Một số giải pháp xử lý và ngăn ngừa nợ tồn đọng của các ngân hàng thương mại trên địa bàn tỉnh cần thơ - Pdf 47

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM

PHAN THỊ BẠCH CÚC

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP. Hồ Chí Minh – Năm 2003


MỞ ĐẦU
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Trong đời sống kinh tế hàng ngày, rủi ro thông thường được coi là những
bất trắc, những biến cố không có lợi, ngoài sự mong đợi. Rủi ro nhiều khi mang
lại những hậu quả không lường. Vì vậy, người ta thường tìm nhiều cách để
phòng ngừa, hạn chế rủi ro đến mức thấp nhất. Hoạt động kinh doanh nói chung
cũng như hoạt động ngân hàng nói riêng cũng không thể tránh khỏi rủi ro. Quá
trình mở rộng kinh doanh cũng là quá trình mở rộng rủi ro. Hoạt động kinh
doanh ngân hàng, nhất là hoạt động tín dụng cũng không thoát khỏi qui luật
này. Trong thực tế hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại nước ta,
hoạt động tín dụng có vai trò chủ yếu (chiếm 98%), các hoạt động dòch vụ khác
chưa phát triển , nên rủi ro trong hoạt động ngân hàng phần lớn là rủi ro tín
dụng. Chính vì thế, vấn đề tồn tại và bức xúc nhất hiện nay trong hoạt đôïng
ngân hàng là nợ tồn đọng và làm thế nào để hạn chế thấp nhất rủi ro tín dụng.
Sự đổ vỡ của hàng loạt các hợp tác xã tín dụng trước đây và các vụ án
kinh tế lớn trong những năm gần đây ở nước ta đều bắt nguồn từ hoạt động tín
dụng yếu kém của các ngân hàng thương mại. Theo ước tính của Ngân hàng Nhà
nước Việt Nam các khoản nợ tồn đọng trong ngành ngân hàng hiện lên tới
19.500 tỷ đồng, chiếm 11% tổng dư nợ tín dụng, trong đó khoảng 66,7% số nợ
tồn đọng là các khoản cho vay không thế chấp, nhiều khoản nợ tồn đọng mặc dù

hàng thương mại trên đòa bàn.
4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU


Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghóa
duy vật biện chứng và chủ nghóa duy vật lòch sử kết hợp với các phương pháp
phân tích thống kê và so sánh.

5. BỐ CỤC LUẬN VĂN

Luận văn bao gồm những phần như sau:
-

Lời mở đầu

-

Chương 1: Những vấn đề chung về hoạt động tín dụng của ngân hàng
thương mại.

-

Chương 2: Thực trạng nợ tồn đọng của các ngân hàng thương mại trên
đòa bàn tỉnh Cần thơ.

-

Chương 3: Một số giải pháp chủ yếu để xử lý và ngăn ngừa nợ tồn
đọng
của các ngân hàng thương mại trên đòa bàn tỉnh Cần thơ

dưới hình thái tiền tệ hoặc dưới hình thái hiện vật như hàng hóa, máy móc,
thiết bò, bất động sản...
- Người đi vay chỉ được sử dụng tạm thời trong một thời gian nhất đònh.
Sau khi hết thời hạn sử dụng theo thỏa thuận, người đi vay phải hoàn trả cho
người cho vay.
- Giá trò được hoàn trả thông thường lớn hơn giá trò lúc cho vay, hay nói
cách khác người đi vay phải trả thêm phần lợi tức.


Nhờ có hoạt động tín dụng mà một bộ phận lớn vốn của xã hội dưới
dạng hiện kim hoặc hiện vật được vận động từ nơi tạm thời dư thừa sang nơi
thiếu để đáp ứng các nhu cầu khác nhau của các chủ thể trong nền kinh tế.
Trong hoạt động thực tiễn, quan hệ tín dụng được hình thành hết sức đa
dạng và có đủ các loại chủ thể tham gia vào các quan hệ tín dụng, cụ thể như:
- Quan hệ giữa Nhà nước với các doanh nghiệp và công chúng: thể hiện
dưới hình thức nhà nước phát hành các giấy nợ như công trái, trái phiếu đô thò,
tín phiếu kho bạc...
- Quan hệ tín dụng giữa các doanh nghiệp với nhau: thể hiện dưới hình
thức bán chòu hàng hóa với nhau...
- Quan hệ tín dụng giữa các doanh nghiệp với công chúng: thể hiện dưới
các hình thức phát hành các loại trái phiếu, bán hàng trả góp...
- Quan hệ tín dụng giữa các ngân hàng, các tổ chức tài chính phi ngân
hàng với các doanh nghiệp và công chúng: thể hiện dưới hình thức nhận tiền
gửi của khách hàng, cho khách hàng vay, tài trợ thuê mua...
- Quan hệ tín dụng giữa Nhà nước với các tổ chức tài chính quốc tế,
Chính Phủ các nước: thể hiện dưới hình thức vay nợ...
1.2. VAI TRÒ CỦA TÍN DỤNG NGÂN HÀNG:
Trong điều kiện kinh tế của nước ta hiện nay, tín dụng ngân hàng có các
vai trò sau:
1.2.1. Tín dụng góp phần thúc đẩy sản xuất lưu thông hàng hóa phát



