thì sản lượng nấm của Trung Quốc đã đạt gần 3
triệu tấn (chiếm 60% sản lượng nấm thế giới ). Năm 1999, riêng tỉnh Phúc Kiến
(TQ) sản xuất 900.000 tấn nấm trò giá 500 triệu USD, trong đó xuất khẩu 350
triệu USD.
Thò trường tiêu thu nấm lớn nhất thế giới hiện nay là Mỹ, Nhật Bản, Đài
Loan, các nước Châu u. Hàng năm các nước này phải nhập khẩu từ Trung
Quốc ( nấm muối và nấm đóng hộp). Tại các nước này, khó khăn về nguồn
nguyên liệu và giá công lao động rất đắt nên những người nuôi trồng và kinh
doanh mặt hàng này đang chuyển dòch sang các nước chậm phát triển để mua
nguyên liệu ( Nấm muối) và đầu tư sản xuất chế biến tại chổ.
1.2 Tình hình sản xuất nấm ở Việt Nam :
Vấn đề nghiên cứu và phát triển sản xuất nấm ăn ở Việt Nam bắt đầu từ
những năm 70.
-
Năm 1984 thành lập Trung tâm nghiên cứu nấm ăn thuộc Đại học tổng
hợp Hà Nội.
- Năm 1985 tổ chức FAO tài trợ và UBND Thành phố Hà Nội quyết đònh
thành lập Trung tâm sản xuất giống nấm Tương Mai Hà Nội (sau đổi tên thành
Công ty sản xuất giống, chế biến và xuất khẩu nấm Hà Nội).
-
Năm 1986 tổ chức FAO tài trợ và UBND Thành phố Hồ Chí Minh
Năm
Sản lượng ( Tấn)
1988 trở về trước
Khoảng 30
1989
Khoảng 50
1990
Khoảng 100
1991
Khoảng 120
1992
Khoảng 150
1993
Khoảng 250
1994
chỉ là tương đối, vì còn nhiều đường tiểu ngạch và lượng nấm tiêu thụ nội đòa
chưa kiểm soát nổi.
Trong những năm qua, tổng ngân sách nhà nước và các đòa phương đã đầu
tư hàng chục tỷ đồng cho việc nghiên cứu và triển khai sản xuất nấm mỡ ở các
tỉnh phía Bắc, song kết quả đạt được rất thấp. Nhiều đơn vò và cơ sở sản xuất
nấm thua lỗ làm mất vốn của Nhà Nước, chưa tạo được uy tín trên thò trường thế
giới, mặc dù tiềm năng để phát triển nghề này rất lớn.
Những nguyên nhân chưa thành công của nghề trồng nấm (đối với các
tỉnh phía Bắc) là :
+ Việc tổ chức sản xuất nấm của các đơn vò chuyên doanh về nấm còn
nhiều yếu kém, cụ thể :
-
Chất lượng giống nấm chưa đảm bảo từ khâu sản xuất đến quá trình
nuôi giống, bảo quản, cách sử dụng. Các loại giống nấm đã và đang được nuôi
trồng ở Việt Nam từ nhiều nguồn giống khác nhau. Một số giống nhập từ Hà
Lan, Đài Loan, Trung Quốc, Ý, Nhật Bản... Một số khác được sưu tầm trong
nước, song việc chọn lọc, kiểm tra để đánh giá tiềm năng về năng suất, chất
lượng của từng loại, từ đó để nhân giống đại trà phục vụ sản xuất hầu như chưa
có đơn vò nào đảm trách;
-
Khâu hướng dẫn nuôi trồng, chế biến nấm muối đạt chất lượng xuất
khẩu đến tận từng hộ gia đình không đầy đủ, do thiếu nhiều cán bộ và kỹ thuật
viên non kém. Đội ngũ cán bộ nghiên cứu và làm công tác kỹ thuật về nấm ăn
được đào tạo cơ bản tại các trường Đại học, có kinh nghiệm lâu năm, chuyên
Nấm rơm có tên khoa học là Volvariella volvacea là loại nấm ăn, thích
hợp với thời tiết nóng ẩm và được trồng nhiều ở các nước Châu Á, Đông Nam Á.
Nấm thường mọc trên rơm rạ nên có tên chung là nấm rơm ( Straw mushroom ),
là loại nấm ăn ngon, có hương vò hấp dẫn.
Các tỉnh Đồng bằng Sông Cửu Long và Miền Nam phát triển nghề trồng
nấm rơm rất nhanh. Sản lượng tăng theo cấp số nhân: từ trước năm 1990 mới đạt
con số vài trăm tấn/ năm, từ đầu đến giữa thập niên 90 đã đạt trên 100.000 tấn/
năm, chủ yếu là nấm rơm, còn lại một số ít là nấm mèo.
Năm 1989 Xí nghiệp Liên doanh chế biến thực phẩm MEKO, một trong
các xí nghiệp của Liên doanh với nước ngoài đầu tiên tại Cần Thơ đã phát triển
vùng nguyên liệu nấm rơm ở các tỉnh Đồng bằng Sông Cửu Long, Xí nghiệp
thành lập một cơ sở sản xuất nhân giống meo nấm rơm nguồn gốc từ meo giống
Đài Loan đưa ra tiêu thụ, đồng thời cử hàng trăm lượt cán bộ kỹ thuật xuống các
đòa bàn hướng dẫn kỹ thuật trồng nấm rơm cho nông dân. Phong trào trồng nấm
rơm phát triển mạnh tại Cần Thơ tập trung trên đòa bàn các huyện Ô Môn, Thốt
Nốt, Long Mỹ, Vò Thanh và một số xã ven thành phố Cần Thơ. Tỉnh Đồng Tháp
tập trung ở Huyện Lai Vung. Tỉnh Sóc Trăng tập trung ở các Huyện Mỹ Xuyên,
Long Phú , Thạnh Trò, Kế Sách. Tỉnh Kiên Giang tập trung ở huyện Tân Hiệp.
Tỉnh Vónh Long tập trung ở các Huyện Bình Minh, Vũng Liêm, Cầu Kè. Tỉnh
Trà Vinh tập trung ở huyện Trà Cú. Với phong trào trồng nấm lan nhanh từ một
số nông dân được hướng dẫn kỹ thuật, những người khác được hướng dẫn kinh
nghiệm lẫn nhau, meo giống từ Xí nghiệp MeKo với công suất bình quân 35.000
bọc meo giống/ ngày và các cơ sở meo giống ở Vónh Long như Meo 52, Meo 55
cũng không đủ cung cấp giống cho thò trường. Nhiều cơ sở sản xuất meo giống ra
đời như Meo Thần Nông, Meo 4 Sài Gòn, Meo Công Nông, Meo 3 Chánh, Meo
2N , Meo ATK, Meo TSC, Meo Cần Thơ, Mekong, Meo 93, Meo 135, Meo
Thắng Lợi, Meo Khuyến Nông, Meo 999, Meo Phong Phú ... ở đòa bàn Cần Thơ.
Meo 4N (Sóc Trăng). Meo số 2, Meo 87, Meo Cửu Long (Vónh Long). Sản lượng
làm ăn thua lỗ lần lượt giải thể.
Hiện nay đòa bàn trồng nấm ở các tỉnh đã thu hẹp, như : tại Cần Thơ chỉ
còn ở Huyện Thốt Nốt , Long Mỹ. Tỉnh Sóc Trăng còn ở huyện Thạnh Trò. Tỉnh
Đồng Tháp còn ơ’ Huyện Lai Vung v.v… Tiềm năng cung cấp nấm rơm của vùng
ĐB.SCL còn rất lớn nhưng chưa được đánh thức.
2.2 Điều kiện tự nhiên, và các nguồn lực chủ yếu về tác động đến phát triển
nghề trồng nấm rơm ở ĐBSCL :
2.2.1 Vò trí đòa lý
ĐBSCL rộng 39.574.500 ha, bằng 12% tổng diện tích Việt Nam. Nếu so
với đồng bằng Sông Hồng (một châu thổ được bồi đắp lại lần thứ hai vào thời kỳ
đồ đá mới, cách đây khoảng vài chục ngàn năm). ĐBSCL có tuổi thành tạo xưa
hơn nhiều- ít nhất cũng cách nay hàng chục triệu năm.