thác các tiềm năng sẳn có trong xã hội về tài nguyên thiên nhiên, về lao động,
đất, rừng, … do đó có thể thu hút nhiều lực lượng lao động của xã hội, tạo ra lực
lượng sản xuất mới, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Và một xã hội phát triển lành
mạnh, đời sống được ổn đònh, ai cũng có công ăn việc làm … đó là tiền đề quan
trọng để ổn đònh trật tự xã hội.
1.2.4. Tín dụng ngân hàng tạo điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế
nước ngoài.
Sự phát triển của tín dụng không những ở trong phạm vi quốc nội mà
còn mở rộng ra cả phạm vi quốc tế, nhờ đó nó thúc đẩy mở rộng và phát triển
các quan hệ kinh tế đối ngoại nhằm giúp đỡ và giải quyết các nhu cầu lẫn nhau
trong quá trình phát triển đi lên của mỗi nước, làm cho các nước có điều kiện
xích lại gần nhau hơn và cùng nhau phát triển.
1.3. NHỮNG RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN
HÀNG THƯƠNG MẠI
Rủi ro trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại về cơ bản
có thể chia ra thành hai loại:
1.3.1. Rủi ro đặc thù:
Đây là loại rủi ro do bản chất của ngành hay của lónh vực hoạt động tạo
ra. Trong lónh vực ngân hàng, rủi ro đặc thù thường bao gồm:
- Rủi ro về quản lý: Đây là loại rủi ro xảy ra trong hoạt động sử dụng
nguồn nhân lực bên trong ngân hàng. Rủi ro này có thể bắt nguồn từ ban quản
lý ngân hàng do thiếu kinh nghiệm, thiếu kiến thức hoăïc thiếu khả năng điều
hành. Ngoài ra, rủi ro còn có thể xảy ra do sự yếu kém về năng lực hay đạo
đức của nhân viên ngân hàng.


- Rủi ro về nghiệp vụ: Bao gồm rủi ro về hoạt động, rủi ro về sản phẩm,
rủi ro về văn hóa, rủi ro về công nghệ, rủi ro đòn cân nợ và rủi ro do thiếu nỗ

động của thò trường như rủi ro về lãi suất, tỷ giá… Trong đó rủi ro tín dụng là
loại rủi ro được đặc biệt quan tâm.
Rủi ro trong hoạt động tín dụng là tình trạng người đi vay không có khả
năng hoàn trả được lãi hoặc gốc hay cả hai.
1.4. N TỒN ĐỌNG TRONG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG
1.4.1. Quan điểm và cách phân loại nợ của các nước Đông Á.
Theo đánh giá của các Công ty chuyên đánh giá, xếp loại ngân hàng,
các số liệu thống kê về nợ tồn đọng của Chính Phủ các nước Đông Á đều
không chính xác là do các nước Đông Á đưa ra đònh nghóa rất hạn hẹp về nợ
tồn đọng, các tiêu thức phân loại không đồng nhất, lỏng lẻo và chủ yếu dựa
vào thời gian. Do đó thực tế số nợ tồn đọng sẽ lớn hơn gấp nhiều lần so với số
liệu được công bố. Điển hình như:
- Nhật Bản: Bộ tài chính chỉ yêu cầu các Ngân hàng áp dụng 3 tiêu chí
phân loại nợ: (1) các khoản cho vay đối với khách hàng đã bò phá sản; (2) các
khoản nợ phải trả lãi đã quá hạn 180 ngày; và (3) các khoản cho vay được xem
xét giảm lãi cho các khách hàng đang gặp khó khăn.
- Trung Quốc: tương tự như ở Nhật Bản, cho đến năm 1998 Trung Quốc
vẫn áp dụng tiêu thức phân loại theo thời hạn nợ và được chia làm 3 loại:
+ Các khoản nợ quá hạn: là các khoản nợ quá hạn 3 tháng