ĐBSCL thể hiện tập trung những tính chất của một bán đảo nằm trong
vùng gió mùa nhiệt đới cận xích đạo, là một vùng rất đa dạng về sinh thái và
những điều kiện về thiên nhiên vẫn thường xuyên biến đổi. Tính đa dạng về
thiên nhiên của tiểu vùng này là cơ sở thuận lợi cho sự phát triển của các ngành
nghề khác trong nông nghiệp, như : nuôi trồng và đánh bắt thuỷ hải sản, chăn
nuôi, trồng rừng và thu lượm các đặc sản từ rừng.
2.2.2 Khí hậu thủy văn.
Không giống như những tam giác châu khác, ĐBSCL có hình thể một bán
đảo, ba mặt đều giáp biển, chòu tác động của các hệ thống biển và chế độ thuỷ
triều khác biệt nhau- ở phía tây với vònh Thái Lan, và ở phía đông với biển
Đông. Có đến 90% lượng mưa hàng năm tập trung vào các tháng mùa mưa.
ĐBSCL là vùng duy nhất của cả nước rất ít chòu tác động trực tiếp của bão.
Nằm trong vùng nhiệt đới cận xích đạo, khí hậu ở đây nóng ấm quanh
năm. Nhiệt độ trung bình trong năm khoảng 270 C cao nhất không quá 350C,
thấp nhất không dưới 250 C. Tổng số giờ nắng trong năm cao, khoảng 2.4002.800 giờ. Lượng bức xạ dồi dào và gần như được trải đều quanh năm ( cao nhất
m độ
60 –70 %
7 + 5%
80-100%
90+ 5%
PH
6-7
6,5
6-7
6,5
NẤM MÈO :
YẾU TỐ
Nuôi ủ tơ nấm
Ra quả thể
Nhiệt độ
25 – 320C
cho tăng trưởng tơ
hợp ra nấm
phép sản xuất
P.cortinatus
27 – 320C
280C
30 + 50C
P.cystidiosus
27 – 320C
25 - 280C
30 + 20C
350C
28 –300C
-
P.tuber-regium
hoạt động sản xuất của hộ nông dân ở vùng này bao gồm nhiều loại hình như :
nuôi cá, làm vườn, trồng lúa, và làm các ngành nghề khác. Do có sự đònh hướng
chuyển đổi cơ cấu cây trồng nên loại hình canh tác khá đa dạng, đan xen, phá
thế độc canh cây lúa, chuyển sang nghề khác trong đó có nghề trồng nấm rơm,
làm vườn, nuôi cá . Các hộ trồng lúa tham gia trồng nấm chiếm 78,3%, kế đến là
nghề khác chiếm 48,6%, đứng hàng thứ 3 là làm vườn 32,4%, nuôi cá đứng hàng
thứ 4 là 10,3%.
Nếu ta so sánh các loại hình canh tác giữa các đòa bàn trên thì : tỉnh Cần
Thơ tập trung ở hộ trồng lúa kết hợp trồng nấm chiếm đa phần 70%, nghề khác
chỉ bằng ½ số hộ trồng lúa chiếm 39,4%, làm vườn chiếm 25,5%, nghề nuôi cá
chỉ tham gia trồng nấm 10,2%. Sự phân bố các loại hình canh tác này không
đồng đều trong đó hộ trồng lúa cao hơn hộ nuôi cá là 59,8% . Điều nầy cho thấy
người dân ở tỉnh Cần Thơ ngoài việc trồng lúa ra còn quan tâm đến các nghề
khác như : trồng nấm, chăn nuôi, …
Bảng 4 : Tình hình sử dụng đất trồng nấm.
Đất canh tác
Tần số
Phần trăm (%)
Nền đất nhà
177
68,3
Nền đất mướn lưu động
dồi dào, với diện tích lúa cả năm là 3.789.327 ha. Nếu lấy mức tối thiểu 1 ha lúa
cung cấp ra 1 tấn rơm rạ, ĐBSCL hằng năm sẽ cung cấp gần 4 triệu tấn rơm rạ,
chưa kể đến nguồn bã mía của các nhà máy đường. Nếu chỉ sử dụng khoảng
50% số nguyên liệu để trồng nấm có thể thu được 200.000 tấn nấm thương phẩm
mỗi năm ( chỉ tính mức thu khoảng 10% trên nguyên liệu)
Hiện nay người dân trồng nấm được cung cấp nguyên liệu từ nhiều cách
khác nhau như : sử dụng rơm nhà hoặc xin, người chở rơm về bán, tự đi mua nơi
khác chở về .
Bảng 5 : Nguồn rơm sử dụng trồng nấm
Nguồn rơm
ĐVT : %
Tỉnh Cần
Thơ
Đồng
Tháp
Vónh
Long
Tự đi mua từ nơi khác chở về
38,6
15,9
hộ nào không trồng nấm thì bán rơm lại với mức giá trung bình 10.000 đến
15.000 đồng/công . Người trồng nấm ở Vónh Long thường sử dụng rơm nhà hoặc
rơm xin chiếm 49,4%, còn các nguồn rơm còn lại không đáng kể chiếm tỷ lệ
thấp từ 1,1 % đến 17,8% .
Tóm lại : Qua bảng 5 cho ta thấy việc sử dụng nguồn rơm trồng nấm ở 3
tỉnh phần lớn là mua rơm, rơm nhà thì rất ít . Tuy nhiên, chi phí đầu tư đối rơm
để sản xuất chiếm 50% tổng chi phí. Điều này ảnh hưởng rất lớn đến lợi nhuận
của các hộ trồng nấm . Nếu sử dụng nguồn rơm nhà hoặc rơm xin, mức lợi nhuận
sẽ cao hơn.
2.2.5. Dân số và nguồn lao động.
Theo số liệu thống kê năm 2002 tổng nhân khẩu từ đủ 15 tuổi trở lên của
ĐBSCL là 12.332.787 người, dân số trong độ tuổi lao động là 10.657.042 người.
Trong đó lao động ở khu vực thành thò là 2.031.689 người ( 19,06%), khu vực
nông thôn 8.625.353 người (80,93%). Với nguồn lao động dồi dào nhưng phần
lớn có chất lượng thấp và chủ yếu hoạt động trong lónh vực nông nghiệp.
Đến tháng 7 năm 2003 ĐBSCL còn khoảng 330.000 hộ nghèo, chiếm
khoảng 9,4% tổng số hộ dân trong vùng. Tình hình thiếu việc làm và thất nghiệp
ở khu vực thành thò và nông thôn ĐBSCL còn khá lớn và thời gian nông nhàn
của nông dân nếu tính gộp lại thì cũng không nhỏ.
Bảng 6 : Tình trạng việc làm trong 7 ngày qua của dân số đủ 15 tuổi trở lên
hoạt động kinh tế (đủ việc làm, thiếu việc làm, thất nghiệp) ở vùng ĐBSCL
năm 2002.
Tình trạng
KHU VỰC
Tổng số
Thành thò (người)
121.898
Tỷ lệ %
100,00
87,54
10,80
1,67
Trình độ văn hoá và chuyên môn kỹ thuật thấp : một trong những hạn chế
lớn nhất của cư dân ĐBSCL là trình độ dân trí thấp. Nhóm dân cư có trình độ
văn hoá thấp ở ĐBSCL cao hơn nhiều so với cả nước, trong khi đó nhóm dân cư
có trình độ văn hoá cao là những người đã tốt nghiệp phổ thông trung học hoặc
cao đẳng-đại học trở lên thì chỉ bằng 1/3 so với mặt bằng chung cả nước.
Bảng 7: Trình độ lao động trong nghề trồng nấm theo số liệu điều tra3tỉnh.
Trình Độ
Không biết đọc viết
Tần số
Tỉ lệ Phần trăm (%)
8
người học được cấp 3 quả là hiếm gần 10% . Đặc biệt còn có trường hợp mù chữ
vẫn còn chiếm tỷ lệ cao là 3,2% .
Với những con số thống kê trên, ta thấy rằng trình độ dân trí chắc chắn
cũng có ảnh hưởng ít nhiều đến hoạt động sản xuất nông nghiệp nhất là sự ứng
dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất .
Phần lớn các vùng có trình độ dân trí thấp của ĐBSCL là các vùng có
đông đảo các cộng đồng dân tộc thiểu số sinh sống. Tình trạng thất học và học
thấp là những trở ngại lớn trong quá trình hội nhập xã hội, cũng như việc tìm
kiếm những cơ hội để nâng cao đời sống của các cộng đồng dân tộc thiểu số.