+ Các khoản nợ đáng lo ngại: là các khoản nợ trên 3 tháng đến
dưới 24 tháng.
+ Các khoản nợ xấu: là các khoản nợ trên 24 tháng
Với quan điểm và cách phân loại như trên không phản ảnh hết được
những khoản nợ đang có vấn đề nguy cơ trở thành nợ không có khả năng thu
hồi trong tương lai và như thế các khoản nợ được coi là nợ có khả năng sinh lời
ngay cả khi người đi vay đang lâm vào tình trạng khó khăn không có khả năng
trả nợ, thậm chí đã phá sản. Để khắc phục những nhược điểm này, đồng thời
để phát hiện sớm những dấu hiệu rủi ro, đến nay hầu hết các nước đều xây

những khó khăn có thể đe dọa đến tình trạng trả nợ. Trong giai đoạn hiện tại
chưa có thể dự đoán được khoản lỗ vốn cuối cùng nhưng nó có thể xảy ra nếu
như các điều kiện bất lợi vẫn tiếp tục kéo dài. Các khoản vay này biểu lộ một
hay nhiều những đặc điểm sau:
- Những dấu hiệu sớm của tình trạng khó khăn về khả năng thanh
toán như trì hoãn trả lãi cho các khoản vay.
- Thông tin không đầy đủ về khoản cho vay chẳng hạn như ngân
hàng không nhận được các báo cáo tài chính hàng năm đã được kiểm toán.
- Điều kiện về tài sản thế chấp và việc kiểm soát tài sản thế chấp
đáng lo ngại.
- Ngân hàng không nhận được các tài liệu xác thực hoặc không
nhận được sự hợp tác của người đi vay hoặc gặp khó khăn trong việc giữ liên
lạc với người đi vay.


- Sự giảm sút trong kinh doanh hoặc xu hướng bất lợi trong các
hoạt động của người đi vay báo hiệu một khả năng yếu kém về sức mạnh tài
chính của người đi vay nhưng chưa tới mức gây nguy hiểm cho việc trả lãi của
khoản vay.
- Sự bất ổn về kinh tế hoặc các điều kiện thò trường có thể tác
động tiêu cực đến người đi vay trong tương lai.
- Lónh vực, ngành hoạt động của người đi vay đang hoạt động
không thuận lợi.
- Người đi vay hoặc người điều hành chính của công ty đang trong
tình trạng sức khỏe không tốt.
- Người đi vay đang là đối tượng của sự tranh chấp mà sự tranh
chấp này có tác động quan trọng đến tình hình tài chính của người đi vay.
1.4.1.3. Khoản vay dưới tiêu chuẩn (second rate/substandard):
Đây là những khoản vay mà người đi vay biểu hiện một sự yếu kém có
thể sẽ gây nguy hiểm cho việc trả nợ. Tổ chức tín dụng lúc này phải dựa chủ

không biết được nơi ở hiện tại của người đi vay.
1.4.1.5. Khoản vay mất trắng (lost):
Đây là những khoản vay được coi là không thể thu hồi sau khi đã thực
hiện hết mọi nổ lực thu nợ như bán tài sản thế chấp, tiến hành các thủ tục pháp
lý . . .


@ Ba loại nợ sau cùng được xếp vào nợ tồn đọng.
1.4.2. Quan điểm và cách phân loại nợ của Việt Nam trước và sau khi
có quyết đònh 149/2001/QĐ-TTg ngày 05/10/2001 của Thủ tướng Chính Phủ
“v/v phê duyệt Đề án xử lý nợ tồn đọng của các ngân hàng thương mại”:
1.4.2.1. Trước thời điểm có quyết đònh 149/2001/QĐ-TTg
Theo quan điểm trước đây các ngân hàng thương mại cho rằng nợ tồn
đọng là những khoản nợ quá hạn trên 360 ngày đã quá lâu, hầu như khả năng
thu hồi nợ gốc rất ít, nguy cơ mất trắng lớn và được xác đònh đưa vào diện nợ
chờ xử lý và nợ khoanh (kể cả có tài sản hay không có tài sản đảm bảo).
1.4.2.2. Sau khi có Quyết đònh 149/2001/QĐ-TTg
1.4.2.2.1. Một số nội dung cơ bản của Quyết đònh 149/2001/QĐ-TTg
- Phạm vi: Phạm vi xử lý nợ tồn đọng là các khoản nợ của các Ngân
hàng thương mại còn dư nợ đến thời điểm 31/12/2000. Việc xử lý các khoản nợ
tồn đọng của các NHTM sau thời điểm ngày 31/12/2000 được thực hiện theo
các quyết đònh hiện hành.
- Đối tượng: đối tượng được xử lý nợ tồn đọng là các Ngân hàng thương
mại Nhà nước, Ngân hàng thương mại Cổ phần của Nhà nước và Nhân dân.
- Phân loại chi tiết nợ tồn đọng:
+ Nhóm I: Nợ tồn đọng có tài sản đảm bảo, bao gồm nợ tồn đọng
ngân hàng đã thu giữ tài sản, nợ tồn đọng ngân hàng chưa thu giữ tài sản.
+ Nhóm II: Nợ tồn đọng không có tài sản đảm bảo, không còn đối
tượng để thu.
+ Nhóm III: Nợ tồn đọng không có tài sản đảm bảo nhưng con nợ


-

Nợ chờ xử lý có tài sản bảo đảm liên quan đến vụ án.

-

Nợ trả thay trong bảo lãnh, tái bảo lãnh.

-

Các khoản nợ quá hạn (trừ dư nợ cho vay theo chương trình
EC)

-

Dư nợ quá hạn cho vay các tổ chức tín dụng.


-

Các khoản nợ đang theo dõi ở các khoản phải thu do ngân

hàng đã nhận tài sản để sử dụng nhưng chưa được cấp nguồn, nợ ngân hàng đã
xiết nợ trước đây còn hạch toán ở khoản phải thu…
-

Những khoản nợ đã được xóa nợ, xử lý rủi ro đang theo dõi dư

nợ ở tài khoản ngoại bảng.

1.5.1. Kinh nghiệm của Thái Lan:
Hiện nay, ở Thái lan vẫn còn nhiều ngân hàng đang sa lầy trong khối nợ
tồn đọng khổng lồ. Đã có nhiều Cty có khả năng mua các khoản nợ này nhưng
vấn đề mấu chốt đó là giá cả. Ngân hàng Thái Danu gần đây đã bán ra một
khối lượng tài sản nợ tồn đọng với giá danh nghóa là 31 tỷ Baht (756 triệu
USD) chỉ với
giá là 8 tỷ Baht, bằng 26% so với giá trò danh nghóa. Hiện nay giá trò danh
nghóa của các khoản nợ tồn đọng của các ngân hàng Thái Lan rất lớn, nhưng
giá trò thực của chúng ngày càng giảm do việc đònh giá lại giá trò tài sản và sự
chênh lệch này
lớn hơn khoản dự phòng các ngân hàng đã trích cho các khoản nợ tồn đọng.
Thực tế ở Thái chỉ có NHTM mạnh nhất là NHTM Siam giải quyết được nợ tồn
đọng, còn các ngân hàng khác thì hầu như không có đủ vốn để chòu được các
khoản lỗ khi xử lý nợ. Riêng Ngân hàng Danu, xử lý được nợ tồn đọng của
mình là nhờ sự hậu thuẫn mạnh mẽ của Ngân hàng mẹ DBS Singapore.
Thực tế ở Thái Lan cho thấy, các ngân hàng phải quyết đònh liệu có nên
bán các khoản nợ tồn đọng với giá trò thấp hơn trên thò trường và chấp nhận lỗ
với tỷ lệ 60%-70% và sau đó phục hồi khả năng sinh lời. Một cách khác là
Chính Phủ thành lập một Công ty quản lý nợ tồn đọng của Chính Phủ để trực


tiếp tiếp nhận các khoản nợ tồn đọng này và từng nhóm các khoản nợ tồn đọng
sẽ được lựa chọn, lên danh sách để xử lý.
1.5.2. Kinh nghiệm của Trung Quốc:
Những năm gần đây, tỷ lệ nợ khó đòi của các NHTM Nhà nước Trung
Quốc luôn cao hơn mức cho phép. Năm 1995, tỷ lệ nợ khó đòi là 21,4%, đến
năm 2000 tỷ lệ này lên 29%. Năm 2001, mặc dù có nhiều cố gắng song tỷ lệ
này vẫn là 25,4%. Chính vì vậy nhằm xử lý nợ khó đòi, Trung Quốc đã áp dụng
nhiều giải pháp như:
- Hoàn thiện các bộ luật, văn bản pháp quy về tiền tệ, phát hành trái

ngừa và xử lý một cách triệt để nhằm nâng cao năng lực tài chính, lành mạnh
hóa tài chính ngân hàng.
Với những lý luận cơ bản nêu trên, chúng ta hãy đi vào đánh giá thực
trạng hoạt động và phân tích nguyên nhân nợ tồn đọng cũng như tiềm ẩn rủi ro
tín dụng của hệ thống NHTM Tỉnh Cần Thơ ở chương tiếp theo.


CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG N TỒN ĐỌNGCỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG
MẠI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH CẦN THƠ.

2.1. HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH
CẦN THƠ
Cần Thơ là tỉnh trung tâm của vùng Đồng bằng Sông Cửu Long, có sản
lượng lương thực, sản lượng gạo xuất khẩu, kim ngạch xuất khẩu lớn nhất trong
vùng. Cùng với các lợi thế khác về điều kiện tự nhiên – kinh tế – xã hội, Cần
Thơ trở thành đòa bàn hoạt động ngân hàng hấp dẫn nhất, thực sự sôi động và
có qui mô đứng đầu so với những tỉnh khác ở Đồng bằng sông Cửu long.
Đến cuối năm 2002, ngoài Chi nhánh Ngân hàng Nhà nước làm nhiệm
vụ quản lý nhà nước, trên đòa bàn tỉnh đã có 17 NHTM và chi nhánh NHTM
hoạt động, bao gồm:
- 6 Chi nhánh Ngân hàng thương mại quốc doanh: Chi nhánh Ngân hàng
Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Ngân hàng Công thương, Ngân hàng
Ngoại thương, Ngân hàng Đầu tư và Phát triển, Ngân hàng Phát triển nhà Đồng
bằng Sông Cửu Long, Ngân hàng phục vụ người nghèo (thật chất đây là ngân
hàng chính sách và chính thức đã chuyển thành Ngân hàng chính sách vào đầu
năm 2003)
- 6 Chi nhánh Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đô thò: Chi nhánh Ngân
hàng Hàng hải, Ngân hàng Xuất nhập khẩu, Ngân hàng Á châu, Ngân hàng
Đông Á, Ngân hàng Sài gòn Công thương và Ngân hàng Sài gòn Thương Tín.

liệu thể hiện qua các năm như sau:

Bảng 1:

KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH
ĐVT: triệu đồng
Chỉ tiêu

Năm

Năm

Năm

Năm

1999

2000

2001

2002

364,930

381,123

426,168


51,887

90,581

92,768

118,337

Lợi nhuận trước thuế đã trích DPRR

51,887

76,895

34,868

- 4,597

1- Tổng thu nhập
Trong đó thu về hoạt cho vay
2- Tổng chi phí

(Nguồn: NHNN tỉnh Cần Thơ )
Nhìn chung, mặc dù các ngân hàng ngày càng đa dạng hóa sản phẩm
dòch vụ, kết quả hoạt động kinh doanh có tăng giảm qua các năm song thu nhập
chính của các NHTM vẫn là thu từ hoạt động tín dụng. Trong đó, nghiệp vụ
huy động vốn đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp nguồn vốn cho hoạt
động tín dụng và do đó chi phí cho hoạt động huy động vốn cũng chiếm phần
lớn trong tổng chi phí của NHTM. Từ kết quả bảng 1, có thể nói rằng vai trò
hoạt động tín dụng đối với các ngân hàng thương mại trên đòa bàn tỉnh Cần Thơ

thống NHTM trên đòa bàn, ta hãy đi sâu vào phân tích tình hình hoạt động tín
dụng 4 năm gần nhất.


2.2.2. Hoạt động tín dụng
Hoạt động tín dụng của các Ngân hàng thương mại trên đòa bàn tỉnh Cần
thơ tăng trưởng cao và liên tục. Tuy nhiên, chất lượng tín dụng còn rất nhiều
hạn chế.
2.2.2.1. Tình hình tăng trưởng tín dụng:
Bảng 2 :

TÌNH HÌNH CHO VAY
ĐVT: Tỷ đồng

Chỉ tiêu

Tổng dư nợ

Năm

Năm

Năm

Năm

1999

2000



4,051

34.40

4.82

22.41

2/ Dư nợ trung hạn

304

601

1,032

1,500

97.58

71.61

45.37

3/ Dư nợ dài hạn

300

320

601

1032

3157

3309

1500

300
304

2000

4051

2349
1000
0
1999

2000

DN ngắ n hạ n

2001

DN trung hạ n


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status